DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Ban Chấp hành Trung ương
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hoá
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cơ cấu kinh tế
Giá trị gia tăng
Giá trị sản xuất
Hiện đại hóa
Khoa học và công nghệ
Khoa học kỹ thuật
Kinh tế tri thức
Kinh tế - xã hội
Tiểu thủ công nghiệp
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
BCHTƯ
CNXH
CNH
CNH, HĐH
CCKT
GTGT
GTSX
HĐH
KH&CN
KHKT
KTTT
KT-XH
27
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
2.1.
38
Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An
về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
2.2.
nông thôn (2006 - 2010)
38
Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nhiệp, nông thôn (2006 - 2010)
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
3.1.
Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công
3.2.
47
62
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (2001- 2010)
62
Nghệ An là một trong 63 tỉnh thành của cả nước đang trong quá trình đẩy
mạnh CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng.
Quá trình đó đã đạt được những kết quả khá quan trọng: tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân trong 5 năm (2001 - 2005) đạt 5,5 - 6 %, trong 5 năm (2006 - 2010) đạt
5 - 6 %; giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích tăng cao; cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
động nông nghiệp nông thôn có bước chuyển dịch theo hướng tích cực; cơ giới
hóa nông nghiệp đang từng bước mang lại hiệu quả to lớn; máy móc hiện đại đang
từng bước thay thế lao động thủ công trong quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở Nghệ An
cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém như: cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn
chuyển dịch chậm; sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân tán, manh
mún, mang nhiều yếu tố tự phát; ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào
sản xuất chậm; trình độ khoa học, công nghệ của sản xuất còn lạc hậu; lao
động thủ công còn phổ biến, lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp...
Tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự
phát triển KT-XH của tỉnh Nghệ An theo hướng nhanh, bền vững, phát triển
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là một trong những vấn đề có tầm quan
trọng đối với Nghệ An. Vì vậy, việc nghiên cứu CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở tỉnh Nghệ An là vấn đề có tính cấp thiết cả về lý luận và thực
tiễn. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công
3
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm
2010” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và phát triển CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã có một số
công trình nghiên cứu vấn đề này và được công bố dưới dạng sách, kỷ yếu, đề tài
Các công trình khoa học trên đã đi sâu nghiên cứu làm rõ sự lãnh đạo
của Đảng trước yêu cầu khách quan của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp
nông thôn ở nước ta. Đồng thời khẳng định vai trò của nông nghiệp, nông
thôn trong phát triển đất nước; nêu lên một số xu hướng biến đổi, vận động
của kinh tế nông nghiệp, nông thôn của nước ta trong những năm đầu thế kỷ
XXI; làm rõ nội dung, chủ trương, giải pháp chủ yếu về CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn; nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn dưới khía cạnh lao
động và tạo việc làm ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, sử
dụng và quản lý tài nguyên đất và nước, sự phân tầng xã hội và việc xoá đói,
giảm nghèo trong điều kiện mới; tổng kết sự lãnh đạo của Đảng về đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn từ năm (2001- 2010);
rút ra những kinh nghiệm chủ yếu trong qua trình Đảng lãnh đạo sự công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; cung cấp một số tư liệu
tham khảo về lĩnh vực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
trong tình hình hiện nay.
* Nhóm các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí:
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn” của Hải
Đăng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân (Số 03/1998); “Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn” của Lê Bá Thăng, Thông tin chuyên đề khoa
học Công nghệ & Môi trường - Tổng cục chính trị (số 59/1998); “Phát triển
công nghiệp nông thôn - mấu chốt trong chiến lược phát triển nhanh và bền
vững nông nghiệp, nông thôn” của Nguyễn Đình Bích, Tạp chí Cộng sản (số
17/ 2003); Ngô Văn Giang “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn theo yêu cầu rút ngắn ở nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số
5
303/2003); Dương Tùng “Phương pháp tiếp cận vấn đề nông thôn nước ta”,
Tạp chí Cộng sản (số 02/2005); Ngô Đức Thịnh “tiếp cận nông thôn Việt
học, Hà Nội, 2000; Nguyễn Thị Tuyết Nhung “Một vài suy nghĩ về vấn đề
nông dân trong xây dựng chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Luận văn thạc sỹ Triết học, Hà Nội,
1995. Trong luận văn, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về vai trò nông nghiệp
nông thôn trong xây dựng nền kinh tế - xã hội hiện nay; bước đầu đi nghiên
cứu sự phân hoá giàu nghèo, đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam trong
giai đoạn tiếp theo, trình bày một số phương hướng đưa giai cấp nông dân
Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các đề tài này tuy bàn
đến đối tượng là nông dân nhưng chưa đi sâu vào vai trò của nông dân cũng
như việc phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá trong nông nghiệp nông thôn.
Những công trình khoa học nêu trên đã đề cập cơ sở lý luận và thực tiễn
của quá trình đổi mới toàn diện đất nước về lý luận và thực tiễn trong tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn hiện nay.
Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách đầy đủ, có hệ thống về
chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn ở tỉnh dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010; qua đó rút ra một số kinh
nghiệm có thể tham khảo, vận dụng vào thời kỳ mới.
Nhiệm vụ
Làm rõ yêu cầu khách quan về CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở
Nghệ An trong những năm 2001 - 2010.
Phân tích, luận giải chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010.
Đánh giá nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh
Nghệ An lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010.
2010. Làm sáng tỏ sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong
8
lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Những kinh nghiệm rút ra có ý
nghĩa tham khảo, vận dụng vào giai đoạn hiện nay.
Đề tài là nguồn tư liệu để các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức
chính trị - xã hội ở tỉnh Nghệ An tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong lãnh đạo
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ mới. Luận văn có thể làm
tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và nghiên cứu bộ môn Lịch sử Đảng ở
các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm có 3 chương (6 tiết).
9
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN
VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP
NÔNG THÔN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh
đạo công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (2001 - 2005)
1.1.1. Yêu cầu khách quan về lãnh đạo phát triển công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Nghệ An
* Vị trí, vai trò công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Kinh tế nông nghiệp nông thôn có vị trí vai trò quan trọng đối với sự
hành hoạt động sản xuất nông nghiệp. Phát triển kinh tế nông nghiệp còn
đóng vai trò quan trọng trong tích lũy vốn ban đầu cho CNH, HĐH cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp.
Kế thừa và phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng ghen,
V.I.Lênin đã vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của nước Nga
sau khi cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, đất nước bước vào thời kỳ
quá độ đi lên CNXH. V.I.Lênin luôn đánh giá cao vai trò của nông nghiệp
nông dân và nông thôn trong sự nghiệp xây dựng CNXH. V.I.Lênin khẳng
định: “cần phải lấy lương thực làm khởi điểm, vì gốc rễ của tất cả những
khó khăn chính là ở chỗ đó” [38, tr. 231]. Đây là điều kiện quan trọng để
tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, điều đó không chỉ đúng với
điều kiện nước Nga mà còn đúng với các nước khác trong đó Việt Nam
cũng nằm trong điều kiện đó.
Nước ta là một nước nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn có vị trí vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đứng
trước muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời phát động
tăng gia sản xuất, ổn định đời sống. Khẩu hiệu được đưa ra lúc này là
“tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa” [40, tr.
215]. Vì thế, Hồ Chí Minh rất quan tâm và đánh giá cao vai trò của phát
triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, đây là công việc cực kỳ quan trọng
của quốc kế dân sinh.
11
Nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng về phát triển CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn và những thành tựu công cuộc đổi mới của Đảng đã
đạt được là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu có ý
nghĩa quyết định đến thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
đời sống người nông dân và sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Theo số liệu Niên giám thông kê tỉnh Nghệ An: “Trong số 1.649.085,1 ha
đất tự nhiên của Nghệ An thì đất sản xuất nông nghiệp khoảng 26.935,2 ha,
chiếm gần 16,13% diện tích; đất lâm nghiệp có trên 970.570,4 ha (58,86%); đất
chuyên dùng 68.169,9 ha (4,13%); đất ở 20.440,9 ha (1,24%)”. Hiện nay, “diện
tích rừng của tỉnh là trên 685.000 ha, trong đó rừng phòng hộ là 320.000 ha,
rừng đặc dụng chiếm gần 188.000 ha, rừng kinh tế trên 176.000 ha”. Nhìn chung
rừng ở đây rất đa dạng, có tiềm năng khai thác và giá trị kinh tế cao.
Nghệ An có bờ biển dài 82 km, 6 cửa lạch, trong đó Cửa Lò và Cửa
Hội có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho xây dựng cảng biển. Đặc biệt, biển
Cửa Lò được xác định là cảng biển quốc tế quan trọng của vùng Bắc Trung
Bộ, đồng thời cũng là cửa ngõ giao thông vận tải biển giữa Việt Nam, Lào và
vùng Đông Bắc Thái Lan. Hải phận Nghệ An có 4.230 hải lý vuông, tổng trữ
lượng cá biển trên 80.000 tấn, khả năng khai thác trên 35 - 37 nghìn tấn/năm.
Tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản quý hiếm như vàng, đá quý, ru
bi, thiếc, đá trắng, đá granít, đá bazan... Đặc biệt là đá vôi (nguyên liệu sản xuất
xi măng) có trữ lượng trên 1 tỷ m3, trong đó vùng Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu
có trên 340 triệu m3; vùng Tràng Sơn, Giang Sơn, Bài Sơn thuộc huyện Đô
Lương có trữ lượng trên 400 triệu m3 vẫn chưa được khai thác; vùng Lèn Kim
Nhan xã Long Sơn, Phúc Sơn, Hồi Sơn (Anh Sơn) qua khảo sát có trên 250 triệu
m3; vùng Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp ước tính 1 tỷ m 3. Đá trắng ở Quỳ Hợp
có trên 100 triệu m3; tổng trữ lượng đá xây dựng toàn tỉnh ước tính trên 1 tỷ m3.
Đá bazan trữ lượng 360 triệu m3; thiếc Quỳ Hợp trữ lượng trên 70.000 tấn, nước
khoáng Bản Khạng có trữ lượng và chất lượng khá cao. Ngoài ra tỉnh còn có một
số loại khoáng sản khác như than bùn, sản xuất phân vi sinh, quặng mănggan,
muối sản xuất sôđa... là nguồn nguyên liệu để phát triển các ngành công nghiệp,
vật liệu xây dựng, hoá chất, công nghiệp hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
13
14
lớn. Ngoài ra, còn có tuyến đường sắt Cầu Giát - Nghĩa Đàn, Quán Hành - Cửa Lò
phục vụ cho việc vận chuyển hành khách, hàng hóa phát triển kinh tế nội tỉnh.
Nghệ An có hệ thống đường sông phong phú, với chiều dài gần 1.200 km,
có đường biển nội tỉnh dài 107 km. Tỉnh có 3 bến cảng quan trọng: Cảng hàng
không với sân bay Vinh đang được nâng cấp để trở thành cảng hàng không quốc
tế hiện đại; Cảng biển Cửa Lò với quy mô hiện tại 1,3 triệu tấn, tàu ra vào 1 vạn
tấn và đạt công suất 3,5 triệu tấn vào 2010, 6 - 7 triệu tấn vào năm 2020, tàu ra
vào 3 - 4 vạn tấn, là tiềm năng lớn cho vận tải biển và xuất nhập khẩu hàng hóa
của Nghệ An, khu vực Bắc Trung Bộ. Đồng thời là cửa ngõ của nước bạn Lào,
đông Bắc Thái Lan và cảng Bến Thủy là bến cảng lớn nhất trên Sông Lam.
Dân số của Nghệ An năm 2010 là 2.952.000 người. Trong đó khu vực
nông thôn có hơn 2.551.500 người, 1,06 triệu lao động trong lĩnh vực nônglâm-ngư nghiệp, chiếm 87,37% dân số và 66,16% lao động cả tỉnh. Cơ cấu
dân số Nghệ An cũng rất trẻ, độ tuổi dưới 14 chiếm hơn 40%. Điều này nói
lên tiềm năng lao động của Nghệ An đang và sẽ rất lớn.
Tuy nhiên, với hơn 89% dân số sống trên địa bàn nông thôn thì quá
trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đối với Nghệ An là công
việc trước hết mà Đảng bộ và nhân dân Nghệ An hết sức quan tâm, chú trọng
trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Nông thôn Nghệ An tập
trung phần lớn dân cư sống tập trung, trong khi đó cơ cấu hạ tầng, điều kiện
kinh tế - xã hội, văn hóa còn nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp là hoạt
động kinh tế chính trên địa bàn chính nông thôn, đóng vai trò lớn trong cơ cấu
kinh tế của tỉnh, đảm bảo an ninh lương thực đồng thời góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh. Chính vì vậy, cần sự quan tâm hơn nữa
của chính quyền địa phương.
Ngoài ra Nghệ An còn có điều kiện thuận lợi trong công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội, đặc biệt là có điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh công cuộc CNH,
HĐH nông nghiệp nông thôn phát triển một nền kinh tế toàn diện, đa dạng. Tuy
tăng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh nhà. Năm 1991 kim ngạch xuất khẩu từ
nông lâm thủy sản đạt 4 triệu USD, đến năm 2000 đạt trên 10 triệu USD.
16
Về chăn nuôi, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đạt 27%. Năm
2000 tổng đàn trâu đạt 26,5 vạn con, tăng 57 ngàn con, đàn bò hơn 26,8 vạn
con, tăng 69 ngàn con, đàn lợn trên 83 vạn con, tăng 320 ngàn con so với năm
1991. Thực hiện chương trình cải tạo đàn bò đạt kết quả khá, đến nay tỷ lệ bò lai
sind đạt 33% tổng đàn, lợn giống mới đạt tỷ lệ 40% tổng đàn. Bắt đầu hình thành
nghề nuôi lợn sữa, lợn nạc, bò sữa...Góp phần đưa ngành chăn nuôi của tỉnh có
bước tăng trưởng nhanh, trở thành một ngành sản xuất chính trong nông nghiệp.
Về lâm nghiệp, công tác lâm nghiệp được chú ý phát triển toàn diện,
chuyển từ nền lâm nghiệp truyền thống lấy khai thác làm chính sang nền lâm
nghiệp xã hội, lấy bảo vệ, khoang nuôi làm giàu vốn rừng, trồng rừng mới
làm chính. Hàng năm trồng mới 10-15 ngàn ha. Khoanh nuôi bảo vệ 563 ngàn
ha, từ những năm 1990 về trước mỗi năm khai thác 30-40 ngàn m 3 gỗ rừng tự
nhiên. Nay chỉ khai thác mỗi năm 13-15 ngàn m 3(kể cả rừng trồng). Do vậy
thảm thực vật được phát triển tốt, tăng tỷ lệ che phủ từ 36% năm 1991 - 1995
lên 42% năm 2000, môi trường sinh thái được phục hồi.
Về thủy sản, đã có sự chuyển đổi nhanh về cơ cấu tàu theo hướng giảm
thuyền nhỏ, tăng thuyền lớn có công suất cao. So với năm 1995, tổng số tàu
thuyền giảm từ 3.114 CV chiếc xuống còn 277 chiếc, nhưng tổng công suất
tăng từ 46.571 CV lên 98.000 CV. Thuyền thủ công giảm từ 499 chiếc xuống
còn 80 chiếc. Loại 33 - 90 CV tăng từ 62 chiếc lên 833 chiếc, loại trên 90 CV
đến nay toàn tỉnh đã có 103 chiếc với công suất 17.600 CV. Bên cạnh đó, sản
lượng đánh bắt năm 2000 đạt 29.000 tấn tăng 14.000 tấn so với năm 1991.
Diện tích nuôi trồng tăng từ 9.000 ha năm 1995 lên 13.000 ha năm 2000,
trong đó có 40 ha diện tích nuôi tôm công nghiệp. Sản lượng tăng từ 5.700 tấn
1995 và 10 triệu USD năm 2000. Bên cạnh các nhà máy hiện có, tiếp tục xây
dựng các nhà máy mới để tổ chức sản xuất nguyên liệu để chế biến bột giấy,
bột sắn, bột chuối, nước dứa cô đặc, chế biến sữa...
Bên cạnh những kết quả đạt được còn có những tồn tại chủ yếu.
Một là, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, đặc biệt trong nội ngành
nông nghiệp chuyển dịch chậm, kinh tế lâm nghiệp chưa phát triển, chủ yếu là
18
sản xuất trồng trọt, chăn nuôi chưa phát triển so với tiềm năng. Nuôi trồng
thủy sản còn kém, đánh bắt xa bờ hiệu quả thấp. Sản lượng xuất khẩu nhỏ bé,
chưa tương xứng với tiềm năng và phương thức đầu tư. Cơ cấu kinh tế nông
thôn chủ yếu là nông nghiệp, dịch vụ và công nghiệp chế biến tỷ lệ còn thấp,
nhiều vùng trong tỉnh vẫn trong tình trạng sản xuất thuần nông, chưa tạo ra
tiền đề để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Hai là, nhiều tiềm năng to lớn chưa được khai thác đúng mức, trong
nhiều năm qua có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất và xây dựng nông
thôn to lớn chưa được khai thác đúng mức như: Lao động, vốn, vật tư, kinh
nghiệm...của nhân dân nông thôn, đặc biệt là việc sử dụng đất đai kém hiệu
quả, chỉ mới tập trung khai thác đất trồng lúa vùng đồng bằng, thế mạnh đất
đai vùng trung du, miền núi chưa được quan tâm đúng mức. Sản xuất còn manh
mún, quy mô sản xuất hộ gia đình nhỏ bé, còn mang nặng tính tự cung, tự cấp
thiếu bền vững. Khối lượng hàng hóa nông sản nhỏ bé phân tán, chưa ổn định.
Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng chủ yếu theo sản lượng, chưa coi trọng việc
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, chưa gắn với công nghiệp chế biến
và thị trường tiêu thụ. Sản phẩm nông nghiệp tiêu thụ khó khăn do chất lượng,
mẫu mã kém, giá thành lại cao. Bình quân diện tích canh tác thấp 0,3 - 0,4 ha/hộ,
lại phân chia manh mún 12 - 14 thửa/hộ, có thửa chỉ có 30 - 40 m 2. Nếu không
được xử lý thì không thể tiến hành CNH, HĐH nông thôn.
trang trại, kinh tế tư nhân phát triển chậm, quy mô nhỏ, phân tán.
Năm là, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn
hạn chế. Trang thiết bị và công nghệ sản xuất còn yếu kém. Tỷ lệ cơ giới hóa
vào các khâu sản xuất nông nghiệp còn rất thấp, nhiều khâu trong sản xuất
chưa được cơ khí hóa như gieo cấy, thu hoạch, một số khâu nặng nhọc như
làm đất, vận chuyển, gặt đập tỷ lệ cơ giới vẫn còn quá thấp, lao động thủ công
là chính. Máy móc nhiều chủng loại gây khó khăn cho công tác sữa chữa,
cung ứng phụ tùng, chất lượng máy kém, giá còn quá cao so với sức mua của
nông dân, chưa có định hướng và chính sách đồng bộ để phát triển ngành cơ
điện phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
20
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn (2001 - 2005)
Đảng ta xác định, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, vừa có tính cấp bách trước mắt và có tính
chiến lược lâu dài. Từ đòi hỏi khách quan của nền kinh tế - xã hội ở nông
thôn nước ta khi nền nông nghiệp còn lạc hậu, khoa học kỹ thuật kém phát
triển, năng suất lao động nông nghiệp thấp, trong khi nông nghiệp lại chiếm
tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân. Do đó, CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn là chủ trương đúng đắn của Đảng ta nhằm cơ khí hóa, điện khí hóa, áp
dụng KHCN tiên tiến vào sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập,
tạo mức sống ổn định và phát triển, nâng cao đời sống nhân dân và nông thôn.
Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta về CNH, HĐH nền kinh tế nước ta
nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn nói riêng. Là vấn đề có tính
chiến lược lâu dài để ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) tiếp tục phát triển và hoàn thiện quan
niệm và nội dung CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và khẳng định:
nghiệp nông thôn. Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
lớn, hiệu quả bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao
trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng
nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày
giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng
hiện đại [30, tr. 91, 95].
Như vậy, thực chất của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là
tạo ra những tiền đề cần thiết về vật chất, kỹ thuật, đào tạo phát triển nguồn
lực con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bản
của LLSX CNXH. Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn không chỉ
đơn giản là phát triển công nghiệp nông thôn và hiện đại hóa một số công
đoạn sản xuất nông nghiệp như: Cơ giới hóa, điện khí hóa, mà đó còn bao
gồm toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống vật chất và
22
văn hóa tinh thần nói chung ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghệ
hiện đại và phương thức tổ chức tiên tiến.
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (2001 - 2005)
Đánh giá kết quả nền kinh tế nông nghiệp nông thôn của tỉnh giai đoạn
(1991- 2000), Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XV (2/2001),
Đại hội đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ lần
thứ XIV, đề ra phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn trong những năm (2001 - 2005).
Phương hướng:
Phát huy thế và lực hiện có, khai thác có hiệu quả các công trình kinh tế
- xã hội đã được xây dựng; tận dụng mọi nguồn lực cho đầu tư sản xuất, phát
thành một ngành kinh tế quan trọng, để người dân vùng núi sống và làm giàu
chủ yếu bằng nghề rừng [25 ,tr. 38].
Thứ ba, phát triển nông nghiệp nông thôn gắn liền với công nghiệp chế
biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm, thực hiện đường lối thâm canh hợp lý kết
hợp với mở rộng diện tích, sử dụng có hiệu quả đất đai, áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất cũng như chế biến, tiêu thụ sản
phẩm, gắn quá trình sản xuất với thị trường xuất khấu.
Thứ tư, nâng cấp phát triển mạng lưới giao thông và điện nông thôn.
Từng bước đưa công nghiệp chế biến với quy mô thích hợp về vùng nguyên
liệu, hình thành các thị trấn, thị tứ mới; khuyến khích phát triển tiểu thủ công
nghiệp, các trung tâm thương mại dịch vụ ở thị trấn, thị tứ, nhằm thúc đẩy
giao lưu hàng hóa giữa thành thị và nông thôn [ 25, tr. 4].
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các
vấn đề xã hội, xóa đói giảm nghèo và khuyến khích làm giàu trong phát triển
nông nghiệp nông thôn. Thúc đẩy giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,
khuyến khích làm giàu, không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của
cư dân và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; phát triển nông nghiệp nông thôn
gắn liền với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh.
Mục tiêu cụ thể:
24
Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, ngư nghiệp năm 2000: 5,5%; năm
2005: 5,5 - 6%.
Cơ cấu nông nghiệp toàn tỉnh (nông, lâm, ngư nghiệp): Năm 2000 nông
nghiệp thuần nông 80%, lâm nghiệp 13,8%, ngư nghiệp 6,2%. Năm 2005,
nông nghiệp thuần 78,6%, lâm nghiệp 14%, ngư nghiệp 7,4%.
Cơ cấu kinh tế nông thôn: Năm 2000, nông nghiệp 50,79%, công
nghiệp xây dựng 21,25%, dịch vụ 27,96%. Năm 2005, nông nghiệp 44 - 41%,