ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ DUNG HUYỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG “TOÀN DÂN
ĐOÀN KẾT ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở
KHU DÂN CƢ” (1995-2005)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ DUNG HUYỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG “TOÀN DÂN
ĐOÀN KẾT ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở
KHU DÂN CƢ” (1995-2005)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Chuyên nghành
Mã số
: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
: 60 22 56
RÌNH LÃ NH ĐẠO THỰC
HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG: “TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ" ............................................
3.1. Kết quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân doàn kết xây
dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ” do đảng bộ Nghệ An
lãnh đạo .....................................................................................
3.2. Ý nghĩa của cuô ̣c vâ ̣n đô ̣ng “Toàn dân đoàn kết xây dựng Đời
số ng văn hóa ở khu dân cư ......................................................
3.3. Một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ Nghệ An lãnh
đạo cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời số ng
văn hóa ở KDC” .......................................................................
Kết luận ................................................................................................
Danh mục tài liệu tham khảo .............................................................
Phụ lục ..................................................................................................
Trang
1
8
8
11
15
41
43
43
50
CVĐ
Cuộc vận động
ĐCSVN
Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐSVH
Đời sống văn hoá
KDC
Khu dân cư
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
UBND
Uỷ ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
LỜI CAM ĐOAN
hoạt động văn hóa.
Hô ̣i nghi ̣BCHTW Đảng lầ n thứ
5 (khóa VIII ) đã xác đinh
̣ phương
hướng, nhiê ̣m vu ̣ chung của sự nghiê ̣p văn hóa là : “Phát huy chủ nghiã yêu
nước và truyề n thố ng đa ̣i đoàn kế t dân tô ̣c , ý thức độc lập tự chủ , tự cường
xây dựng và bảo vê ̣ Tổ quố c XHCN , xây dựng và phát triể n nề n văn hóa Viê ̣t
Nam tiên tiế n , đâ ̣m đà bản sắ c dân tô ̣c , tiế p thu văn hóa nhân loa ̣i , làm cho
văn hóa thấ m sâu vào toàn bô ̣ đời số ng và hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i , vào từng người ,
từng gia đin
̀ h , từng tâ ̣p thể và cô ̣ ng đồ ng, từng điạ bàn dân cư , vào mọi lĩnh
vực sinh hoa ̣t và quan hê ̣ con người , tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần
cao đe ̣p, trình độ dân trí cao , khoa ho ̣c phát triể n , phục vụ đắc lực sự nghiệp
công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa vì mu ̣c tiêu dân giàu , nước ma ̣nh, xã hội công
bằ ng, dân chủ, văn minh” [25, tr.54]. Quán triệt những quan điểm, chủ trương
của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa , các ban nghành từ trung ương
đến các địa phương tron g cả nước đã hế t sức coi tro ̣ng công tác chăm lo, xây
dựng đời sống văn hóa của nhân dân, nhất là ở các KDC. Xây dựng ĐSVH ở
các KDC được coi là bước đi ban đầu và có ý nghĩa to lớn của toàn bộ sự
nghiê ̣p xây dựng nề n văn hóa dân tô ̣c.
Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở KDC”
do Ủy ban Trung ương MTTQ Viê ̣t Nam khởi xướng là sự phản ánh sinh đô ̣ng
1
viê ̣c hiê ̣n thực hóa đường lố i văn hóa của Đảng vào đời số ng xã hô ̣i
. Do ý
cho mọi tầng lớp nhân dân. Vì vậy, CVĐ đã thu hút sự quan tâm của các cấp
ủy đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội và đươ ̣c đông đảo các tầng lớp nhân
dân tham gia.
Nghê ̣ An là “mô ̣t tỉnh rô ̣ng lớn, có tài nguyên phong phú , có nhân dân
cầ n cù lao đô ̣ng và rấ t cách ma ̣ng” [2, tr.16]. Với thế ma ̣nh đó Nghê ̣ An đã c ó
những đóng góp to lớn vào sự nghiê ̣p chung của dân tô ̣c trong suố t chiề u dài
lịch sử .
Sau khi được tái lập Tỉnh (năm1991), tình hình kinh tế - xã hội của
Nghê ̣ An bên cạnh những thuận lợi còn nhiều khó khăn
, thách thức. Trong
hoàn cảnh đó, CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC” trở thành
một động lực to lớn thúc đẩy Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đoàn kết , khắc
phục khó khăn, đưa tỉnh nhà từng bước vượt qua tình tra ̣ng nghèo , kém phát
triể n, mau chóng trở thành tin̉ h khá của miề n Bắ c, xứng đáng với niề m tin yêu
của cả nước dành cho quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Để CVĐ nhanh chóng đi vào cuô ̣c số ng, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An
đã quán triệt và tổ chức triể n khai CVĐ theo chủ trương , hướng dẫn chung
của trên. Đồng thời phát huy tính tích cực , chủ động, sáng tạo của cơ sở , chỉ
đa ̣o và phố i hơ ̣p chă ̣t chẽ giữa các tổ chức , các lực lượng nhằ m tạo nên sự
chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắ c trong mọi lĩnh vực đời sống của các KDC trên
toàn tỉnh .
Đề tài luận văn thạc sĩ “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện
cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời số ng văn hóa ở khu dân
cư.”(1995-2005) là một đóng góp nhỏ của một người con với quê hương
Nghệ An.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Xây dựng ĐSVH nói chung, CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở
KDC” nói riêng là một chiến lược cách mạng của Đảng ta.Vì vậy, nghiên cứu về
Thứ ba, Các bài viết về cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng
ĐSVH mới ở KDC như: “Hiệu quả từ phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
4
dựng ĐSVH ở KDC” của tác giả Đặng Văn Lợi - Tạp chí Mặt trận tháng 62003; Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC ở huyện
Chiêm Hóa năm 2006”, Tạp chí Thông tin công tác Mặt trận tháng 4-2007;
“Phú Thọ nâng cao chất lượng cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng
ĐSVH ở KDC” của tác giả Bích Thủy - Tạp chí Thông tin công tác Mặt trận
tháng 4-2007; “Sự năng động sáng tạo là yếu tố cần thiết để đẩy mạnh cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH mới ở KDC” của tác giả Ngô
Văn Lời - Tạp chí Mặt trận tháng 12-2004; “Quỳnh Phụ đẩy mạnh phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC” của tác giả Anh Tuấn - Tạp chí
Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC. Các bài viết đã chú ý tổng kết
những kết quả của các địa phương trong CVĐvà nêu lên được những kinh
nghiệm trong quá trình thực hiện.
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quá trình xây dựng
nền văn hóa cũng như CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH mới ở KDC”
của Đảng nhưng đến nay còn ít công trình nghiên cứu tổng kết về Đảng bộ địa
phương lãnh đạo xây dựng ĐSVH nói chung và cuộc vận động nói riêng. Các
công trình nghiên cứu đó là nguồn tư liệu qúy để tác giả tham khảo phục vụ
cho quá trình nghiên cứu đề tài “Đảng bô ̣ Nghê ̣ An lañ h đa ̣o thực hiê ̣n CVĐ
toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
a) Mục đích nghiên cứu:
- Phân tić h quá trình Đảng bộ Nghệ An lãnh đạo toàn dân thực hiệnCVĐ
“Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC” trong những năm1995-2005.
- Bước đầu tổng kết những thành tựu và một số kinh nghiệm trong
quá trình lãnh đạo thực hiện CVĐ của Đảng bộ Nghệ An trong những năm
và các tài liệu khảo sát thực tế.
6
b) Phương pháp nghiên cứu:
Với đề tài này, luận văn sử dụng phương pháp luận sử học kết hợp với
phương pháp lôgic. Bên ca ̣nh đó , luâ ̣n văn còn sử dụng các phương pháp cu ̣
thể như: tổng hợp, so sánh, đối chiếu để viết luận văn.
6. Đóng góp mới của luận văn:
- Về mặt khoa học: Luận văn nêu nội dung, yêu cầu của CVĐ, từ đó
phân tích chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện CVĐ “Toàn dân đoàn kết
xây dựng ĐSVH ở KDC”của Đảng bộ Nghệ An.
- Thực tiễn: Luận văn làm rõ quá trình Đảng bộ Nghệ An lãnh đạo thực
hiện CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở KDC” (1995-2005).
Đó là một phong trào thi đua yêu nước , một CVĐ mang nhiều ý nghĩa sâu
sắc, đem lại hiệu quả thiết thực , phát huy sức mạnh nội tại của người dân ở
mỗi KDC để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu , kết luận , danh mục tài liệu tham khảo , luận văn
gồm 3 chương; 10 tiế t.
Chương 1. Đảng bô ̣ Tin̉ h Nghê ̣ An lañ h đa ̣o cuô ̣c vâ ̣n đô ̣ng Toà n dân
đoàn kế t xây dựng cuô ̣c số ng mới ở khu dân cư” trong những năm 1995-2000.
Chương 2. Đảng bô ̣ tin̉ h Nghê ̣ An lañ h đa ̣o cuô ̣c vâ ̣n đô ̣ng Toàn dâ
đoàn kế t xây dựng đời số ng văn hóa ở khu dân cư” trong những năm
2001-
2005.
huyện (1 thành phố, 2 thị xã, 17 huyện trong đó có 11 huyện miền núi ) với
478 xã, phường, thị trấn; 5795 khối, xóm, bản. Đồng bào sống ở miền núi hơn
1,4 triệu người trong đó các dân tộc thiểu số trên 40 vạn người. Tỉnh có 24
vạn đồng bào theo đạo công giáo, trên 1 vạn tín đồ đạo phật.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Nghệ An được mọi
8
người biết đến với truyền thống anh dũng, kiên cường, bất khuất trong chống
ngoại xâm; cần cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động sản xuất, phòng chống
thiên tai. Trong các giai đoạn lịch sử của dân tộc, Nghệ An được coi là một trong
những cái nôi của cách mạng, là mảnh đất anh hùng, là địa bàn gây dựng nên
nhiều phong trào yêu nước như nghĩa quân của Tây Sơn đã dừng chân nơi đây
để tập hợp quân sĩ, là quê hương của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 nổi
tiếng… Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Nghệ An trở thành mảnh đất
thép chống trả, đánh thắng chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ,
là huyết mạch quan trọng để quân và dân miền Bắc chi viện cho chiến trường
miền Nam đánh thắng kẻ thù xâm lược, thống nhất Tổ quốc.
Do vị trí xung yếu trong sự nghiệp giữ nước và sự khắc nghiệt của điều
kiện tự nhiên đã hun đúc ở người dân nơi đây truyền thống yêu nước, đoàn
kết cộng đồng, tương thân tương ái. Truyền thống đó được chứng minh trong
lịch sử Nghệ An và của dân tộc. Mỗi khi có giặc ngoại xâm hay bị thiên tai
tàn phá người Nghệ An lại đoàn kết, hiệp lực, không ngại hy sinh gian khổ,
cùng nhau chống giặc và lao động xây dựng cuộc sống, góp công, góp của,
góp người giúp đỡ nhau, ủng hộ các nhà yêu nước, hưởng ứng các phong trào
cách mạng. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên
thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, phong trào cách mạng ở Nghệ
An nói riêng.
Bên cạnh truyền thống đoàn kết, giúp đỡ và yêu thương nhau, Nghệ An
còn là mảnh đất có truyền thống hiếu học. Thực tiễn lịch sử của dân tộc đã
hương của nhiều nhà cách mạng lỗi lạc như: Mai Thúc Loan, Lê Hồng Phong,
Hồ Tùng Mậu, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Sỹ Sách… Đặc biệt, Nghệ An là
quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại, người sáng lập
ĐCSVN, sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa , sáng lập Mặt trận dân
tô ̣c Thống nhất Việt Nam , người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn
hóa thế giới. Đây là niềm vinh dự tự hào, động lực tinh thần to lớn của nhân
dân Nghệ An trong công cuộc bảo vệ và xây dựng quê hương.
Sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN do Đảng ta khởi
xướng, lãnh đạo đã và đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi
sâu sắc. Thực tế đó vừa tạo ra thời cơ, đồng thời cũng đặt ra nguy cơ, thách
thức cho đất nước ta nói chung, Nghệ An nói riêng.
Phát huy truyền thống Xô viết Nghệ - Tĩnh anh hùng, với tinh thần
10
đoàn kết, yêu nước, cách mạng, hiếu học, cần cù, trung thực, tự hào là quê
hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Nghệ An đã và đang nêu cao
ý chí tự lực, tự cường, phát huy nội lực để phát triển kinh tế - xã hội
hướng tới mục tiêu đưa tỉnh nhà thoát nghèo
, “mau chóng trở thành một
trong tỉnh khá của miền Bắc” như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh
hằng mong muốn. Để mau chóng đưa mục tiêu đó thành hiện thực, Đảng
bộ và nhân dân Nghệ An phải tiến hành đồng thời nhiều giải pháp, huy
động mọi lực lượng cùng tham gia trong đó việc quán triệt và tổ chức
thực hiện CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC” có ý nghĩa
hết sức quan trọng.
1.2 Nội dung, yêu cầu của Cuô ̣c vâ ̣n đô ̣ng “Toàn dân đoàn kết xây
dƣṇ g cuộc sống mới ở khu dân cƣ”.
công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”.
Để đáp ứng những yêu cầ u của sự nghiê ̣p đổ i mới đấ t nước , Hội nghị
lần thứ 2 Ủy ban MTTQ Việt Nam (khóa IV) đã quyết định mở CVĐ
“Toàn dân đoàn kết xây dựng cuôc sống mới ở KDC” với những nội dung
chủ yếu sau:
Một là, Đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, huy động được nhiều
nguồn vốn để phát triển sản xuất, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sát
hợp. Bảo đảm ở mỗi KDC ngày càng có số đông hộ khá giả, không còn hộ
đói, giảm hẳn hộ nghèo, tăng hộ giàu.
Hai là, Đoàn kết phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, tương
thân, tương ái, có nhiều hoạt động đền ơn đáp nghĩa và nhân đạo, từ thiện.
Bảo đảm cho những người có công với nước, các gia đình thương binh, liệt sĩ,
người già cô đơn, trẻ mồ côi, những nạn nhân chất độc hoá học do chiến tranh
và những người bất hạnh trong cuộc sống đều được chăm lo chu đáo bằng
việc thực hiện đầy đủ các chính sách của nhà nước với sự giúp đỡ của cộng
đồng dân cư.
Ba là, Đoàn kết, phát huy dân chủ, giữ vững kỉ cương, mọi người sống
và làm việc theo pháp luật, theo quy ước, hương ước của cộng đồng; thực
hiện tốt quy chế dân chủ. Bảo đảm ở KDC không còn tệ nạn xã hội và tội
phạm, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hòa giải tại chỗ những mâu thuẫn
nội bộ, cảm hóa những người lầm lỗi, mọi người đều tích cực tham gia bảo vệ
12
an ninh Tổ quốc và xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
Bốn là, Đoàn kết xây dựng ĐSVH, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc và thuần phong mĩ tục trong nhân dân, bảo vệ các di sản văn hóa,
xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Bảo đảm ở KDC thực hiện tốt nếp
sống văn hóa lành mạnh. Bảo đảm việc cưới, việc tang, lễ hội lành mạnh, tiết
Để phát huy vai trò, ý nghĩa và nâng cao hiệu quả CVĐ, Ủy Ban
MTTQViệt Nam xác định một số yêu cầu:
Thứ nhất, Nội dung của CVĐ phải toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế,
văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… Do đó, trong quá trình thực hiện, các
nội dung không tách rời nhau mà đan xen , thúc đẩy lẫn nhau, hướng vào mu ̣c
tiêu chung là nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân . Toàn
bộ nội dung của CVĐ thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bồi dưỡng sức
dân với huy động sức dân, vì lợi ích của dân, bằng sức dân và do dân tự quản.
Ở đây lợi ích của mỗi con người, mỗi gia đình trong cộng đồng dân cư và lợi
ích của đất nước là nhất quán. Mỗi nội dung của CVĐ vừa có tính định hướng
những trọng tâm, vừa có tính định lượng qua những chỉ tiêu hướng dẫn. Vì vậy,
cần phấn đấu bảo đảm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của nhân dân
trong vùng, trong KDC, vận động mọi người dân tham gia phù hợp với hoàn
cảnh và điều kiện cụ thể.
Thứ hai, CVĐ diễn ra ở KDC do ban Mặt trận chủ trì phối hợp với các
cấp ủy ở mỗi KDC để động viên mọi người, mọi nhà tham gia một cách tự
nguyện, bình đẳng, hợp tác và trung thực, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới.
Sở dĩ, CVĐ được thực hiện bắ t đầ u từ mỗi KDC , vì KDC là những địa bàn
nhỏ, ở đây những con người , những gia đình cư trú khá ổ n đinh
̣ , quan hê ̣ và
thực hiện cuộc sống đời thường của mình. Ở môi trường này, con người có cơ
hội gần gũi, hiểu biết những hoàn cảnh, điều kiện sống của nhau, từ đó thể hiện
các mối quan hệ về lợi ích, về trách nhiệm của mình trong cộng đồng dân cư.
Địa bàn dân cư là nơi Ban công tác Mă ̣t trâ ̣n và cấp ủy có điều kiện để
phát huy đầy đủ thế mạnh của sự phối hợp lực lượng và đoàn kết toàn dân,
tiếp xúc vận động được mọi người, mọi nhà bằng phương pháp thuyết phục
có lí lẽ, có lợi cho dân và tiếp nhận được đầy đủ tâm tư, ý nguyện và sức sáng
14
15
xuất nông nghiệp và công nghiệp, chưa tạo tiền đề cho sản xuất hàng hóa.
Kinh tế đối ngoại còn nhiều bất cập. Việc thu ngân sách chưa đáp ứng nhu
cầu chi thường xuyên; mức sống người dân còn thấp đặc biệt là các vùng
nông thôn và miền núi.
Trước tác động của nền k inh tế thi ̣trường cùng xu thế hội nhập quốc
tế và giao lưu mở rộng trên các lĩnh vực đã làm cho sự thâm nhập của văn
hóa phương tây vào xã hội Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng
ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhìn nhận các giá tri ̣truyền thống
những thuần phong mỹ tu ̣c trong các tầng lớp nhân dân
, gây
nhất là
. Nhiều người còn
xem nhẹ việc giáo dục nếp sống văn hóa dẫn đến phát sinh nhiều hiện
tượng tiêu cực. Nhiều gia đình cán bộ có chức, có quyền vì động cơ hiếu
danh vụ lợi, tổ chức đám cưới, đám tang, đám giỗ linh đình, phô trương, có
trường hợp thực chất là bán cỗ thu tiền. Một số gia đình tuy hoàn cảnh khó
khăn nhưng sợ bị “ma chê, cưới trách” nên cố gồng mình, bươn bả vay
mượn cốt sao cho khỏi thua kém.
Về đời sống tinh thần , do điề u kiê ̣n kinh
tế khó khăn nên một bộ
phận dân cư trong tỉnh chưa quan tâm đế n chuyện học hành của con em
nghiệm của thần linh.
Ở các KDC trong tỉnh, công tác vệ sinh môi trường chưa được coi
trọng và tổ chức thường xuyên, chưa tạo thành nề nếp; nhiều cá nhân, hộ gia
đình chưa có ý thức vệ sinh công cộng, vứt rác xuống sông, hồ hoặc các bãi
đất trống làm mất cảnh quan môi trường và ảnh hưởng đến cuộc sống của
nhân dân trong các KDC. Đặc biệt, do tác động của nền kinh tế thị trường, ở
một số huyện đã xây dựng nhiều công ty, xí nghiệp hoạt động sản xuất, bên
cạnh những thuận lợi mà nó mang lại như giải quyết việc làm cho lao động
thất nghiệp, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân, các công ty, xí nghiệp
vì lợi nhuận cục bộ hay chưa nhận thức đầy đủ vai trò của môi trường sống
đối với sức khỏe cộng đồng đã thiếu quan tâm xây dựng biện pháp và đầu tư
thích đáng cho việc xử lí chất thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường gây
bất bình trong nhân dân .
Trong tỉnh, có nhiều huyện địa hình dân cư trũng , thấp, đường sá chật
hẹp, chắ p vá , lầy lội, vừa ảnh hưởng đến giao lưu đi lại vừa làm mất cảnh
17
quan môi trường và sức khỏe của người dân.
Tình trạng mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân xảy ra ở nhiều nơi , có một
số vụ kéo dài không giải quyết dứt điểm , gây nghi ky ̣ , bức xúc trong nhân
dân. Đặc biệt, tình trạng tranh chấp đất đai giữa các hộ gia đình trong KDC
chưa được khắc phục; các cuộc cãi vã, chửi bới, ẩu đả còn xảy ra làm mất tình
làng nghĩa xóm, gây trở ngại cho đại đoàn kết toàn dân, ảnh hưởng đến tình
hình an ninh trật tự trong KDC.
Với vị trí giáp giới với Lào, bờ biển dài, nơi giao lưu thông thương
trong Nam, ngoài Bắc; cùng với địa hình rộng lớn, phức tạp nên Nghệ An là
địa bàn thuâ ̣n lơ ̣i cho hoa ̣t đô ̣ng buôn bán, vận chuyển và tàng trữ ma túy phát
triể n ma ̣nh. Hâ ̣u quả của tình hình này là số người nghiện ma túy tăng nhanh
và lan rộng khắp 19/19 huyện, thành, thị nhất là ở các huyện miền núi như
CVĐ lớn, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc nhằm mục đích xã hội hóa các lĩnh
vực trong đời sống xã hội , thể hiện trách nhiê ̣m cao của Đảng, nhà nước và
các đoàn thể trong việc chăm lo cuộc sống của nhân dân. CVĐ đáp ứng kịp
thời nguyện vọng của nhân dân, vì thế đã nhanh chóng đi vào cuộc sống,
được mọi tầng lớp nhân dân trên mọi vùng miền của cả nước đón nhận và
hưởng ứng nhiệt thành.
Sau khi tiế p nhâ ̣n thông tri về CVĐ , Tỉnh ủy Nghê ̣ An đã ra thông tri
số 33TT/TU về việc chỉ đạo CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống
mới ở KDC”. Thông tri nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tuyên truyền ,
giáo dục nhằ m giúp nhân dân hiểu rõ mục đích , yêu cầu và các nội dung của
CVĐ: “Thông qua CVĐ để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, từ đó đổi
mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức quần
chúng”[35,tr.392]. Đồng thời chỉ rõ: “thông qua CVĐ, tư tưởng đoàn kết phải
được thể hiện rộng rãi, xuyên suốt và coi đó là mục tiêu, phương thức của
CVĐ. CVĐ là sự thống nhất trong hệ thống chính trị, ở đó phải thể hiện được
vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, có sự phối hợp với chính quyền các cấp với Mặt
trận, các đoàn thể để thực hiện tốt các nội dung của CVĐ. Đặc biệt, cần gắn
liền CVĐ với CVĐ xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa, phát huy
truyền thống tốt đẹp của mỗi vùng quê với truyền thống dân tộc để xây dựng
gia đình, làng bản, khối phố ngày càng giàu đẹp”[35, tr.392].
Thực hiê ̣n thông tri của Tỉnh ủy , MTTQTỉnh phối hợp với UBND tổ
19
chức triển khai nhiều cuộc họp với các ban ngành và các huyện để quán triệt
mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp tiến hành CVĐ. Quá trình triển
khai đã cơ bản thống nhất tư tưởng, xác định đây là CVĐ có quy mô rộng lớn,
có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, nội dung khá toàn diện và yêu cầu cao,
đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên, liên tục rộng khắp, với sự tham gia của
mọi tổ chức, mọi lực lượng.