MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam coi CSXH là một bộ phận
quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước, một bộ phận cấu
thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và là động lực to lớn thúc đẩy, phát
huy tính năng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Tiếp tục phát huy những thành quả đạt được trong thực hiện CSXH,
Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách cụ thể để giải quyết các vấn đề xã hội
phù hợp với thực tiễn đất nước trước yêu cầu mới, góp phần thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng XHCN.
Tiếp tục định hướng xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh của Đảng nêu rõ vai trò của
CSXH trong thời kỳ mới là:
Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh
mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước và từng chính sách. Khuyến khích làm giàu hợp pháp
đi đôi với xóa nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu -
nghèo giữa các vùng miền, các tầng lớp dân cư [48, tr.79].
Chính sách xã hội là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,
tiếp cận ở nhiều góc độ như xã hội học, dân tộc học… Tuy nhiên, dưới góc độ
Lịch sử Đảng, việc nghiên cứu CSXH chưa nhiều, nhất là nghiên cứu sự lãnh
đạo của các đảng bộ địa phương. Do vậy, tìm hiểu quá trình thực hiện CSXH ở
các địa phương để thấy được sự vận dụng sáng tạo của các đảng bộ, góp phần
làm sáng rõ hơn sự lãnh đạo của Đảng về CSXH trong sự nghiệp đổi mới.
1
Các huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Nghệ An, là địa bàn chiến
lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và môi
trường sinh thái của tỉnh và khu vực Bắc Trung Bộ. Đây là địa bàn cư trú của
Mục đích nghiên cứu
Luận án làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện CSXH
ở các huyện miền núi, nêu lên những thành tựu chủ yếu, chỉ ra những hạn chế và
bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm trong lãnh đạo thực hiện CSXH ở các
huyện miền núi từ năm 2001 đến năm 2010.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích hệ thống đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về CSXH
nói chung và CSXH đối với miền núi trong thời kỳ đổi mới.
- Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng miền núi Nghệ An tác
động đến quá trình thực hiện CSXH trên địa bàn.
- Làm rõ Đảng bộ tỉnh Nghệ An vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước để lãnh đạo thực hiện một số CSXH ở các huyện miền núi của tỉnh
trong 10 năm (2001-2010).
- Nhận xét quá trình lãnh đạo thực hiện CSXH của Đảng bộ tỉnh Nghệ An;
từ đó tổng kết một số kinh nghiệm có thể vận dụng để thực hiện tốt hơn CSXH ở
các huyện miền núi tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về thực hiện CSXH ở các huyện miền núi của tỉnh.
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu chủ trương của
Đảng bộ tỉnh Nghệ An, quá trình chỉ đạo thực hiện một số CSXH ở các huyện
miền núi của tỉnh như: chính sách xoá đói, giảm nghèo, chính sách giải quyết
3
việc làm, chính sách giáo dục và đào tạo, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ
nhân dân.
- Về không gian: Nghiên cứu thực hiện CSXH ở 10 huyện và 1 thị xã miền
núi tỉnh Nghệ An (Tương Dương, Quế Phong, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp,
Con Cuông, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Anh Sơn và Thị xã Thái Hòa).
- Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học để Đảng bộ tỉnh Nghệ
An có những điều chỉnh, bổ sung về chủ trương, giải pháp thực hiện hiệu quả
hơn CSXH ở địa phương; góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước
đối với CSXH trong thời kỳ đổi mới.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương, 7 tiết.
5
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Hơn 25 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế Việt Nam luôn giữ được tốc độ
tăng trưởng khá cao. Thành công trong tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt
Nam đã góp phần vào công cuộc XĐGN, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của người dân, cải thiện phúc lợi xã hội; đồng thời thực hiện tốt CSXH là cơ sở
để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chính vì vậy, CSXH là
một vấn đề luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thu hút sự chú ý của
các nhà khoa học, các nhà quản lý nghiên cứu ở nhiều giác độ khác nhau, trong
đó có cả những tác giả nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Nhiều công trình đã
được xuất bản, nhiều đề tài đã được nghiệm thu.
Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
1.1. Các công trình nghiên cứu về chính sách xã hội nói chung
Nghiên cứu những vấn đề lý luận của CSXH, có một số công trình, như
cuốn sách Chính sách xã hội - một số vấn đề lý luận và thực tiễn do PGS Bùi
Đình Thanh chủ biên [109]; cuốn sách Một số vấn đề về chính sách xã hội ở
nước ta hiện nay của tác giả Hoàng Chí Bảo [19]; cuốn sách Chính sách xã hội
và đổi mới cơ chế quản lý việc thực hiện do Trần Đình Hoan chủ biên [56]; tác
giả Phạm Xuân Nam với cuốn sách Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải
pháp [93] Các công trình đã cung cấp luận cứ khoa học cho việc đổi mới
CSXH và cơ chế quản lý thực hiện các CSXH thông qua việc làm rõ khái niệm
về CSXH; quan điểm lý luận, phương pháp luận nghiên cứu CSXH; đồng thời
việc làm Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra những giải pháp và một số khuyến
nghị về xây dựng hệ thống CSXH ở Việt Nam trong những năm tới.
Đặc biệt, tiếp cận dưới giác độ lịch sử Đảng, công trình Đảng lãnh đạo
thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới của TS Nguyễn Thị Thanh
7
[111] và công trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã
hội trong 25 năm đổi mới (1986-2011) của PGS, TS Đinh Xuân Lý [90] là
những công trình đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế,
những kinh nghiệm được đúc kết từ quá trình lãnh đạo thực hiện CSXH của
Đảng thời kỳ đổi mới. Qua đó, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của
Đảng đối với thực hiện CSXH trong những năm đổi mới đất nước.
Cùng với các công trình nghiên cứu chung về CSXH, nghiên cứu CSXH ở
nông thôn được nhiều tác giả quan tâm. Cuốn sách Nghiên cứu chính sách xã hội
nông thôn Việt Nam do Bùi Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Dũng đồng chủ biên
[110]; cuốn sách Luận cứ khoa học cho việc điều chỉnh chính sách xã hội nhằm
phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam của Viện Xã hội học [198]; công
trình Chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm Cộng hoà Liên bang Đức và
thực tiễn Việt Nam do Mai Ngọc Cường chủ biên [37]… Các công trình đã đề
cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện CSXH ở nông thôn; phân
tích các nguyên nhân, thành tựu và hạn chế, đưa ra các quan điểm và giải pháp
đối với một số CSXH chủ yếu: vấn đề việc làm, vấn đề phân hoá giàu nghèo và
công bằng xã hội ở nông thôn nước ta trong điều kiện đổi mới. Công trình đề
cập đến phân tầng xã hội ở nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và
đưa ra các quan điểm cơ bản giải quyết vấn đề công bằng xã hội ở nông thôn.
Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là vấn đề được giới khoa học
quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây. Cuốn sách Đảng lãnh đạo phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới do PGS, TS Đinh Xuân
Lý chủ biên [91], đã làm rõ luận cứ của việc nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh
đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta
trong tiến trình đổi mới trên một số lĩnh vực như giải quyết vấn đề lao động và
xã hội, về sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình thực hiện CSXH thời kỳ đổi
mới; giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện CSXH. Đây là
9
những công trình có giá trị để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình hoàn
thiện luận án.
1.2. Các công trình nghiên cứu về chính sách xã hội ở miền núi
Cuốn sách Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền
núi do tác giả Bế Viết Đẳng chủ biên [49] và cuốn sách Phát triển kinh tế, xã hội
các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá do Lê
Du Phong, Nguyễn Đình Phan, Dương Thị Thanh Mai đồng chủ biên [95], nêu
lên thực trạng kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi hiện nay; khẳng
định tính cấp thiết phải đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó các
tác giả nêu lên các định hướng phát triển, một số giải pháp chủ yếu nhằm phát
triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, ổn định chính trị, an ninh quốc gia.
Cuốn sách Miền núi Việt Nam, thành tựu và phát triển những năm đổi mới
của các tác giả Trần Văn Thuật, Nguyễn Lâm Thành, Nguyễn Hữu Hải [114] và
cuốn sách Phát triển bền vững miền núi Việt Nam: 10 năm nhìn lại và những
vấn đề đặt ra của tác giả Lê Trọng Cúc, Chu Hữu Quý chủ biên [35], với các báo
cáo trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở miền núi (dân số, phát triển kinh tế nông,
lâm nghiệp, vấn đề an toàn lương thực; xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công
nghiệp và đô thị hoá; phát triển thương mại và thị trường miền núi; vấn đề định
canh, định cư; Chương trình 135 với các xã đặc biệt khó khăn; vấn đề sức khoẻ
và y tế ) đã đánh giá thực trạng phát triển miền núi những năm 1990 - 2000;
phân tích những kết quả đạt được và hạn chế; tính phù hợp và khả thi của các
chính sách và việc thực hiện các chính sách; xác định các quá trình cơ bản cho
sự thay đổi về môi trường, kinh tế - xã hội và văn hoá trong bối cảnh toàn cầu
hoá, hội nhập khu vực, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Công trình Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam
do TS Phan Văn Hùng chủ biên [64] và cuốn sách Các dân tộc thiểu số và miền
núi hội nhập kinh tế quốc tế của các tác giả Hoàng Nam, Cư Hoà Vần, Hà Hùng,
11
XĐGN, công trình nêu lên một số đặc điểm địa lý, kinh tế ở vùng DTTS của
nước ta; khái quát về tình trạng đói nghèo ở vùng DTTS, đặc biệt là trong những
năm (1992-2000); các chương trình dự án của Đảng và Nhà nước giúp cho các
hộ đói nghèo ở nước ta thoát khỏi cảnh nghèo đói theo tinh thần Nghị quyết Đại
hội IX của Đảng; từ đó, đưa ra một số giải pháp XĐGN ở vùng DTTS nước ta.
Một số tác giả nghiên cứu về công tác GD-ĐT trên địa bàn miền núi: bài
"Công tác giáo dục - đào tạo với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi
Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Phương Thuỷ [115] đã nêu bật các
chủ trương của Đảng về GD-ĐT qua các Đại hội và Hội nghị, tác giả nêu vai trò
của GD-ĐT đối với miền núi. Bài "Chính sách cử tuyển - một chủ trương đúng
trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục, đào tạo
ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số" của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trang, Lại
Thị Thu Hà [154], đề cập đến vai trò của chính sách cử tuyển đối với miền núi
như góp phần phát triển giáo dục ở các vùng DTTS, miền núi nhằm giảm chênh
lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ.
Để phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vấn đề cơ bản là con người, vì
vậy, đào tạo đội ngũ cán bộ, nguồn nhân lực cho miền núi là vấn đề trăn trở được
nhiều khoa học nghiên cứu quan tâm: Bài "Một số chính sách và thực hiện chính
sách cán bộ ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số" của tác giả Lê Duy Đại [41],
đề cập tới vấn đề một số chính sách và thực hiện chính sách cán bộ ở vùng miền
núi và DTTS thể hiện vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ ở vùng miền núi và
DTTS trong việc thực hiện CSXH ở miền núi. Bài "Đổi mới công tác đào tạo
nguồn cán bộ dân tộc thiểu số miền núi theo hướng nâng cao năng lực tổ chức
hoạt động thực tiễn" của tác giả Nguyễn Ngọc Hà [50], đề cập tới đổi mới công
tác đào tạo nguồn cán bộ DTTS miền núi theo hướng nâng cao năng lực tổ chức
hoạt động thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
12
Sách Tác động của hệ thống dịch vụ y tế cấp huyện, xã đến việc chăm sóc
các nguồn vốn xã hội cần khai thác để phục vụ yêu cầu phát triển bền vững.
1.3. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách xã hội ở miền núi
tỉnh Nghệ An
Công trình Tiếp cận sinh thái nhân văn và phát triển bền vững miền núi
Tây Nam Nghệ An của các tác giả Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên [34] đã đề cập
đến tình hình kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái của các huyện miền núi Tây
Nam tỉnh Nghệ An, những thách thức đặt ra và hướng giải quyết đối với các
huyện miền núi Tây Nam Nghệ An. Cuốn sách có đề cập đến việc thực hiện
CSXH như xoá đói, giảm nghèo; giáo dục - đào tạo, công tác y tế của các huyện
miền núi Tây Nam Nghệ An.
Công trình Phát triển bền vững miền núi Nghệ An [168] là công trình phối
hợp giữa UBND tỉnh Nghệ An và Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trường, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là công trình bao gồm các bài viết có tính
khái quát giới thiệu phương pháp khoa học, tiếp cận vấn đề; quá trình phát triển
kinh tế - xã hội hơn 10 năm qua của các huyện miền núi trên các lĩnh vực như
dân tộc - dân số, sử dụng đất đai; phát triển kinh tế nông -lâm nghiệp, quan hệ
sản xuất, công nghiệp, thương mại, ổn định dân cư, XĐGN, phát triển giáo dục,
y tế, an ninh quốc phòng, văn hoá truyền thống, đa dạng sinh học, bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và môi trường.
Công trình Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Nghệ An của
Nhóm Hành động chống đói nghèo (PTF) [94], đã đưa ra những kết quả nghiên
cứu về đói nghèo ở Nghệ An, góp phần cho các quy trình lập kế hoạch với định
hướng vì người nghèo ở các cấp chính quyền địa phương.
Xuất phát từ lý luận chung để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực
tiễn địa phương, công trình nghiên cứu Kết hợp phát triển kinh tế và giải quyết
các vấn đề xã hội ở nông thôn Bắc Trung Bộ trong quá trình công nghiệp hoá,
14
hiện đại hoá của TS Đoàn Minh Duệ và TS Đinh Thế Định [39]; công trình
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội – một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở
một số tỉnh miền Trung của các tác giả Phạm Hảo, Võ Xuân Tiến, Mai Đức Lộc
thời gian tới.
Kỷ yếu Đại hội các dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An lần thứ nhất [187], đã
tập hợp các tham luận tổng kết phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các
DTTS tỉnh Nghệ An qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi
mới. Các tham luận đã phản ánh tình hình của các DTTS trên nhiều phương
diện, cho một cái nhìn khái quát, tổng thể về các dân tộc trên địa bàn miền núi
tỉnh Nghệ An; những kết quả cũng như hạn chế trong quá trình thực hiện đường
lối đổi mới của Đảng.
Tác giả Trần Văn Hằng với bài viết "Nghệ An tập trung phát triển kinh tế
- xã hội nâng cao đời sống các dân tộc ở miền Tây" [53] đã trình bày những tiềm
năng, lợi thế của miền Tây và kết quả đạt được bước đầu, bài viết đã nêu lên 8
giải pháp nhằm vượt qua những khó khăn, thử thách trên địa bàn miền núi của
tỉnh như đề cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, tăng cường sự lãnh đạo,
chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, lồng ghép thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự
án; đẩy mạnh công tác XĐGN, xóa nhà tranh tre, tạm bợ cho đồng bào dân tộc;
triển khai có hiệu quả về giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện nghèo…
Bài "Lý thuyết “cực phát triển” và vấn đề phát triển kinh tế - xã hội miền Tây
Nghệ An" của tác giả Hồ Thị Thanh Vân [197], đã tiếp cận lý thuyết “cực phát
triển” để đề ra chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển của mảnh đất trọng yếu -
miền Tây Nghệ An. Tác giả mạnh dạn đưa ra ý kiến xây dựng “cực phát triển
miền Tây” với cơ chế đủ mạnh để tạo nên sự đột phá cho sự phát triển trên địa
bàn này.
Tác giả Nguyễn Thế Trung với bài “Nghệ An tập trung đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao” [156] đề cập đến những giải pháp để nâng cao
16
chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Nghệ An nói chung và các huyện miền núi của
tỉnh nói riêng trong thời kỳ mới. Tác giả nhấn mạnh, một trong những giải pháp
quan trọng là đầu tư và phát triển giáo dục và đào tạo.
Bài "Sáu giải pháp đào tạo nghề cho lao động miền núi Nghệ An" của
Quang Hưng [65], từ thực trạng lao động ở miền núi Nghệ An, đã đề xuất 6 giải
liệu mới. Luận án nghiên cứu một số vấn đề thực tiễn về quan hệ dân tộc hiện
nay ở Nghệ An trong mối quan hệ ngôn ngữ, văn hoá, giáo dục. Chỉ ra những
hiện tượng tiêu cực, đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm góp phần giải quyết tiêu
cực cũng như hoàn thiện chính sách dân tộc.
Nhiều luận văn thạc sĩ đã tiếp cận giải quyết các CSXH trên địa bàn miền
núi tỉnh Nghệ An như: Những biện pháp cơ bản nhằm góp phần xoá đói, giảm
nghèo ở các huyện miền núi vùng cao tỉnh Nghệ An của tác giả Lô Xuân Vinh
[200]; Định canh, định cư để phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Con cuông tỉnh
Nghệ An của tác giả Hoàng Đình Tuấn [158]; Phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An của tác giả Bùi Đình Sâm [96]; Vốn
ngân sách Nhà nước cho các huyện miền núi cao tỉnh Nghệ An của tác giả
Nguyễn Văn Thông [113]; Vốn ngân sách Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng theo Chương trình 135 ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An của tác giả
Lương Văn Khánh [84]… là những luận văn thạc sĩ luận giải trên góc độ kinh tế
nhằm đưa ra các giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có nêu lên
tác động của sự phát triển kinh tế đối với thực hiện CSXH trên địa bàn miền núi
tỉnh Nghệ An.
2. Những vấn đề chưa được nghiên cứu đầy đủ
Qua các công trình công bố có thể thấy mảng đề tài về CSXH trong đó có
đề tài thực hiện CSXH ở địa phương miền núi, vùng đồng bào DTTS đã thu hút
được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả, của nhiều công trình nghiên cứu
trong và ngoài nước.
18
Trong các công trình đó đã phản ánh ở mức độ khác nhau về sự lãnh đạo
của Đảng đối với CSXH nói chung và quá trình quán triệt, tổ chức chỉ đạo thực
hiện của các Đảng bộ địa phương trong thực hiện CSXH ở các vùng miền núi,
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS nói riêng. Hầu hết các tác phẩm đã
phác họa rõ bối cảnh, tình hình mới đòi hỏi thực hiện mạnh hơn nữa CSXH ở các
địa phương miền núi, nêu lên những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về CSXH đối với các địa phương miền núi trong sự phát triển kinh tế - xã
được những đánh giá khách quan có cơ sở khoa học về những mặt đạt được và
chưa đạt được trong quá trình lãnh đạo thực hiện một số CSXH ở các huyện
miền núi của Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Chừng nào những vấn đề trên chưa được
làm sáng tỏ và luận giải thấu đáo thì những đánh giá, kiến giải về lãnh đạo thực
hiện CSXH của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với các huyện miền núi vẫn chưa đầy
đủ, sâu sắc và toàn diện.
3. Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Để làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong thực hiện CSXH
đối với các huyện miền núi, luận án tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Từ nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về CSXH nói
chung và đối với miền núi nói riêng, luận án đi sâu nghiên cứu quá trình quán
triệt, vận dụng những chủ trương, chính sách đó của Đảng bộ tỉnh Nghệ trên địa
bàn các huyện miền núi từ năm 2001 đến năm 2010.
- Đánh giá những thành công cũng như hạn chế trong quá trình Đảng bộ
tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện một số CSXH ở các huyện miền núi.
- Đúc kết một số kinh nghiệm trong lãnh đạo thực hiện CSXH ở các huyện
miền núi của Đảng bộ tỉnh Nghệ An.
20
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN
(2001 - 2005)
1.1. Khái niệm chính sách xã hội và những yếu tố tác động tới thực
hiện chính sách xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An
1.1.1. Khái niệm chính sách xã hội
Có nhiều cách hiểu về CSXH như: tác giả Bùi Đình Thanh, chủ nhiệm
chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX-04 Chính sách xã hội -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn luận giải:
Chính sách xã hội là cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật những
đường lối, chủ trương, những biện pháp để giải quyết các vấn đề xã
phương hướng và biện pháp được thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà
nước để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và
không gian nhất định, nhằm tăng cường phúc lợi, bảo đảm công bằng
xã hội và tạo cơ hội cho người dân hòa nhập vào sự phát triển xã hội
[38, tr.18].
Luận án nghiên cứu, tiếp cận khái niệm CSXH như trong Từ điển Bách
khoa Việt Nam (Hội đồng quốc gia biên soạn) định nghĩa là:
Chính sách xã hội - Một bộ phận cấu thành chính sách chung của một
chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải quyết và quản lý
các vấn đề xã hội, CSXH bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người,
điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình,
quan hệ giai cấp và quan hệ xã hội. Một trong những đặc điểm cơ bản
của CSXH là sự thống nhất biện chứng của nó với chính sách kinh tế.
Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện CSXH và
ngược lại, sự hợp lý, công bằng, tiến bộ được thực hiện qua CSXH lại
22
tạo ra những động lực mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu kinh tế,
nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh. CSXH phải đạt mục đích đem lại
đời sống tốt đẹp cho con người, mang lại sự công bằng, dân chủ cho
mỗi con người [61, tr.603].
Chính sách xã hội có nhiều nội dung phong phú. Tựu chung lại, CSXH chia
thành hai nhóm: nhóm thứ nhất, các chính sách tạo điều kiện để con người sống
và làm việc tốt hơn (tác động rõ nét đến cá nhân trong xã hội) và nhóm thứ hai,
các chính sách tạo điều kiện để các giai cấp, tầng lớp dân cư xứng đáng vị trí, vai
trò của mình trong cơ cấu xã hội, ổn định và phát triển (tác động rõ nét đến cộng
đồng xã hội). CSXH còn được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng, CSXH gồm cả
hai nhóm chính sách nêu trên; còn nghĩa hẹp, CSXH chỉ bao hàm nhóm chính
sách thứ nhất (lúc này, nhóm chính sách thứ hai thuộc về vấn đề cơ cấu xã hội).
Chính sách xã hội trong CNXH nhằm giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra
trong quá trình xây dựng CNXH, góp phần trực tiếp hình thành con người mới
quốc phòng - an ninh và đối ngoại của tỉnh và khu vực Bắc Trung Bộ.
Về địa hình, miền núi tỉnh Nghệ An nằm về phía Đông Bắc dãy núi Trường
Sơn có độ cao và độ dốc thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Đồi núi chủ yếu
là cao, dốc. Địa hình bị chia cắt mạnh, hình thành nhiều tiểu khu vực: vùng Tây
Bắc (gồm các huyện: Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong và
thị xã Thái Hòa); vùng Tây Nam (gồm các huyện: Thanh Chương, Anh Sơn, Con
Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn). Với địa hình đa dạng, phức tạp của các huyện
miền núi ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện các CSXH trên địa bàn.
Trên địa bàn các huyện miền núi Nghệ An có 2 hệ thống sông lớn là sông
Lam và sông Hiếu bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, ngoài ra còn có trên 100 khe
suối xen kẽ. Hệ thống sông suối phần lớn ở thượng nguồn hẹp và dốc, trở ngại
cho việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và hạn chế đến khả năng điều hòa
nguồn nước trong các mùa phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, với nhiều
thác nước lớn nhỏ, là nguồn thủy năng rất lớn để phát triển thủy điện, thủy lợi
kết hợp với nuôi trồng thủy sản và điều hòa dòng chảy, chống lũ lụt, sụt lở đất.
24
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, các huyện miền núi Nghệ An
có lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, các tháng mưa
lớn tập trung vào tháng 8,9,10 trong năm. Khí hậu tạo điều kiện cho nhân dân
phát triển kinh tế, nhất là nông nghiệp. Tuy nhiên, mưa thường gây ra lũ, lụt, sạt
lở đất, ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của nhân dân.
Đất đai các huyện miền núi Nghệ An gồm 6 nhóm đất chính. Đất nông
nghiệp có 102.096 ha, chiếm 7,4% tổng diện tích tự nhiên, là tỷ lệ rất thấp so với
với toàn tỉnh và cả nước (toàn quốc là 28,39%; tỉnh Nghệ An là 12%); một số
huyện vùng núi cao, chiếm tỷ lệ rất thấp như Tương Dương: 0,32%; Kỳ Sơn:
1,79%; Con Cuông: 2,29%; Quế Phong: 2,54%; Quỳ Châu: 4,8% [171, tr.3]. Do
vậy, việc mở rộng, xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ dân sinh, kinh tế
khu vực miền núi rất khó khăn.
Tổng diện tích đất có rừng ở các huyện miền núi Nghệ An là 656.391 ha,
chiếm 93,1% tổng diện tích rừng toàn tỉnh, trong đó diện tích rừng tự nhiên