Đảng bộ tỉnh yên bái lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của đảng từ 1991 2006 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN THỊ HỮU HỒNG PHƯƠNG

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ 1991-2006

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN THỊ HỮU HỒNG PHƯƠNG

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ 1991-2006

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. LÊ THẾ LẠNG

HÀ NỘI - 2012

3.1.2. Hạn chế ............................................................................................................. 75
3.2. Một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở Yên
Bái ................................................................................................................... 79
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 87
PHỤ LỤC

........................................................................................................................ 94


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề dân tộc và quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân
tộc luôn mang tính thời sự của bất cứ thời đại nào, đặc biệt trong thời đại hiện
nay vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp, vừa có tính đặc thù riêng
của từng quốc gia, vừa mang tính toàn cầu. Đây là vấn đề nhạy cảm mà các thế
lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng để chống phá sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta bằ ng cách chia rẽ khối đại
đoàn kết toàn dân, với nhiều thủ đoạn khác nhau, nhằm gây mất ổn định cả về
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và đố i ngoa ̣i.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc cùng chung
sống với quan hệ đa dạng được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau vì vậy
vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài,
đồng thời là vấn đề cấp bách của cách mạng Việt Nam.
Đảng ta ngay từ khi thành lập đến nay luôn vận dụng chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đề ra đường lối đoàn kết, bình đẳng, tương trợ
lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc. Đảng ta đã xây dựng và phát huy sức
mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc nhờ đó đã làm nên thắng lợi của cách
mạng tháng Tám năm 1945, đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược của Thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và giành

chiến đấu xây dựng và trưởng thành của các dân tộc thiểu số Việt
Nam (1945- 1985), Hà Nội 1985.
3. Trần Cao: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những
nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam, tạp chí lý luận, số
10, 1986.
4. Về việc thực hiện chính sách đối với các dân tộc ít người trong giai
đoạn cách mạng hiện nay. Góp phần nghiên cứu chính sách xã hội, Nxb.
Khoa học Xã hội, 12/1988.

2


5. Lênin về vấn đề dân tộc và đổi mới việc thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng hiện nay, 3/1990.
6. Chính sách dân tộc - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Sự thật,
Hà Nội 1990.
7. Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí
Minh và những vấn đề dân tộc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1990.
8. Viện thông tin Khoa học Xã hội: Quan hệ dân tộc và chính sách dân
tộc trong chủ nghĩa xã hội, Hà Nội1990.
9. PGS.PTS Trần Quang Nhiếp: Phát triển quan hệ dân tộc ở Việt
Nam hiện nay, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1997.
10. PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm - GS.TS Trịnh Quốc Tuấn: Mấy vấn
đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội 1999.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình, bài nghiên cứu của các nhà khoa học,
nhà quản lý về chính sách dân tộc. Tuy nhiên về thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng ở Yên Bái từ 1991- 2006 thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề
cập một cách trực tiếp, đầy đủ và cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn được thực hiện theo phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgíc, các phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, hệ thống.v.v…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong nghiên cứu, giảng dạy những nội dung có liên quan đến vấn đề dân tộc
và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các cấp
lãnh đạo, các ngành của Tỉnh Yên Bái nhằm phục vụ công tác nghiên cứu phát
triển chính sách dân tộc theo đường lối của Đảng ở tỉnh Yên Bái.

4


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết :
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Yên bái lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng từ 1991-1996.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng từ 1996-2006.
Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm.

5


Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ 1991-1996

1.1. Đặc điểm tự nhiên , xã hội và việc thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng ở Yên Bái trước 1991

mưa trung bình 1.500 - 2.200 mm/năm, độ ẩm trung bình 83 - 87% rất thuận
lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp. Nhưng bên cạnh đó yếu tố địa hình
cũng làm thay đổi và biến tính một phần nào đấy sự khác biệt với những vùng
lân cận. Điều này thể hiện rõ nét khi mà Yên Bái nằm trên ranh giới của hai
khu vực khí hậu khác nhau (Đông Bắc và Tây Bắc).
Về tài nguyên thiên nhiên
Yên Bái có một tiềm năng tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú.
Khoáng sản gồm các mỏ nội sinh và ngoại sinh với trữ lượng không lớn
nhưng lại đa dạng về thành phần. Hiện nay, toàn tỉnh có 257 mỏ, điểm mỏ
khoáng sản đã và đang được đưa vào khai thác tập trung với nhiều loại
khoáng sản quý hiếm như: than đá, than nâu, vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, sắt,
cao lanh, sa khoáng… Ngoài ra còn có tài nguyên đất đa dạng, tài nguyên
nước và các tiềm năng văn hóa - du lịch… Trong tổng số diện tích tự nhiên
trên 6888 km2, tỉnh Yên Bái có 549.104,31 ha đất nông nghiệp, 47.906,46 ha đất
phi nông nghiệp và còn 92.938,28 ha đất chưa sử dụng. Đất đai của Yên Bái rất
thích hợp trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, cây dược liệu và
cây lương thực. Hệ thống sông suối dày đặc được hình thành chủ yếu từ ba lưu
vực chính: lưu vực sông Hồng, sông Chảy, ngòi Thia và vùng hồ Thác Bà.
Ngoài hệ thống sống suối còn có 20.193 ha mặt nước hồ ao, trong đó Thác Bà
19.050 ha. Nhiều năm qua nguồn tài nguyên này đã được khai thác sử dụng
để xây dựng thuỷ điện, sản xuất nông lâm nghiệp, vận chuyển lâm sản, hàng
hoá, đi lại giao lưu giữa các vùng trong tỉnh với nhau và với đồng bằng Sông
Hồng… Yên Bái còn là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá
nhân bản, thể hiện ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm (huyện Lục

7


Yên), công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng (huyện Văn Chấn), thạp đồng Đào
Thịnh, Hợp Minh (huyện Trấn Yên), trống đồng Minh Xuân (huyện Lục

Thái, người Nùng, người Sán Chay, người Giáy.
+ Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao gồm: Người Dao,
người Mông.
+ Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến có người Phù Lá.
+ Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hoa có người Hoa
Trừ người Kinh là dân bản địa có mặt sớm nhất trên địa bàn Yên Bái
thì người Tày là cư dân đứng thứ hai cũng có quá trình cư trú và lịch sử lâu
đời. Người Giao, người Mông thì coi Mù Căng Chải như quê cha đất tổ của
họ. Người Thái gắn bó với Mường Lò - vùng đất ghi dấu ấn của một thời mở
mang đầu tiên. Người Nùng; người Giáy; Sán Chay và một số dân tộc khác
tuy có mặt ở mảnh đất này muộn hơn nhưng cũng có những tình cảm đằm
thắm với quê hương, làng bản.
Đặc điểm kinh tế:
Yên Bái là đầu mối và trung độ của các tuyến giao thông quan trọng
giữ Đông bắc và Tây bắc và từ cửa khẩu Lào cai về Thủ đô Hà Nội, đặc biệt
các tuyến giao thông quan trọng gồm cả đường sắt, đường bộ và đường sông,
có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên Yên Bái là tỉnh
miền núi có địa bàn rộng, bị chia cắt mạnh, cơ sở hạ tầng thấp kém, trình độ
dân trí còn thấp và không đồng đều, sức hấp dẫn thu hút đầu tư từ bên ngoài
và môi trường thương mại bị hạn chế, nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp. Tốc
độ tăng trưởng của sản xuất nông - lâm nghiệp tuy có tăng nhưng còn nhiều
hạn chế, việc phát triển kinh tế nông lâm nghiệp ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số vẫn còn nhiều yếu kém so với mặt bằng chung. Tập quán sản xuất
của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào lao động
thủ công với kinh nghiệm truyền thống, tập quán sản xuất vẫn là quảng canh,
kinh tế vùng cao mang nặng tính tự cấp, tự túc, có nơi phụ thuộc hoàn toàn
vào tự nhiên.Vì vậy khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có rất nhiều hạn
chế như: sản xuất chưa thích nghi với kinh tế thị trường, đa số lao động ở

9


10


có quan hệ trong dòng họ và trong làng khá chặt chẽ, những mối quan hệ này
có điểm tích cực là giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, trong những công việc lớn
của đời người như làm nhà, ma chay, cưới xin hoặc tương trợ lẫn nhau khi
hoạn nạn, ý thức tương trợ, hợp tác phát triển thành tinh thần đề cao vai trò tập
thể, mọi công việc chung của làng do cả làng bàn bạc và quyết định. Phát huy
tư tưởng tốt đẹp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng lẽ sống “mọi
người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người”.
Nhân dân Yên Bái giàu truyền thống yêu nước, đoàn kết, anh dũng bất
khuất kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Dù trải qua nhiều
gian nan, vất vả song nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái vẫn không ngừng
phát huy cao độ tinh thần yêu nước và yêu quê hương, đoàn kết chặt chẽ, lập
nên những thành tựu lớn lao góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc và sự
nghiệp xây dựng quê hương giàu đẹp.
Những đặc điểm về địa bàn cư trú, tập quán sản xuất và bản sắc văn
hoá của các dân tộc trên địa bàn tỉnh là cơ sở quan trọng giúp Đảng bộ tỉnh
Yên Bái cụ thể hoá chính sách dân tộc của Đảng phù hợp với điều kiện của
địa phương nhằm đem lại cuộc sống ấm no, đoàn kết trong từng thôn bản,
giúp đồng bào nhân dân vùng cao Yên Bái tiến kịp miền xuôi.
1.1.2. Đảng bộ Yên Bái lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng trước năm 1991
Các dân tộc Yên Bái trước cách mạng, trong chiế n tranh giải phóng dân
tộc và xây dựng chủ nghi
a ̃ xã hội ở miề n Bắ ctừ 1930-1975
Nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, Yên Bái có vị trí chiến lược hết sức
quan trọng trong các thời kỳ dựng nước và giữ nước. Trải qua đấu tranh gian
khổ, nhân dân các dân tộc Yên Bái đã hun đúc truyền thống yêu nước, đoàn

tàn dư thổ phỉ, lợi dụng nhân dân ta khó khăn, cơ sở còn yếu chúng đã cấu kết
với nhau phá hoại thành quả của cách mạng như các khu vưc Than Uyên, Văn
Bàn. Bọn phản động ở Lục Yên, Trấn Yên, Yên Bình…đã gây thiệt hại về người
và của cho ta. Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã chủ trương tạo điều kiện
cho vùng đồng bào dân tộc tự nỗ lực vươn lên. Tháng 5/1955 Ban bí thư Trung

12


ương Đảng đã ra chỉ thị về phát động quần chúng củng cố biên giới, tháng
2/1959 có chỉ thị số 128 về đẩy mạnh hơn nữa việc thi hành chủ trương, tăng
cường công tác vùng cao; Tháng 2/1963 Bộ chính trị ra Nghị quyết 71/NQ-TW
về vấn đề phát triển nông nghiệp ở miền núi, Chính phủ đã có Nghị quyết số
38/CP ngày 12/3/1968 về công tác vận động định canh định cư kết hợp hoàn
thành hợp tác hóa…
Với những chủ trương của Đảng và sự lãnh đạo kịp thời của Đảng bộ
Tỉnh, cùng sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực, công tác diệt phỉ và bọn phản động
đã thu được những thắng lợi hết sức cơ bản. Tình hình an ninh tương đối ổn
định là điều kiện quan trọng để đồng bào phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng
thôn bản ấm no.
Cùng với toàn thể nhân dân miền Bắc, đồng bào các dân tộc tỉnh Yên
Bái vừa thực hiện nhiệm vụ vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa chi viện sức
người, sức của cho miền Nam. Đảng bộ đã lãnh đạo tổ chức thực hiện tốt các
phong trào “tay cày, tay súng”, “tay búa, tay súng”, “mỗi người làm việc bằng
hai vì miền Nam ruột thịt”… động viên được tinh thần, khí thế và sức mạnh
của mọi tầng lớp nhân dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Hàng
vạn thanh niên các dân tộc tỉnh Yên Bái xung phong đi hoả tuyến phục vụ
chiến trường và những trọng điểm khó khăn, ác liệt tại tỉnh góp phần làm nên
đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất
đất nước.

xuất xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa tiếp tục chiến đấu, củng cố và bảo vệ
biên giới. Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982)
ngày 6/11/1982 Đảng bộ Hoàng Liên Sơn tiến hành Đại hội lần thứ III, Đại hội
đã phân tích đánh giá tình hình và đề ra những mục tiêu cụ thể cho sự phát triển
trong thời gian từ 1981-1985. Đại hội tiếp tục nhấn mạnh những quan điểm về
đoàn kết và bình đẳng giữa các dân tộc của Đảng ta, nêu lên nhiệm vụ giải quyết
những khó khăn trước mắt, xây dựng cuộc sống mới ở các thôn, bản vùng sâu,
vùng xa.
Từ năm 1976-1985 Đảng bộ, đồng bào các dân tộc tỉnh Yên Bái đã
từng bước tháo gỡ những khó khăn, phát triển sản xuất theo hướng kết hợp
nông - công nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản. Sự nghiệp văn hóa - xã hội có

14


chuyển biến tích cực, an ninh quốc phòng vùng biên giới được củng cố và giữ
vững. Hệ thống trị chính trị được củng cố.
Tuy nhiên từ những năm 1976 - 1985 đất nước đang trong giai đoạn
khủng hoảng sâu sắc về kinh tế - xã hội, Yên Bái cũng gặp phải những khó
khăn trong lãnh đạo công tác dân tộc. Tình hình kinh tế vùng đồng bào dân
tộc kém phát triển, thiếu đói vẫn xảy ra thường xuyên ở các huyện vùng cao,
du canh du cư diễn ra phổ biến. Các dân tộc vẫn giữ thói quen, tập quán sinh
hoạt lạc hậu, y tế chưa tới được thôn bản, còn nhiều trẻ em trong độ tuổi
không đến trường hoặc bỏ học… Hơn nữa, thời kỳ này tỉnh chưa có cơ quan
dân tộc hoạt động độc lập nên việc giải quyết vấn đề dân tộc còn chậm và
chưa kịp thời, đời sống của đại bộ phận đồng bào vẫn nghèo nàn, lạc hậu.
Những khó khăn này đòi hỏi Đảng bộ Yên Bái cần nâng cao bản lĩnh và chủ
động giải quyết các vấn đề dân tộc địa phương trong thời gian sắp tới.
Sự nghiệp đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới chính sách dân tộc do
Đảng ta khởi xướng từ Đại hội VI (tháng 12 năm 1986). Văn kiện Đại hội đại

hoá, kinh doanh có hiệu quả, từng bước tích luỹ để đầu tư xây dựng và phát
triển miền núi.
Nắm vững chủ trương phát triển có kế hoạch nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội; điều chỉnh quan hệ sản xuất ở miền
núi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thật sự tôn
trọng quyền tự quyết định của nhân dân trong việc lựa chọn các hình thức
kinh tế và cơ chế quản lý thích hợp, lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn hàng đầu,
nhất thiết không máy móc, rập khuôn, áp đặt.
Xây dựng các tổ chức kinh tế quốc doanh theo hướng bảo đảm hiệu
quả, trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi;
áp dụng rộng rãi các hình thức kinh tế hợp tác quá độ thích hợp từ thấp đến
cao; đặc biệt coi trọng kinh tế hộ gia đình; khuyến khích rộng rãi mọi người
đầu tư kinh doanh đất rừng, các ngành công nghiệp, vận tải và dịch vụ; thực
hiện tự do lưu thông, trao đổi, mua bán, thoả thuận; tranh thủ nguồn vốn và sự
hợp tác của nước ngoài trong việc phát triển kinh tế - văn hóa miền núi. Phải

16


phát triển miền núi toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc
phòng, an ninh, trong đó coi trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội gắn với
thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng. Quan tâm đúng mức đến việc giải
quyết các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
Để thực hiện trên thực tế quyền bình đẳng giữa các dân tộc, một mặt, pháp
luật phải bảo đảm quyền bình đẳng đó; mặt khác, phải có chính sách và tạo
điều kiện để nhân dân các dân tộc miền núi vươn lên mạnh mẽ, phát triển kinh
tế, văn hoá, từng bước nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân, coi trọng đào tạo cán bộ người dân tộc; tôn
trọng phát huy những phong tục, tập quán và truyền thống văn hoá tốt đẹp của
các dân tộc. Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân

kinh tế - xã hội miền núi”, nâng cao mức đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo đà
phát triển mới cho các vùng đồng bào bằng các chương trình, dự án cụ thể, phù
hợp với từng vùng và từng địa bàn cư trú của các dân tộc ít người.
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới chính sách
dân tộc Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã quan tâm giải quyết các vấn đề liên quan
đến dân tộc, miền núi. Bên cạnh việc triển khai các Nghị quyết, Quyết định
của Đảng và Chính phủ liên quan đến công tác dân tộc, đảng bộ và các cấp
chính quyền trong tỉnh đã căn cứ vào tình hình cụ thể của từng vùng, từng dân
tộc để đề ra các chủ trương và biện pháp thích hợp giải quyết tốt chính sách
dân tộc ở địa phương. Vấn đề dân tộc được đề cập trong các Nghị quyết của
Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, trong các báo cáo định kỳ (6 tháng, 1 năm), các
báo cáo chuyên đề (xoá đói giảm nghèo, giáo dục - đào tạo, văn hoá…). Tỉnh
uỷ, Uỷ ban Nhân dân, Ban dân tộc thường xuyên tổng kết các mặt công tác
vùng dân tộc thiểu số kịp thời khắc phục những khó khăn trong quá trình thực
hiện các chủ trương, chính sách miền núi.
Trong những năm đầu đổi mới, sau Nghị quyết 22 với sự nỗ lực của
toàn Đảng, quân và dân tỉnh Yên Bái, đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu
số trên địa bàn tỉnh đã có những đổi thay rõ rệt trên tất cả các mặ. Về kinh tế
đã cố gắng tiếp cận với cơ chế mới, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 3

18


chương trình kinh tế lớn: Sản xuất lương thực, thực phẩm; Hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, khắc phục dần
những khuyết tật của cơ chế cũ, nền kinh tế phát triển có hiệu quả hơn. Chú
trọng đầu tư cơ sở vật chất, tạo thêm năng lực mới cho kinh tế - xã hội. Đời
sống một bộ phận dân tộc cơ bản ổn định và được cải thiện. Các mặt hàng
lương thực, vật tư và hàng hoá tiêu dùng thiết yếu được cung ứng tốt hơn
những năm trước, không có nhiều đột biến lớn về giá cả và có phần dự trữ.

an ninh Tổ quốc, đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, xây dựng các kế hoạch
chống gây rối, bạo loạn, truy quét tội phạm đã thu được kết quả bước đầu.
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi xướng thực hiện ở
Hoàng Liên Sơn đã đạt được những thành tựu bước đầu, tạo tiền đề vật chất
và những kinh nghiệm để Đảng bộ, các cấp chính quyền và quân dân các dân
tộc tiếp tục vươn lên. Tuy nhiên, bên cạnh những thắng lợi còn bộc lộ một số
khuyết điểm, yếu kém:
Mặc dù kinh tế - xã hội đã có bước phát triển hơn trước song vẫn chưa
thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật ít và lạc
hậu khi chuyển sang cơ chế thị trường không phát huy được tác dụng, do đó
ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Cơ cấu kinh tế không
hợp lý, mất cân đối nhất là trong các thành phần kinh tế, quốc doanh, tập thể
và tư nhân.
Chính sách dân tộc thực hiện còn nhiều thiếu sót và chưa đồng bộ. Đời
sống thực tế của người sống bằng tiền lương và hưởng chính sách xã hội bị
giảm sút, tỷ lệ phát triển dân số quá cao, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên bình
quân trên 3,5% (vùng cao 3,7 - 4%) . Còn hàng vạn người chưa có việc làm
hoặc thiếu việc làm, phân bố lao động ở nhiều nơi còn thiếu hợp lý. Trình độ
dân trí thấp, nhất là vùng cao, vùng sâu, toàn tỉnh còn trên 20 vạn người
không biết chữ, tỷ lệ mù chữ trong đồng bào vùng cao lên đến trên 82%, phần
lớn học sinh ở vùng cao chỉ học hết lớp 3, lớp 4., . Bệnh sốt rét, bướu cổ và
suy dinh dưỡng ở trẻ em tuy có giảm sút hơn trước, nhưng vẫn tồn tại trong
đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu (tỷ lệ người mắc bệnh sốt rét 2,8%,

20


bướu cổ 47%, trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 48%). Còn nhiều xã trắng
về y tế và giáo dục...
Vấn đề hưởng thụ văn hoá, tinh thần còn thấp. Nạn trồng và nghiện

các đặc trưng đó Đảng ta chỉ rõ: “Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết
và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” [15, tr.9]. Cương lĩnh chỉ rõ: “Thực hiện chính
sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc , tạo mọi điều kiện để
các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với
sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích,
truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống
tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc” [15, tr.16].
Báo cáo chính trị tại Đại hội VII của Đảng xác định: “Thực hiện chính sách
bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc phát triển đi lên con đường
văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân
tộc Việt Nam” [14, tr.16].
Cụ thể hoá những chủ trương trên trong phương hướng, nhiệm vụ chủ
yếu trong 5 năm 1991-1995 Đảng ta chỉ rõ: Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn
nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời
phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc và chính sách nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta. Đồng thời có chính sách phát triển kinh tế hàng hoá ở các
vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng, từng
dân tộc, đảm bảo cho đồng bào dân tộc khai thác được thế mạnh của địa
phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với
các dân tộc. Đặc biệt khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân
tộc ít người.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VII tiếp tục quan tâm tới sự phát triển của các dân tộc. Nghị quyết đã
nêu lên những tồn tại trong vấn đề thực hiện chính sách dân tộc: Đời sống
nông dân ở một số vùng nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cao,
vùng sâu, vùng trước đây là căn cứ địa cách mạng còn quá nghèo, gặp nhiều

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status