LUẬN VĂN:Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lạnh đạo thực hiện chính sách dân tộc pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lạnh đạo
thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ
1992 - 2000 Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, theo thống kê hiện nay nước ta có 54 dân
tộc, đa số là dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số, còn 53 dân tộc thiểu số chiếm 13,8% dân
số.
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay luôn luôn khẳng định tầm
quan trọng của vấn đề đại đoàn kết dân tộc. Đảng và Bác Hồ đã xem xét và giải quyết
vấn đề dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin. Bác Hồ đã nghiên cứu nghiêm túc và
vận dụng sáng tạo tư tưởng lý luận của
C. Mác và V.I. Lênin để đề ra những quan điểm đúng đắn giải quyết những vấn đề phát
triển của các dân tộc thiểu số nước ta theo phương hướng là đoàn kết các dân tộc trong
đại gia đình Việt Nam trên nguyên tắc bình đẳng, thương yêu và giúp đỡ nhau để đấu
tranh cho độc lập, tự do hạnh phúc chung. Tư tưởng bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau

10 năm 1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Về công tác đối với đồng bào Chăm,
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị ngày 27 tháng 11 năm 1989 Về một số chủ trương chính
sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI, VII, VIII, IX và các Nghị quyết của Đảng trong thời gian gần đây, Đảng bộ tỉnh
Thuận Hải trước đây và Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận (1992) đã vận dụng sáng tạo vào điều
kiện cụ thể của địa phương, lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số góp
phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trên địa bàn của tỉnh.
Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng ở vùng dân tộc thiểu số là một việc làm cần thiết để trên cơ sở đánh giá đúng
thực trạng, rút ra những kinh nghiệm làm căn cứ phát triển cho những năm tới.

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lónh đạo thực
hiện chính sách dân tộc thời kỳ 1992 - 2000" để viết luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên
ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề dân tộc thiểu số cũng như văn hóa của các dân tộc thiểu số, chính sách
dân tộc của Đảng từ trước đến nay đã có nhiều bài viết, nhiều công trình đề cập đến với
nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Tiêu biểu là những công trình sau:
Nguyễn Văn Diệu, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp với: Văn hóa các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997;
Nông Quốc Chấn (cùng nhiều tác giả): Văn hóa và sự phát triển của các dân tộc
ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1997;
Phạm Văn Vang: Kinh tế miền núi và các dân tộc - Thực trạng, vấn đề, giải
pháp, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1996;
Phan Văn Dốp: Tôn giáo của người Chăm Việt Nam, Viện Khoa học xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu về Lễ hội Chăm ở Ninh Thuận do Sở Văn
hóa thông tin Ninh Thuận thực hiện.
Còn rất nhiều bài trong các báo và các tạp chí khoa học đề cập đến chính sách

quát tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Thuận Hải trước đó.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận để nghiên cứu là dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc.

- Quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dân tộc và
đại đoàn kết dân tộc.
5.2. Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu trong luận văn là các Văn kiện của Đảng,
đặc biệt là các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, những Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư
của Trung ương Đảng và Chính phủ; các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Quyết định, Chỉ thị của
ủy ban nhân dân tỉnh cũng như các tài liệu của Sở, Ban, Ngành nói về phát triển kinh tế -
xã hội vùng dân tộc thiểu số.
- Những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của các đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước ta về dân tộc thiểu số và đoàn kết dân tộc.
- Kế thừa có chọn lọc các bài viết, luận văn của các tác giả khác xung quanh
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
- Những kết quả thu được của quá trình nghiên cứu thực tế địa phương các
huyện, thị có dân tộc thiểu số sinh sống ở tỉnh Ninh Thuận.
- Khảo sát thực tiễn qua 15 năm đổi mới kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số của tỉnh Ninh Thuận.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp tác phương pháp: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc,
trao đổi, phỏng vấn, thu thập và xử lý số liệu thống kê Trong đó đi sâu sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu lịch sử như: phương pháp nghiên cứu tư liệu, phương pháp so
sánh lịch sử, phương pháp liên ngành trong nghiên cứu lịch sử, phương pháp tổng kết
thực tiễn.
6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Trình bày có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lãnh đạo, thực hiện

109
0
14’25’’ độ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh
Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông. Là
một tỉnh nằm ở vị trí trung điểm giao thông dọc theo quốc lộ 1A, đường sắt
Thống Nhất và quốc lộ 27 lên Tây Nguyên. Có diện tích tự nhiên 3.360,06 km
2
.
Dân số theo điều tra 01/04/1999 là 505.327 người [8, tr. 23].
Địa hình tỉnh Ninh Thuận bao gồm ba mặt là núi, phía Bắc và phía Nam là hai
dãy núi cao lan ra sát biển, phía Tây là vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng. Có ba dạng:
miền núi, đồng bằng và miền ven biển. Vùng đồng bằng hình thành như một vùng trũng.
Địa hình tương đối dốc và có hướng thấp dần từ Tây sang Đông, từ Tây Bắc xuống Đông
Nam. Đất sản xuất nông nghiệp đã sử dụng 60.372,7 ha. Ngoài đất sản xuất trồng được
những giống lúa có năng suất cao, đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh trồng các
loại cây có giá trị kinh tế cao như: nho, mía, thuốc lá, bông vải Cùng với đất trồng trọt,
Ninh Thuận có 2.600 ha đầm, hồ thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Một trong những đầm
lớn nhất là Đầm Nại với diện tích
650 ha đã và đang khai thác vào nuôi trồng thủy sản.
Bờ biển Ninh Thuận dài 105 km có cửa biển Ninh Chữ, Đông Hải, Cà Ná thuận
lợi cho du lịch, tắm biển, nghỉ điều dưỡng. Ninh Thuận còn có một ngư trường đánh bắt
hải sản rộng gần 18.000 km
2
với trữ lượng trên 120.000 tấn/năm. Có nhiều hải sản quí có

giá trị kinh tế cao như tôm, mực, cá thu, cá mú Ngoài ngư nghiệp ra Ninh Thuận còn có
ưu thế về sản xuất muối công nghiệp ở các vùng như: Cà Ná, Đầm Vua, Quán Thẻ
Bên cạnh tài nguyên đất, rừng, biển Ninh Thuận là tỉnh có một ít tài nguyên
khoáng sản nằm rải rác ở các địa phương trong tỉnh nên khó khai thác ở qui mô công
nghiệp. Khí hậu Ninh Thuận mang tính nhiệt đới gió mùa, có đặc trưng khô nóng và gió

Lâm. Đầu năm 1976 tỉnh Thuận Lâm được tách ra thành hai tỉnh Lâm Đồng và Thuận
Hải. Thực hiện chủ trương của Quốc hội khóa VIII tháng 04/1992 tỉnh Thuận Hải được
tách ra thành hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Tỉnh Ninh Thuận tính đến cuối năm
2000 có ba huyện: Ninh Phước, Ninh Sơn, Ninh Hải và Thị xã Phan Rang - Tháp Chàm.
Kinh tế - xã hội Ninh Thuận chậm phát triển, ở nông thôn và miền núi còn lạc
hậu, đói nghèo chiếm tỷ lệ khá cao. Ninh Thuận có 18 xã trên tổng số 56 xã, phường
thuộc diện đặc biệt khó khăn. Thói làm ăn manh mún, dựa vào kinh nghiệm là chính,
trông chờ vào may rủi của kinh tế tiểu nông, tâm lý ỷ lại vào Nhà nước của thời bao cấp
còn nặng nề.
1.1.2. Đặc điểm tình hình dân tộc thiểu số của tỉnh Ninh Thuận
Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình Ninh Thuận đã hội tụ trong lòng
mình các dân tộc Kinh, Chăm, RagLai, Chu, K

Ho Có tất cả 27 dân tộc anh em cùng
sinh sống. Trong đó đông nhất là người Kinh 394.018 người - chiếm 78%; tiếp đến là
người Chăm 58.770 người - chiếm 11,6%; rồi đến người RagLai 45.137 người - chiếm
8,93%; các dân tộc còn lại 7.402 người - chiếm 1,47%.
Trong luận văn này chúng tôi tập trung phân tích đặc điểm của dân tộc Chăm và
RagLai.
Người Chăm là một trong 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam,
hiện có 99.000 người, thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo, cư trú tập trung
ở các tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận ngoài ra còn có ở các tỉnh Bình Định,
tỉnh Phú Yên, tỉnh Đồng Nai, tỉnh An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh [45,
tr. 34-35].

Riêng ở Ninh Thuận hiện có 58.770 người, chiếm 59,36% so với tổng số người
Chăm trong cả nước. Người Chăm ở Ninh Thuận cư trú xen kẽ với các dân tộc anh em ở
22 thôn thuộc 12 xã của 4 huyện, thị trong tỉnh, nhưng tập trung ở huyện Ninh Phước có
đến 18 thôn của 8 xã. Hình thái cư trú của người Chăm phổ biến là ở đồng bằng tập trung
lại thành từng khu vực riêng biệt gọi là Plây Chăm (làng Chăm) thông thường mỗi Plây

hóa.
Về tôn giáo: Qua lịch sử phát triển của Vương quốc Chăm Pa chúng ta nhận
thấy, ngay từ những ngày lập quốc, các vương triều Chăm Pa cổ đã gắn chặt với một số
tín ngưỡng tôn giáo và các tín ngưỡng tôn giáo ấy đã tác động mạnh mẽ chi phối công
việc triều chính cũng như các sinh hoạt thường ngày của người dân Chăm Pa. Từ thế kỷ I
đến thế kỷ II, khi Phạm Thệ - một vị vua của người Chăm đã thống nhất hai tiểu quốc đầu
tiên của người Chăm là Nam Chăm và Bắc Chăm (tức là bộ lạc Cau-pi-nang và bộ lạc
Dừa-li-u trước đây) thành một nhà nước độc lập đầu tiên của người Chăm vào năm 192
mở đầu cho vương triều Lâm ấp tồn tại đến giữa thế kỷ thứ VII. Trải qua chín đời vua
của Vương triều này, hầu như đất nước Chăm Ơa cổ đã chịu ảnh hưởng rất lớn nền văn
hóa ấn Độ và ấn độ giáo (Bà la môn giáo, Hin đu giáo). Bà la môn giáo trở thành tôn giáo
chính thống đóng một vai trò rất quan trọng và chi phối mạnh mẽ đời sống xã hội của
cộng đồng người Chăm. Vị trí chính thống của Bà la môn giáo dù có những lúc thịnh, lúc
suy nhưng vẫn được tiếp tục duy trì cho đến vương triều Vijaga (Si-Pi-Nừi) từ 1036 -
1400. Trải qua hàng chục thế kỷ, Bà la môn giáo đã có những ảnh hưởng sâu đậm và toàn
diện đối với đời sống người Chăm. Tuy nhiên, khi du nhập vào cộng đồng người Chăm -
một dân tộc có bề dày văn hóa đặc sắc, Bà la môn giáo đã không còn giữ nguyên vẹn
những đặc điểm nguyên thủy mà được "Chăm hóa" để phù hợp với điều kiện tự nhiên,
nhu cầu tín ngưỡng của người Chăm. Nhưng dẫu sao Bà la môn giáo cũng đã để lại
những dấu ấn đậm nét trong đời sống xã hội của người Chăm. Đặc biệt là trên lĩnh vực
đời sống văn hóa tinh thần thông qua những công trình kiến trúc (tháp Chăm), âm nhạc,
điêu khắc cũng như những phong tục, tập quán của người Chăm.

Bên cạnh Bà la môn giáo, Phật giáo cũng đã từng bước du nhập vào cộng đồng
người Chăm và có một thời kỳ từ cuối thế kỷ IX đến đầu thế
kỷ X thuộc Vương triều Đồng Dương (Indrapura) Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Nó
thực sự chiếm ưu thế tuyệt đối trong vương quyền. Đồng thời cũng lan rộng và chi phối
hầu hết các lĩnh vực hoạt động xã hội của vương quốc Chăm Pa. Trong đó Indravarman
II là một vị vua người Chăm rất sùng bái Phật giáo, chính ông là người đã cho xây Phật
viện (Vihara) rất lớn tại Đồng Dương vào năm 875. Song Phật giáo với triết lý khổ hạnh

còn lại theo một số đạo khác như Tin Lành, Công giáo khoảng 700 người (1,1%).
Giữa Bà la môn giáo và Hồi giáo có những điểm khác nhau cơ bản. Bà la môn
giáo thờ đa thần mà chủ yếu là thờ giáo chủ Bramaha và thần Siva. Trong ăn uống họ
kiêng ăn thịt bò, khi chết tiến hành hỏa táng. Ăn tết Katê hàng năm vào tháng 7 Chăm
lịch (khoảng tháng 9 âm lịch). Hồi giáo thờ độc thần là thánh Allah. Trong ăn uống họ
kiêng ăn thịt lợn, khi chết tiến hành địa táng. Ăn tết hàng năm vào tháng Ramadan.
Tuy vậy giữa người Chăm Bà la môn và người Chăm Hồi giáo vẫn có quan hệ
khăng khít với nhau trên cơ sở cùng một cộng đồng dân tộc có chung tiếng nói, chữ viết,
cùng có những phong tục tập quán tín ngưỡng bản địa của dân tộc Chăm có từ ngàn xưa.
Chẳng hạn, người Chăm vẫn lưu giữ nhiều lễ hội dân gian Chăm từ những lễ nghi của cư
dân trồng lúa nước như lễ liên quan đến thủy lợi (lễ PLaoSah, lễ Ông cai đập, Ông cai
mương) đến lễ dựng chòi, lễ mừng lúa mới đến những lễ hội lớn như Ramadan, Katê.
Người Chăm đến nay vẫn theo quan hệ mẫu hệ, con gái lấy họ mẹ, con trai theo
họ cha. Trong hôn nhân bao giờ cũng do đàng gái chủ động trong lễ hỏi, lễ cưới. Người
con trai được người con gái cưới về nhà mình. Chính xuất phát từ điểm này trong dân tộc
Chăm bao giờ con trai cũng
được học hành chu đáo, học lên các lớp cao hơn con gái vì người Chăm cho rằng phải
cho con trai mình học hành chu đáo để khi về "làm dâu" nhà gái không bị coi thường.
Trong hôn nhân vẫn có phân biệt giữa hai tôn giáo, vẫn có sự cấm kỵ, nhưng trong thực
tế thì trai, gái hai tôn giáo vẫn có sự kết hôn với nhau.

Về chính trị: Trong lịch sử người Việt và người Chăm đã có truyền thống đoàn
kết chống giặc ngoại xâm: như cuộc chiến đấu chống xâm lược nhà Hán từ những năm
đầu công nguyên, cuộc chiến đấu đánh đuổi quân Java vào thế kỷ thứ VIII, chống quân
Mông Nguyên vào thế kỷ XIII.
Tháng 12 năm 1282 quân Mông Nguyên xâm lược Chăm Pa, nhân
dân Chăm Pa anh dũng kháng chiến và phối hợp với cuộc kháng chiến của
nhân dân Đại Việt. Cuộc kháng chiến thắng lợi của Đại Việt vào năm 1285 đã
góp phần giải phóng hoàn toàn Chăm Pa [46, tr. 86].
Cùng sát cánh bên nhau dưới ngọn cờ khởi nghĩa của phong trào Tây Sơn chống

những trí thức cũ được Mỹ - Ngụy đào tạo Đồng thời lôi kéo kêu gọi thanh niên trí thức
Chăm mang súng ra rừng gia nhập Fulrô và phát động chiến dịch "Chế Bồng Nga" để
đánh phá cách mạng.
Nhưng âm mưu gây rối và phá hoại của chúng bị ta phát hiện và tiêu diệt. Đến
năm 1977, lực lượng Fulrô đã hoàn toàn tan rã. Một số chạy về đầu thú làm ăn lương
thiện, một số trốn sang lưu vong ở nước ngoài nhưng vẫn tìm cách móc nối liên lạc với
những người Chăm ở trong nước. Những người này đã lôi kéo một số trí thức, chức sắc
trong các tôn giáo thường xuyên liên lạc thư từ với các trí thức cũ người Chăm ở nước
ngoài, bày tỏ tâm trạng bất mãn với chế độ, viết tin bài nói xấu chế độ ta, vu cáo Nhà
nước ta phân biệt đối xử với dân tộc Chăm hoặc nhờ những trí thức cũ người Chăm ở
nước ngoài can thiệp với nước sở tại và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
bảo lãnh cho họ ra nước ngoài sinh sống hoặc yêu cầu viện trợ kinh phí để xây dựng, sửa
chữa những thánh thất. Những trí thức cũ người Chăm còn tổ chức, gợi ý cho những trí
thức trẻ trong dân tộc mình thành lập những đội, nhóm "bình thơ" để công khai tụ tập với
nhau, trao đổi thông tin, thảo luận tình hình, thời cuộc, khơi dậy tinh thần dân tộc cực
đoan, nhắc lại quá khứ đau buồn của dân tộc mình gây ra tâm lý hoang mang hoài nghi
chế độ và tiền đồ tương lai của chính họ trong tầng lớp sinh viên, thanh niên dân tộc
Chăm.

Tỉnh Ninh Thuận có 29 xã miền núi, vùng cao, chia thành ba khu vực: Khu vực I
có 4 xã; khu vực II có 10 xã và khu vực III có 15 xã. Trong đó có 18 xã đặc biệt khó khăn
được đầu tư theo chương trình 135 của Chính phủ. Tổng diện tích tự nhiên 257.844 ha
(đất nông nghiệp 31.790 ha). Có 29.834 hộ, 160.953 nhân khẩu, đông nhất là dân tộc
RagLai.
RagLai: Là một trong 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
hiện có 70.000 người, thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo, sinh sống tập
trung ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận với nhiều tên gọi khác
nhau như RagLai, Rai (hay Krai), Noang, Na oang, Orang, Glai [45, tr. 160].
Riêng ở Ninh Thuận có 45.137 người chiếm 64,5% so với tổng số người RagLai
trong cả nước.

nhân, thờ cúng, phân xử các thắc mắc trong gia đình
Hôn nhân theo chế độ mẫu hệ, con theo họ mẹ, phụ nữ là chủ nhà, thường thì con
gái đi tìm hiểu con trai, ưng thì cưới về làm chồng và ở bên nhà vợ, ông Cậu có vai trò
quan trọng trong việc cháu gái lấy chồng. Người RagLai không có những ràng buộc khắt
khe trong hôn nhân, khi người vợ chết người chồng có thể về nhà mẹ đẻ và đi lấy vợ khác
hoặc vẫn ở nhà vợ nhưng phải lấy em hoặc chị vợ. Khi người chồng chết, người vợ có thể
lấy chồng khác và có thể lấy anh hoặc em trai người chồng cũ.
Hoạt động kinh tế đã tồn tại từ lâu đời được người RagLai ở Ninh Thuận áp dụng
trên nhiều vùng đất đai khác nhau là phát rừng làm rẫy dưới hình thức du canh du cư,
chuyển đổi đất canh tác theo tập quán sản xuất cổ truyền lạc hậu. Người RagLai phát
rừng làm rẫy, trỉa hạt, trồng bắp, trồng lúa tùy thuộc vào đất rẫy xấu hay tốt, sau 3 - 5
năm dời đi nơi khác và 15 - 20 năm sau mới quay trở lại. Ngô là cây lương thực chính.
Chăn nuôi chủ yếu là gia cầm như gà, vịt, gia súc không nhiều chủ yếu là trâu và dê, chăn
nuôi thả rông quanh nhà.

Nghề thủ công của người RagLai nhìn chung đơn sơ, chủ yếu tiến hành trong các
gia đình như đan lát, rèn, gốm. Sản phẩm chủ yếu là công cụ sản xuất và đồ dùng sinh
hoạt. Người RagLai không biết dệt vải. Kinh tế dân tộc RagLai chủ yếu là kinh tế tự cung
tự cấp.
Đời sống tín ngưỡng của người RagLai: Giàng (ông Trời) được coi là vị thần tối
cao của thế giới thần linh, bao gồm cả thần thiện và thần ác, con người sau khi chết vẫn
tồn tại linh hồn.
Về văn hóa: Người RagLai có một kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian phong
phú với nhiều trường ca, truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết lịch sử, sinh hoạt
văn nghệ, ca hát đối đáp, nhạc cụ có mả la (chiêng, cồng), đàn đá (đã phát hiện ra đàn đá
Bác ái, đàn đá Khánh Sơn), kèn môi, đàn Chapi (đàn làm bằng ống tre). Lễ hội lớn nhất
hàng năm để tạ ơn Giàng được tổ chức trọng thể sau mùa thu hoạch.
Nét nổi bật ở người RagLai là truyền thống đoàn kết, cộng đồng, dân chủ, quan
tâm, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, tính cách thật thà, chất phác, dũng cảm.
Trải qua các cuộc đấu tranh chống xâm lược để bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là hai

Ngoài hai dân tộc Chăm và RagLai đã nêu các dân tộc thiểu số còn lại ở Ninh
Thuận rất ít như người Hoa chỉ chiếm 0,49%; người Nùng 0,11%; người Tày 0,02%;
người Mường 0,01% sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác.
1.2. Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận cụ thể hóa và thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng
1.2.1. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
1.2.1.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập một cách toàn diện vấn đề dân tộc và
đề ra những giải pháp triệt để giải quyết vấn đề dân tộc
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc gắn bó chặt chẽ
với nhau, khẳng định sự áp bức bóc lột của giai cấp này với giai cấp khác là nguồn gốc

áp bức của dân tộc này đối với dân tộc khác. C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu lên luận
điểm nổi tiếng: "Một dân tộc đi áp bức dân tộc khác thì dân tộc ấy không thể có tự do"
[37, tr. 625]. Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, khi chủ nghĩa đế quốc bóc lột và nô dịch
nhân dân toàn thế giới, vấn đề dân tộc càng trở nên quan trọng và cấp thiết, mối quan hệ
giữa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản và cuộc đấu tranh của các
dân tộc thuộc địa, bị áp bức chống đế quốc ngày càng trở nên chặt chẽ. V.I. Lênin và
Quốc tế cộng sản đã phát triển học thuyết của C.Mác và PĂngghenen về vấn đề dân tộc
và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đề ra khẩu hiện: "Vô sản tất cả các nước và các dân
tộc bị áp bức đoàn kết lại".
Ngày nay, sau khi Liên Xô tan rã, cục diện đối đầu hai cực trên thế giới không
còn, vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc trên thế giới đang trở thành một vấn đề chính trị -
xã hội phức tạp, là nguy cơ gây mất ổn định, làm bùng nổ những xung đột ở nhiều nơi.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực đen tối cũng đang triệt để lợi dụng những mâu thuẫn
dân tộc để thực hiện âm mưu bành trướng, bá quyền, áp đặt chế độ chính trị, mở rộng
phạm vi ảnh hưởng và khống chế các dân tộc trên thế giới, dưới chiêu bài "nhân quyền
cao hơn chủ quyền" để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Vì vậy, vấn đề
dân tộc vẫn luôn luôn là vấn đề thường trực và chính sách dân tộc có tầm quan trọng đặc
biệt đối với nhiều quốc gia. Cương lĩnh dân tộc của V.I. Lênin vẫn tiếp tục soi sáng cho
các Đảng Cộng sản giải quyết đúng đắn các vấn đề dân tộc. Cương lĩnh về vấn đề dân tộc

dẫn đến những sai lầm trong chính sách dân tộc, xuất hiện nguy cơ xung đột dân tộc, ly
khai, ly tâm, tan rã đối với nhiều quốc gia, kéo lùi sự tiến hóa lịch sử. Ngày nay, vấn đề
dân tộc đang diễn biến vô cùng phức tạp. Những xung đột dân tộc, tộc người, những mưu
đồ đồng hóa dân tộc vẫn tiếp tục tồn tại dưới nhiều hình thái tinh vi. Việc giải quyết
những tranh chấp hay mâu thuẫn liên quan đến dân tộc, tôn giáo, đòi hỏi chúng ta phải
nhận thức một cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và vận dụng một cách sáng suốt, cụ thể những
nội dung Cương lĩnh dân tộc của V.I. Lênin. Vấn đề quan trọng không chỉ trong giải quyết
các quan hệ dân tộc, quốc gia mà còn là yêu cầu cần thiết cho việc vạch ra và thực hiện
đúng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong một quốc gia đa dân tộc.

1.2.1.2. Những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự phát triển của các dân
tộc thiểu số và miền núi
Hồ Chí Minh là người đảng viên Đảng Cộng sản đầu tiên của nhân dân các dân
tộc nước ta xem xét và giải quyết các vấn đề dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin.
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu nghiêm túc và vận dụng sáng tạo tư tưởng lý luận của
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin để đề ra những quan điểm đúng đắn giải quyết vấn đề
phát triển của các dân tộc thiểu số và miền núi nước ta theo phương hướng là đoàn kết
các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam trên nguyên tắc bình đẳng, thương yêu và giúp
đỡ lẫn nhau để đấu tranh cho độc lập, tự do và hạnh phúc chung. Tư tưởng bình đẳng,
đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ là nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc được nêu từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930. Tư tưởng của Hồ Chí
Minh trong giải quyết vấn đề phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi của nước ta được
thể hiện trên mấy nội dung cơ bản sau:
Một là, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tất cả các dân tộc. Nước ta là một
nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình
đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với
nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu
tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp. Đại đoàn kết dân tộc là một tư tưởng lớn của Hồ Chí
Minh. Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở thành chiến lược đại đoàn kết của Đảng
ta và là một nhân tố cực kỳ quan trọng góp phần quyết định thắng lợi trong sự nghiệp

của cả nước ta" [39, tr. 608]. Vùng núi là nơi sinh sống của phần lớn đồng bào các dân
tộc. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc cả
nước phải coi trọng vấn đề dân tộc và nhìn nhận đó là bộ phận quan trọng có tính chất
chiến lược của cách mạng Việt Nam, liên quan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của
đất nước.
Ba là, Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng việc đề ra các biện pháp và những
bước đi thích hợp là có ý nghĩa vô cùng to lớn để xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa ở

vùng đồng bào dân tộc và miền núi. Theo Hồ Chí Minh điều quan trọng trước hết cần
hiểu mỗi dân tộc có bản sắc riêng rất phong phú rất đa dạng cho nên trong công tác chỉ
đạo, tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số phải đặc biệt lưu ý tính đặc thù dân
tộc, hiểu biết đầy đủ những khác biệt cụ thể của từng vùng, từng dân tộc mà bổ khuyết
chính sách, tránh những biểu hiện chủ quan, áp đặt. Hồ Chí Minh nhắc nhở: "Một tỉnh có
đồng bào Thái, đồng bào Mèo thì tuyên truyền huấn luyện đối với đồng bào Thái khác,
đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp. Bởi vì đời sống, trình độ của đồng
bào Mèo và Thái khác nhau, cho nên tuyên truyền huấn luyện phải khác" [40, tr. 128].
Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải gắn bó thật sự với đồng bào, nắm vững và phân
tích đúng tình hình, hiểu rõ phong tục tập quán mọi nơi và làm cho đồng bào tin yêu mà
tiến hành công tác vận động đồng bào miền núi cụ thể, thiết thực, phù hợp, dễ hiểu để
đồng bào làm được. Các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa ở
miền núi đòi hỏi phải thực hiện khẩn trương, nhưng không thể nóng vội, rập khuôn máy
móc mà phải thận trọng, vững chắc, toàn diện, hiệu quả, đem lại lợi ích cho đồng bào ta.
Bốn là, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm khẳng định kịp thời những thành công
đã đạt được của đồng bào các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giữ gìn an ninh quốc gia và
động viên đồng bào các dân tộc miền núi tiếp tục phấn đấu vươn lên. Hồ Chí Minh rất
vui mừng khi thấy: "Đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi đã có nhiều tiến bộ, về
cả hai mặt vật chất và tinh thần" [40, tr. 132]. Hồ Chí Minh biểu dương từng thành tựu
của đồng bào các dân tộc thiểu số và tin tưởng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền núi. Theo Hồ Chí Minh việc gì khả năng điều kiện cho phép thì địa
phương miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số phải tự giải quyết, tự vươn lên, ví như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status