ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ (2001 2010) - Pdf 39

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Ban Chấp hành Trung ương

BCHTƯ

Chính sách dân tộc

CSDT

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Cơ sở hạ tầng

CSHT

Dân tộc thiểu số

DTTS

Hệ thống chính trị


ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Yêu cầu khách quan về lãnh đạo thực hiện chính sách

11

1.2.

dân tộc của Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về thực hiện chính

25

1.3.

sách dân tộc trong những năm 2001 - 2010
Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo thực hiện chính sách

dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 2 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH

35

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ
48

2.1.

NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của
Đảng và nhân dân ta. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về vấn đề dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, Đảng đã đề ra nguyên tắc
quan hệ giữa các dân tộc là: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ. Đặc biệt gần đây nhất, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI (6/2011) Đảng tiếp tục khẳng định: “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam
bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển” [24, tr.70].
Thực hiện đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo, công tác dân tộc và thực hiện CSDT đã thu được những thành
tựu quan trọng. Sau hơn 25 năm đổi mới, KT - XH ở vùng DTTS, vùng
sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, đã có những bước phát triển
khá nhanh và toàn diện. Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào
ổn định chính trị xã hội của đất nước, từng bước nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho nhân dân.
Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc miền Trung, có vị trí chiến lược quan
trọng về phát triển KT - XH và quốc phòng, an ninh của khu vực cũng như cả
nước. Toàn tỉnh có khoảng 20 DTTS, cư trú chủ yếu ở vùng rừng núi cao phía
Tây, xa xôi, hẻo lánh. Từ xa xưa, các dân tộc sinh sống trên địa bàn Nghệ An
luôn đoàn kết, gắn bó, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


4

Trong những năm đổi mới đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH, cùng với
chủ trương tập trung phát triển KT - XH, Đảng bộ tỉnh Nghệ An chú trọng
lãnh đạo thực hiện CSDT, nhất là từ khi có Nghị quyết số 22/NQ-TƯ, ngày
27 tháng 11 năm 1989 của Bộ Chính trị, các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc
và Nghị quyết lần thứ bảy BCHTƯ Đảng khóa IX về công tác dân tộc. Theo
đó, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã quán triệt và vận dụng sáng tạo vào điều kiện

các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi (1996) do
GS, TS Bế Viết Đẳng làm chủ biên. Đây là đề tài khoa học cấp nhà nước,
trình bày vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc trên thế giới và ở Việt
Nam, đồng thời trình bày quá trình thực hiện CSDT trong thời kỳ đổi mới ở
Việt Nam; đánh giá thực trạng phát triển KT - XH ở vùng đồng bào các
DTTS và miền núi nước ta; xây dựng những luận cứ khoa học, đề xuất một số
giải cụ thể cơ bản nhằm thực hiện CSDT, phát triển KT - XH ở các DTTS
vùng miền núi và một số kiến nghị.
Cuốn sách Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản
Việt Nam (2000), của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương. Là tài liệu
dùng để học tập và tuyên truyền CSDT của Đảng. Tài liệu đã làm rõ những
vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc trên thế giới, tình hình, đặc điểm chủ yếu
và mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta; nêu lên những CSDT của Đảng và
Nhà nước ta qua các giai đoạn cách mạng. Chỉ ra những yêu cầu, nhiệm vụ
của tổ chức cơ sở Đảng và cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện CSDT.
Cuốn Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam
(2003), của TS Bùi Minh Đạo. Đây là cuốn sách tham khảo trong giảng dạy ở
các trường đại học, nêu lên những quan niệm về đói nghèo, chuẩn nghèo, đánh
giá tỉ lệ đói nghèo ở vùng DTTS Việt Nam. Nêu những chính sách về xóa đói,
giảm nghèo của Đảng, Nhà nước. Thực trạng kết quả xóa đói, giảm nghèo ở
vùng DTTS ở nước ta, đề xuất những giải pháp tăng cường xóa đói, giảm nghèo
cho đồng bào DTTS trong giai đoạn hiện nay;
Công trình Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện
nay (2006), của PGS. TS Phan Xuân Sơn, ThS Lưu Văn Quảng (Đồng chủ
biên), là công trình khoa học có tính chất tổng kết lý luận và thực tiễn sâu sắc


6

về CSDT ở nước ta. Các tác giả làm rõ bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc,


nêu lên những đặc trưng văn hóa truyền thống của các dân tộc, thực trạng giữ
gìn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc; đề xuất những giải pháp
quan trọng nhằm khôi phục, giữ gìn, phát huy văn hóa của các dân tộc.
* Nhóm các bài báo khoa học được đăng tải trên các báo, tạp chí
Nông Đức Mạnh, “Mấy vấn đề bức thiết đối với các vùng dân tộc thiểu
số hiện nay”, Tạp chí Cộng sản (8/1992); Nguyễn Khắc Mai, “Những vấn đề
đặt ra đối với chính sách dân tộc trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Quốc
phòng toàn dân, số 2/1998; Bùi Xuân Trường, “Một số vấn đề dân tộc và thực
hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay”,
Tạp chí Giáo dục lý luận, số 2/1996; Cư Hòa Vần, “Thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,
Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 1/1998... các tác giả đã phân tích sâu sắc
vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, làm rõ thực trạng và những vấn đề cấp bách
đặt ra đối với đồng bào các DTTS ở nước ta hiện nay, qua đó đề xuất một số
nội dung cần thiết để vận dụng trong quá trình hoạch định CSDT nhằm xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới.
* Nhóm các luận văn, luận án đã bảo vệ
Đinh Văn Hưng (2004), “Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo thực hiện
chính sách dân tộc từ 1986 đến 2003”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội;
Nguyễn Văn Nhiên (2012), “Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo vận động đồng
bào dân tộc từ năm 1991 đến năm 2000”, Luận văn Thạc sỹ Lịch sử, Hà Nội;
Trần Xuân Thuyết (2006), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước từ 1996 đến 2005”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội;
Ngô Sáu (1995), “Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1976 -1994) qua thực tiễn ở
Tây Nguyên”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Nguyễn Anh Tuấn
(2011), “Đảng bộ tỉnh Bình Phước lãnh đạo công tác dân tộc từ năm 2000




9

- Làm rõ điều kiện tự nhiên, KT - XH của tỉnh Nghệ An tác động đến quá
trình lãnh đạo thực hiện CSDT; thực trạng thực hiện CSDT ở tỉnh Nghệ An trước
năm 2001 và yêu cầu lãnh đạo thực hiện CSDT từ năm 2001 đến năm 2010.
- Trình bày có hệ thống quá trình vận dụng đường lối, CSDT của Đảng
và Nhà nước vào thực tiễn thực hiện các chính sách đó ở tỉnh Nghệ An từ
2001 đến 2010.
- Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm
trong quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện CSDT của Đảng từ
năm 2001 đến năm 2010.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về thực hiện
CSDT của Đảng trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010.
* Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về thực hiện CSDT của Đảng.
Về thời gian: từ năm 2001 đến năm 2010.
Về không gian: địa bàn tỉnh Nghệ An.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận:
- Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc.
- Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân
tộc và CSDT qua các thời kỳ, nhất là trong thời kỳ đổi mới.
* Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Lịch sử Đảng, sử

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
TỘC CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1.1. Yêu cầu khách quan về lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng bộ tỉnh Nghệ An
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An tác động
đến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về thực hiện chính sách dân tộc
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An
Nghệ An là tỉnh thuộc trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý
103o 52’ 30” - 105o 48’ 20” kinh độ Đông, 18o 33’ 08” – 19o 59’ 52” vĩ độ Bắc.
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp
nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào với ba tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng,
Bôlykhămxay có chung đường biên giới 419,5 km; phía Đông giáp biển Đông
với bờ biển dài 82 km. Diện tích tự nhiên là 16.493,7 km 2, chiếm 5,1% diện
tích tự nhiên cả nước, dân số theo số liệu điều tra năm 2009, khoảng
2.942.900 người, mật độ 178 người/km2.
Địa hình Nghệ An vừa dài và rộng, có cả miền núi, trung du, đồng bằng
và vùng ven biển. Miền núi và trung du rộng lớn, chiếm khoảng 83% diện
tích toàn tỉnh, là nơi sinh sống của đồng bào các DTTS, có nhiều núi cao hiểm
trở, có vùng đất đỏ bazan với sản vật, cây công nghiệp phong phú, nhiều
khoáng sản giàu có và quý hiếm như sắt, mangan, than (Khe Bố, huyện
Tương Dương), vàng (dọc sông Nậm Nơn và Mậm Mộ), thiếc (Quỳ Hợp), đá
Rubi (Quỳ Châu và Quỳ Hợp) v.v…, có rừng đa dạng về chủng loại cây nhiệt
đới, nhiều loại lâm sản có giá trị kinh tế cao. Có nhiều sông ngòi, hầu hết các
sông có độ dốc lớn, ngắn, nhiều ghềnh thác cao.
Khí hậu Nghệ An khắc nghiệt hơn các địa phương khác, nắng nóng kéo
dài, nhiệt độ cao kèm theo gió Phơn (gió nam), khô hanh gây ra những đợt


12



5,59 triệu đồng/người/năm [13, tr.12]; thời kỳ 2006 - 2010 là 9,75%, GDP bình
quân đạt 14,16 triệu đồng/người/năm [14, tr.11]. Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ
44,3% năm 2000 xuống 28,47% năm 2010; tỷ trọng ngành công nghiệp - xây
dựng tăng từ 18,6% năm 2000 lên 33,44% năm 2010; tỷ trọng ngành dịch vụ
tăng từ 36,29% năm 2005 lên 38,09% năm 2010. Như vậy, tăng trưởng kinh tế
đạt mức khá cao, các ngành kinh tế đều tăng trưởng khá, chất lượng tăng trưởng
được cải thiện, nhiều chỉ tiêu KT - XH đạt được mức cao, đời sống nhân dân
từng bước được nâng lên. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, tỷ trọng công
nghiệp, xây dựng tăng, cơ cấu thành phần kinh tế xuất hiện những sản phẩm mới
với công nghệ tiên tiến hơn trong công nghiệp, dịch vụ, việc chuyển đổi cơ cấu
trong sản xuất nông nghiệp cũng có bước tiến nhất định.
Về sự phân chia hành chính, địa danh Nghệ An xuất hiện từ triều Lý,
Thiên Thành thứ 3 năm 1030 (thế kỷ XI). Trải qua nhiều biến đổi của lịch sử,
sự phân chia hành chính của tỉnh cũng khác nhau. Sau khi miền Nam hoàn
toàn giải phóng, ngày 27/12/1975, Nghệ An cùng Hà Tĩnh sáp nhập thành
tỉnh Nghệ Tĩnh. Ngày 12/8/1991, tỉnh Nghệ An được tái lập và giữ nguyên về
hành chính cho đến nay. Tổ chức hành chính của Nghệ An gồm thành phố
Vinh, thị xã Cửa Lò, thị xã Thái Hòa và 17 huyện là: Diễn Châu, Yên Thành,
Quỳnh Lưu, Đô Lương, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc, Thanh Chương,
Anh Sơn, Tân Kỳ, Kỳ Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp,
Quỳ Châu, Quế Phong với 17 thị trấn, 25 phường và 434 xã.
Nghệ An là một vùng đất cổ, từ thời đồ đá cũ cách đây hàng chục vạn
năm, đã phát hiện con người sinh sống ở hang Thẩm Ồm (Quỳ Châu). Qua hệ
thống các di chỉ khảo cổ học đã nghiên cứu cho thấy sự nối tiếp liên tục từ thời
đại đồ đá đến thời đại đồ đồng, đồ sắt với đỉnh cao là di chỉ Làng Vạc thuộc Văn
hoá Đông Sơn, một trong những cái nôi của người Việt cổ và là cương vực lâu
đời của đất nước. Vùng đất này còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, cách mạng nổi
tiếng. Là một tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều mang một




15

Ngoài các dân tộc chủ yếu trên đây, ở Nghệ An còn có khoảng 15 DTTS khác
di cư từ nơi khác đến, cư trú đan xen cùng với các bản, làng các dân tộc khác, nên có
nhiều nét tương đồng và chịu ảnh ảnh các nét văn hóa của các dân tộc bản địa.
Các DTTS ở Nghệ An có truyền thống yêu nước, cần cù trong lao động sản
xuất, đoàn kết, gắn bó, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, tin tưởng tuyệt đối
vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Mỗi dân tộc đều có bản sắc
văn hóa riêng góp phần làm phong phú văn hóa dân tộc Việt Nam.
Các DTTS cư trú phân tán, xen kẽ là phổ biến, số đồng bào cùng dòng
tộc sống thành từng làng, xã rất ít, cư trú ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
là chủ yếu. Cũng vì thế, việc phát triển kinh tế, xã hội đối với đồng bào gặp
nhiều khó khăn.
Quy mô và trình độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội các dân tộc còn nhiều
chênh lệch lớn so với vùng đồng bằng. Trình độ văn hóa của đồng bào còn thấp,
một số dân tộc còn mang nặng nhiều tập tục lạc hậu, sống chủ yếu dựa vào điều
kiện thiên nhiên, chưa thích ứng với khoa học kỹ thuật hiện đại.
Các DTTS ở trong tỉnh có sinh hoạt văn hóa truyền thống đa dạng,
phong phú, có nhiều lễ hội mang đậm nét bản địa. Một số dân tộc có mối
quan hệ gắn bó huyết thống với các bộ tộc Lào bên kia biên giới, nên việc di
cư, đi lại qua biên giới khá phổ biến. Một bộ phận đồng bào DTTS còn chịu
nhiều ảnh hưởng của tập tục lạc hậu, chưa ổn định cuộc sống, định canh, định
cư, còn di cư tự do làm mất ổn định tình hình xã hội.
1.1.2. Thực trạng thực hiện chính sách dân tộc của tỉnh trước năm 2001
* Thành tựu và nguyên nhân
Trong lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng nói chung và tỉnh Nghệ An
nói riêng, đồng bào các DTTS là một bộ phận trong khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Đồng bào các DTTS có truyền thống đoàn kết, yêu nước, lao động cần cù,

chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh, tình hình KT - XH, quốc phòng, an ninh
ở vùng miền núi, vùng DTTS đã có nhiều chuyển biến quan trọng, góp phần thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và với tiến bộ xã hội. Từ đó, đời sống
đồng bào từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần.


17

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, nhất là
sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, công tác dân tộc trên địa
bàn tỉnh Nghệ An trước năm 2001 đạt được những thành tựu quan trọng.
Một là, nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền và các ban, ngành ở
địa phương về CSDT của Đảng được nâng lên một bước. Các nghị quyết của
Tỉnh ủy và các chủ trương, chính sách của Trung ương đã được cụ thể hóa
thành các chương trình hành động hướng về cơ sở miền núi và dân tộc ngày
càng tốt hơn, đội ngũ cán bộ các cấp nhiệt tình, trách nhiệm, sâu sát với nhân
dân vùng miền núi và đồng bào các DTTS, nhân dân miền núi và đồng bào
DTTS phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Hai là, tình hình kinh tế miền núi và vùng DTTS của tỉnh Nghệ An đã
có sự phát triển tương đối toàn diện. Các lĩnh vực kinh tế đều tăng trưởng
khá, nhất là trong nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng và công
nghiệp chế biến. Công tác xóa đói, giảm nghèo ở vùng đồng bào các DTTS
đạt được nhiều kết quả. Đã triển khai nhiều dự án, nhiều hình thức phong phú
nhằm thực hiện xóa đói, giảm nghèo. Trong 5 năm từ 1996 đến 2000 có gần
12.000 hộ đồng bào DTTS được vay vốn xóa đói, giảm nghèo.
Ba là, các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa thông tin, phát thanh
truyền hình, báo chí, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác dân số
kế hoạch hóa gia đình, phong trào thể dục, thể thao ở vùng miền núi và DTTS
đều có những bước phát triển cả quy mô và chất lượng. Đời sống tinh thần
của đa số đồng bào các dân tộc, nhất là ở các thị trấn, thị tứ, dọc các trục

Hạn chế
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở miền núi còn chậm, đời sống đồng
bào DTTS ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Phương hướng sản
xuất, tính ổn định lâu dài còn lúng túng, thậm chí chưa xác định được. Trong
sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi chậm đổi mới,
nhất là vùng sâu, vùng xa. Tiềm năng đất đai lớn, nhưng còn để lãng phí, hiệu
quả sản xuất trên một đơn vị diện tích gieo trồng còn thấp. Sản xuất chủ yếu là
nông nghiệp, hình thức nhỏ, phân tán, tập quán canh tác còn lạc hậu, còn phụ


19

thuộc vào điều kiện thiên nhiên là chủ yếu, chất lượng, hiệu quả, năng suất
thấp. Phát triển kinh tế hàng hóa chưa đáng kể, một bộ phận đồng bào định
canh, định cư còn thiếu đất sản xuất, nên hiện tượng du canh, du cư tự do còn
diễn biến phức tạp. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất còn bất cập so với yêu cầu
và vị trí chiến lược của miền núi và DTTS, đầu tư còn dàn trải, chất lượng các
công trình thấp. Các cơ sở và điều kiện phục vụ cho chuyển hướng sản xuất
còn thiếu nhiều, đường giao thông đi lại còn khó khăn, nhất là vào mùa mưa,
nhiều vùng bị chia cắt.
Hai là, tỉ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc còn cao, có sự chênh lệch lớn so
với đồng bằng. Kết quả xóa đói, giảm nghèo chưa vững chắc, tỉ lệ đói nghèo
còn cao so với tỉ lệ chung của cả tỉnh. Đến cuối năm 2000, bình quân của các
huyện miền núi còn 26,46% số hộ nghèo. Trong đó, 5 huyện vùng cao nơi tập
trung đa số đồng bào DTTS bình quân là 36,83% số hộ nghèo. Một số vùng
núi cao ở các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong đời sống đồng bào
còn rất khó khăn, thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nương rẫy, khai thác các
sản vật từ rừng, đời sống bấp bênh, nghèo đói vẫn còn trên diện rộng, tỉ lệ hộ
nghèo của đồng bào DTTS là 68,86%, có trên 50% đồng bào DTTS ở nhà dột
nát và 73% số hộ nhà ở còn đơn sơ [67, tr.492].

Nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở xã,
bản, làng về vị trí chiến lược của miền núi trong sự nghiệp phát triển KT - XH
còn thiếu toàn diện. Chưa hiểu đúng, đầy đủ về đặc điểm điều kiện tự nhiên,
KT - XH của miền núi cũng như tập quán, tâm lý, trình độ của từng DTTS,
của từng vùng, nên xác định chủ trương, chính sách và những hình thức, bước
đi, cách làm chưa phù hợp.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh chưa có sự đầu tư tích cực, thiếu
tập trung dứt điểm, cụ thể, hiệu lực điều hành thấp, các cơ quan, ban ngành
cấp tỉnh vai trò, trách nhiệm chưa cao, còn quan liêu, ỷ lại cho các huyện
miền núi và Ban Dân tộc. Công tác tuyên truyền giáo dục chủ trương, chính
sách của Đảng và địa phương đến với đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa
chưa đầy, đủ kịp thời. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chính sách cán


21

bộ tại chỗ cũng như chính sách khuyến khích cán bộ miền xuôi lên công tác
miền núi chưa được quan tâm đúng mức.
Đầu tư phát triển KT - XH miền núi là nhân tố cơ bản để giải quyết ổn
định lâu dài vấn đề dân tộc nhưng thiếu sự tập trung và chưa đồng bộ. Một số
chủ trương, chính sách chưa được cụ thể hóa kịp thời. Một số chính sách đề ra
nhưng thiếu nguồn lực thực hiện nên tính khả thi không cao. Tinh thần tích cực,
tự lực vươn lên của cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc còn hạn chế, tư
tưởng trông chờ, ỷ lại vào các chính sách và sự hỗ trợ của trên còn nhiều.
Công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị
của các cấp, các ngành, các đoàn thể ở miền núi và vùng đồng bào DTTS
chưa thường xuyên sâu sát cụ thể, có lúc không nắm được diễn biến tình hình
ở cơ sở nên xử lý chưa kịp thời. Việc theo dõi, kiểm tra giám sát thực hiện
chủ trương, chính sách thiếu thường xuyên. Hệ thống tổ chức công tác nghiên
cứu CSDT chậm được củng cố tăng cường.

nhiều. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế thị trường được tăng cường. Tình
hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định đã tạo ra cơ hội lớn cho đất nước phát
triển. Tuy nhiên, nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau,
tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức
nào.
Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, sau những năm đầu đổi
mới, KH – XT vùng dân tộc có những bước chuyển biến quan trọng, quyền
bình đẳng giữa các dân tộc đã được hiến pháp xác định và cụ thể hóa trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều yếu kém trong phát
triển KT – XH, nâng cao đời sống nhân dân. Những vấn đề về dân tộc còn diễn
biến phức tạp. Đặc biệt, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch của cách
mạng hiểu rõ sức mạnh đoàn kết dân tộc, luôn tìm mọi cách phá hoại sự đoàn
kết thống nhất. Chúng ra sức lợi dụng tình hình phức tạp và nhạy cảm của vấn
đề dân tộc để kích động, chia rẽ gây rối và can thiệp vào công việc nội bộ của
nước ta, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Từ khi nước ta thực
hiện đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hội nhập kinh


23

tế quốc tế, các thế lực thù địch lại càng tăng cường chống phá quyết liệt.
Mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới
Nghị quyết Đại hội IX (2001) của Đảng xác định mục tiêu “Đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[21, tr.89]. Để thực
hiện thắng lợi mục tiêu đó cần phát huy động sức mạnh toàn toàn dân tộc,
coi đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông
dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo là động lực chủ yếu để phát triển
đất nước, để phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế

Các DTTS ở Nghệ An sinh sống tập trung ở các huyện miền núi phía Tây
của tỉnh. Mặc dù có tiềm năng lớn nhưng điều kiện tự nhiên phức tạp, việc khai
thác gặp nhiều khó khăn, đời sống nhân dân các dân tộc còn nghèo nàn, lạc hậu, tỉ
lệ đói nghèo cao. Một bộ phận đồng bào DTTS còn thiếu đất sản xuất, chưa ổn
định nơi ở, còn di cư tự do làm mất ổn định tình hình chính trị xã hội. Bên cạnh
đó, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền để lôi
kéo đồng bào dân tộc chống phá sự nghiệp cách mạng trên địa bàn tỉnh, gây ra
những vấn đề phức tạp, tạo thành điểm nóng ở “Tây Nghệ An”. Trước tình hình
đó, Đảng bộ tỉnh Nghệ An xác định phải ưu tiên đầu tư xây dựng, khai thác có
hiệu quả tiềm năng lợi thế khu vực dân tộc miền Tây của tỉnh.
Như vậy, từ sự tác động của tình hình thế giới, trong nước; mục tiêu,
nhiệm vụ cách mạng của Đảng và của địa phương đặt ra yêu cầu mới cho Đảng
bộ tỉnh Nghệ An về lãnh đạo thực hiện CSDT trong những năm 2001 - 2010.
Đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Nghệ An cần quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của
Đảng về công tác dân tộc, đánh giá đúng tình hình khách quan gắn với tình hình
cụ thể của địa phương, đề ra chủ trương, giải pháp lãnh đạo sát đúng, chỉ đạo cụ
thể, quyết liệt để thực hiện có hiệu quả CSDT của Đảng góp phần thực hiện
thắng lợi mục tiêu KT - XH của tỉnh trong thời kỳ mới. Nhanh chóng đưa Nghệ
An ra khỏi tỉnh nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân nhất là đồng bào
các DTTS, sớm trở thành một tỉnh phát triển khá và mẫu mực như mong muốn


25

của Bác Hồ trước đây, cũng như của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân trong tỉnh.
1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về thực hiện chính sách
dân tộc trong những năm 2001 - 2010
1.2.1. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status