Đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc tu 1997 den 2005 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- - - OO- - -

HOÀNG THU THỦY

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ 1997 ĐẾN 2005

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60.22.56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Bình Ban

Hà Nội- 2007


MỤC LỤC
Mở đầu ............................................................................................................... 3
Chƣơng 1: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân
tộc từ 1997 đến 2000 .......................................................................................... 9
1.1. Tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn Thái Nguyên trước 1997... 9
1.1.1. Đặc điểm tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng tới quá trình đề ra chủ trương và
thực thi chính sách dân tộc .................................................................................. 9
1.1.2. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta và việc quán triệt thực hiện
chính sách dân tộc ở địa bàn Thái Nguyên trước năm 1997 ................................. 17
1.2. Chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và sự chỉ
đạo thực hiện từ 1997 đến 2000 ........................................................................... 24

trong thực hiện chính sách dân tộc ....................................................................... 82
3.2.3. Phải xác định được trọng tâm, trọng điểm để đầu tư các nguồn lực, tạo ra
các bước phát triển đột phá .................................................................................. 85
3.2.4. Mỗi tổ chức Đảng và Đảng viên phải thấm nhuần sâu sắc phương châm
hướng về cơ sở, hướng về cộng đồng dân cư trong quá trình thực hiện chính
sách dân tộc ......................................................................................................... 88
3.2.5. Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của đồng bào dân tộc thiểu số trong
việc thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn cơ sở ................................................ 90
Kết luận .............................................................................................................. 92
Danh mục tài liệu tham khảo ............................................................................ 95
Phụ lục ............................................................................................................... 100

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc từ lâu và hiện nay vẫn là một trong
những vấn đề phức tạp trên thế giới. Từ thập niên cuối của thế kỷ XX và những
năm đầu của thế kỷ XXI, các biến cố trên thế giới đã nói lên vấn đề dân tộc vẫn là
vấn đề thời sự nóng bỏng của nhân loại. Do đó, việc tìm kiếm con đường giải quyết
vấn đề dân tộc luôn được các nhà chính trị và khoa học trên thế giới đặc biệt quan
tâm.
Ở Việt Nam, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập đến nay, vấn đề dân
tộc chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đường lối của Đảng ở các thời kỳ,
không chỉ nhằm phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị trước mắt, mà còn xuất phát từ
bản chất của cuộc cách mạng do con người và vì con người. Mức độ hiện thực hoá
chính sách dân tộc trong cuộc sống tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có năng
lực cụ thể hoá và tổ chức thực hiện của tổ chức Đảng và chính quyền từng địa phương. Do đó, nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở từng địa phương
sẽ cho thấy tính lịch sử- cụ thể về quá trình chuyển tải chính sách dân tộc của Đảng

toàn diện, không chỉ từ góc độ của các nhà tổ chức thực tiễn, mà đặc biệt từ lăng
kính của người nghiên cứu. Trên cơ sở tư duy và phương pháp khoa học cho phép
đúc kết các kinh nghiệm hữu dụng phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách dân tộc,
khắc phục những cách nhìn phiến diện khi tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện
chính sách dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên.
Do đó, việc thực hiện đề tài “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện
chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005” là rất cần thiết, xét trên cả phương diện khoa
học và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

4


Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc
luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Mỗi thời kỳ lịch sử, trước yêu cầu
của nhiệm vụ chính trị mới đòi hỏi, Đảng lại có chủ trương, chính sách, giải pháp
mới phù hợp. Chính vì vậy, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng luôn được giới lý luận và các nhà lãnh đạo quan tâm nghiên cứu. Trên phạm vi cả nước đã
có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau. Nhìn một
cách tổng thể, các công trình nghiên cứu liên quan có thể chia thành những nhóm
chủ yếu sau:
Nhóm thứ nhất: Sự tổng kết của Đảng Cộng sản Việt Nam, rút kinh nghiệm,
đề ra đường lối, chủ trương chính sách dân tộc ở nước ta. Sự tổng kết đó được phản
ánh trong các Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, một số Nghị quyết Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương, Nghị quyết Bộ chính trị,... Đây là những quan điểm đánh
giá chính thức của Đảng ta về quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc.
Nhóm thứ hai: Những nghiên cứu tổng quan về các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam. Đáng chú ý trong số này là: “Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam” của
Đặng Nghiêm Vạn; “Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền
núi” của Bế Viết Đẳng (Chủ biên); “Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số
nước ta hiện nay- thực trạng và giải pháp của Hà Quế Lâm; “ Dân số và dân số tộc

của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.
Bên cạnh đó, có một số các Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân,
các báo cáo tổng kết của Uỷ ban nhân dân tỉnh, của các ngành, các cơ quan đề cập
đến những thành công, hạn chế và các giải pháp trong việc thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng ở từng địa phương.

6


Các công trình nghiên cứu trên nói chung đều khẳng định vai trò to lớn và
sự đúng đắn, nhất quán của Đảng trong việc đề ra và lãnh đạo thực hiện chính sách
đối với các dân tộc thiểu số trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay. Những công
trình và báo cáo nêu trên là những nguồn tư liệu quý, cung cấp cơ sở thực tiễn và
cách tiếp cận về chính sách dân tộc và tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở nước
ta.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách
đầy đủ, có hệ thống vấn đề “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc từ 1997 đến 2005” dưới góc độ tiếp cận của khoa học Lịch sử Đảng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Dựa trên kết quả nghiên cứu, mục đích của luận văn là làm rõ quá trình và
vai trò của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách
dân tộc ở Thái Nguyên từ năm 1997 đến 2005.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
- Hệ thống hoá các chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về lãnh đạo
thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh từ 1997 đến 2005.
- Đánh giá khách quan, toàn diện quá trình tổ chức chỉ đạo thực thi chính
sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ 1997 đến 2005.
- Rút ra thành công, hạn chế và kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ

về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc.
- Các nguồn tư liệu thành văn có liên quan đến vấn đề dân tộc và tư liệu
khảo sát điền dã. Đó là các văn kiện của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Thái
8


Nguyên, báo cáo của các cơ quan ban, ngành trong tỉnh; những công trình nghiên
cứu của các tác giả liên quan đến đề tài luận văn; niên giám thống kê hàng năm của
Trung ương và địa phương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử,
phương pháp lôgíc. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, phân
tích, so sánh... để đối chiếu, bảo đảm độ chính xác, tin cậy của các dữ liệu trong
luận văn, đồng thời làm cơ sở cho những nhận định và khái quát vấn đề.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Cung cấp một cách khách quan, toàn diện tình hình thực hiện chính sách
dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên và đóng góp thêm nguồn tư liệu để nghiên cứu, giảng
dạy các nội dung liên quan đến chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Các nhận định, kết luận và kinh nghiệm được đúc rút sẽ góp phần cung
cấp luận cứ khoa học để tiếp tục hoàn thiện các giải pháp thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong tình hình mới
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, 6 tiết.

9


CHƢƠNG 1
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN

thúc hoạt động của Đảng bộ và Tỉnh ủy Bắc Thái, đồng thời thành lập Đảng bộ Thái
Nguyên và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời. Đảng bộ Thái Nguyên chính thức đi
vào hoạt động từ ngày 1/1/1997.
Như vậy, sau 30 năm hợp nhất với tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, năm
1997, tỉnh Thái Nguyên được tái lập với diện tích tự nhiên là 3.541,1 km2 [6, tr.11],
gồm 9 đơn vị hành chính: các huyện Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ, Đồng
Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình, thị xã Sông Công, thành phố Thái Nguyên, với 177 xã,
phường, thị trấn (trong đó có 125 xã, thị trấn miền núi, vùng cao, chiếm 71,18%).
Dân số vào thời điểm cuối năm 1997 là 1.040.123 người [25, tr.3], thuộc 8 thành
phần dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí, Dao, Hmông, Hoa. Toàn Đảng
bộ có 44.449 đảng viên sinh hoạt ở 651 đảng bộ cơ sở [25, tr.4].
Thái Nguyên có giới hạn từ 20020’ vĩ tuyết bắc đến 22003’ vĩ tuyết bắc và
từ 105028’ kinh tuyến đông đến 106014’ kinh tuyến đông; có diện tích tự nhiên
3.541,1 km2; Phía Bắc giáp Bắc Kạn, phía Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp
Lạng Sơn, Bắc Giang, phía Tây giáp Vĩnh Phúc, Tuyên Quang [29, tr.37- 38]. Thái
Nguyên nằm gọn trong vành đai nhiệt đới, gần chí tuyến Bắc hơn xích đạo nên có
sự khác biệt về hai mùa khá rõ rệt; về độ dài ban ngày, ban đêm; về nhiệt độ trung
bình mùa; chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu lục địa châu Á, nhất là về mùa đông,
đồng thời vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của biển Đông và vịnh Bắc Bộ qua gió mùa
mùa hạ và bão.
Thái Nguyên có hình dáng cân đối, đường quốc lộ 3 và sông Cầu gần như
trục đối xứng chạy dọc thung lũng suốt từ Bắc xuống Nam tỉnh. Lãnh thổ không có
chỗ nào quá hẹp hoặc phình rộng so với lộ trục; địa hình chủ yếu là đồi núi thấp
11


chạy theo hướng Bắc- Nam, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Bao quanh phía Tây Nam
và phía Bắc là những dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn.
Nhìn tổng thể, tự nhiên Thái Nguyên phân hóa thành 3 vùng:
Vùng núi phía tây và tây bắc tỉnh: gồm Đại Từ, Định Hóa và các xã tây Phú

trong từng bản, làng, tập trung đông ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có
những xóm, bản chỉ có một dân tộc: dân tộc Tày 267 xóm, bản; Sán Chay 64 xóm,
bản; Sán Dìu 56 xóm, bản; Dao 57 xóm, bản; Nùng 42 xóm, bản; Hmông 13 xóm,
bản [41, tr.1].
Dân tộc Kinh (hay còn gọi là Việt) có tỷ lệ 73,49%. Đây là dân tộc mang
nguồn gốc bản địa, chiếm số lượng đông nhất. Dân tộc Kinh từ trước đây gồm nhiều
bộ phận hợp thành: dân bản địa, dân được tuyển mộ vào làm trong các mỏ đồn điền,
có bộ phận là người di cư từ các vùng đồng bằng lên. Địa bàn cư trú của người Kinh
tập trung ở các huyện phía Nam, như Phú Bình, Phổ Yên, thị xã Sông Công và
thành phố Thái Nguyên, đồng thời cũng trải rộng trên các vùng miền và sống xen kẽ
cùng các dân tộc khác. Vốn cư trú ở vùng thấp, người Kinh quen với nghề trồng lúa
nước, hoạt động nông nghiệp kết hợp chặt chẽ với các nghề thủ công truyền thống,
nghề sông nước. Người Kinh không chỉ giàu tập quán kinh nghiệm sản xuất mà còn
có khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ kỹ thuật, do đó trình độ văn hóa, khoa học kỹ
thuật trong cộng đồng người Kinh đã có nhiều tiến bộ. Vốn văn hóa truyền thống
của người Kinh hết sức phong phú, đặc sắc và luôn được bảo tồn phát huy. Ngày
nay, tổ chức làng xã của người Kinh ở Thái Nguyên vẫn mang những nét đặc thù
tiêu biểu của cơ cấu xã hội Việt Nam.
Dân tộc Tày có tỷ lệ thấp hơn, xếp thứ hai sau dân tộc Kinh, địa bàn cư trú
của người Tày rộng khắp trong phạm vi toàn tỉnh, song chủ yếu ở những huyện
13


miền núi, vùng cao: Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ, Võ Nhai. Tổ tiên của người Tày
vốn là cư dân bản địa ở Bắc Việt Nam và miền giáp gianh biên giới Việt- Trung.
Người Tày có nền nông nghiệp khá phát triển, ngoài việc trồng lúa, đồng bào còn
trồng ngô, khoai, sắn, và các loại cây lương thực, rau quả. Bên cạnh đó, người Tày
còn rất khéo tay trong các nghề thủ công đan lát mây tre. Người Tày có vốn văn
nghệ dân gian truyền thống hết sức phong phú với đủ các loại thơ, ca, múa,
nhạc...Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể, các làn điệu dân ca phổ biến

Hmông thường cư trú ở rẻo cao, có kỹ thuật trồng tỉa thích nghi với cuộc sống ở
vùng núi. Người Hmông giỏi trồng ngô và lúa nương, ngoài ra họ còn chăn nuôi
trâu, bò, ngựa, chó, gà...Nhạc cụ của người Hmông có khèn và đàn môi khá đặc sắc.
Dân tộc Hoa là tộc người có số lượng ít hơn cả, họ cần cù lao động, giỏi
nông nghiệp và cả nghề thủ công, buôn bán... người Hoa thích hát “Sơn ca”, ca kịch
cũng là hình thức nghệ thuật mà họ rất ưa chuộng...[2, tr.19- 20].
Thái Nguyên vừa là cái nôi, điểm hội tụ nền văn hóa đặc sắc của các dân
tộc thiểu số cư trú trong vùng lại vừa là nơi giao lưu, hội nhập với nền văn hóa của
cộng đồng các dân tộc khác tạo nên văn hóa phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc
văn hóa dân tộc. Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của các dân tộc ở Thái
Nguyên góp phần không nhỏ vào nền văn hóa của đại gia đình các dân tộc Việt
Nam.
Trong kho tàng văn hóa phi vật thể, văn hóa dân gian truyền miệng của
Thái Nguyên thực sự đặc sắc, gồm nhiều thể loại: truyền thuyết địa danh, truyện cổ
tích, truyện thơ. Phong phú hơn cả là kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố...
Dân ca của các dân tộc với những làn điệu đặc trưng như hát “Gỗu plềnh” (hát giao
duyên) của người Hmông, hạt “Sli, lượn” (hát trữ tình) của người Tày, Nùng... Bên
cạnh đó còn phải kể đến sự phong phú của nền dân vũ dân tộc; những bộ trang phục
15


với những đường nét hoa văn khéo léo ; những nhạc cụ rất phong phú: khèn, đàn
môi, đàn tính... Mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán riêng trong việc cưới,
việc tang, trong thờ cúng, lễ hội...
Văn hóa vật chất của Thái Nguyên cũng rất đa dạng, bao gồm: các khu di
tích lịch sử ở Thái Nguyên là niền tự hào và là tài sản vô giá phản ánh truyền thống
đấu tranh kiên cường trong dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đến nay
chúng ta còn lưu giữ được rất nhiều chứng cứ vật chất để xác định đã có sự sống
của loài người cách đây chừng 2-3 vạn năm, đó là khu di tích lịch sử văn hóa Thần
Sa (huyện Võ Nhai), khu di tích lịch sử Núi Văn- Núi Võ (Huyện Đại Từ)...; Do cư

Lâm nghiệp: Thái nguyên có diện tích đất tự nhiên 356.663 ha trong đó đất
lâm nghiệp 119.855 ha chiếm 34%. Tất cả các đơn vị huyện, thành, thị trong tỉnh
đều có diện tích đất rừng tự nhiên và đất rừng trồng. Tuy vậy, những năm trước đây,
rừng tự nhiên bị khai thác bừa bãi cộng với việc đốt rừng làm nương và việc bảo vệ
rừng chưa được đảm bảo nên hậu quả để lại là rừng cây bị cạn kiệt. Trong những
năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương phát triển kinh tế đồi rừng gắn với
việc ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi, trước mắt cần tập trung giao
đất giao rừng, kết hợp giữa trồng rừng và trồng cây ăn quả, cây công nghiệp.
Công nghiệp: Công nghiệp có vai trò làm động lực trong guồng máy kinh tế
quốc dân của tỉnh, đóng góp khoảng 30- 40% vào GDP của tỉnh, góp phần kích
thích nhu cầu sử dụng nguyên liệu, máy móc, thiết bị; nuôi dưỡng các hoạt động
thương mại và vận tải; khai thác các nguồn đầu tư về tài chính và kĩ thuật. Ngành
công nghiệp Thái Nguyên đã được hình thành từ những năm 60 của thế kỷ XX. Đến
nay, ngành công nghiệp Thái Nguyên đã có một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh với sự
có mặt hầu hết của các ngành công nghiệp như: năng lượng, luyện kim, cơ khí, hóa

17


chất... Trong đó công nghiệp luyện kim và sản xuất thép, phôi thép là ngành công
nghiệp chủ yếu của tỉnh.
Thái Nguyên hiện là một trung tâm giáo dục đào tạo lớn với 5 trường Đại
học (gồm Đại học Sư phạm, Đại học Công nghiệp, Đại học Nông Lâm, Đại học Y
khoa, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh) và 2 khoa tương đương (Khoa Khoa
học Tự nhiên và Xã hội, Khoa Công nghệ thông tin). Các trường chuyên nghiệp của
Trung ương và địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên gồm 8 trường trung học
chuyên nghiệp, 6 trường công nhân kỹ thuật. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học cho các tỉnh miền núi
phía Bắc khác.
Bước vào thời kỳ đổi mới, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định phát triển kinh tế là
nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa
nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt nhiệm vụ này
đòi hỏi các cấp bộ đảng, chính quyền các địa phương trong cả nước nói chung, tỉnh
Thái Nguyên nói riêng phải phát huy tính tích cực, chủ động hơn nữa để có những
quyết sách thích hợp nhằm khai thác thế mạnh, khắc phục khó khăn phát triển
nhanh và bền vững kinh tế địa phương, phát huy mọi nguồn lực trong và ngoài tỉnh,
nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh,
làm cho nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tạo
sức mạnh to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.1.2. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc ta và việc quán triệt
thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn Thái Nguyên trƣớc năm 1997
Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác dân tộc, chính
19


sách dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng
nước ta. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 3 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 58 về tổ chức bộ máy nội vụ, trong đó có Nha dân
tộc thiểu số thuộc Bộ Nội vụ, với nhiệm vụ là xem xét các vấn đề chính trị và hành
chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình hình thân thiện giữa
các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Ngày 9 tháng 9 năm 1946 Chính phủ ban
hành Nghị định số 359 thành lập Nha Dân tộc thiểu số với chức năng nhiệm vụ là
nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số trên toàn cõi
Việt Nam để củng cố nguyên tắc bình đẳng, sự đoàn kết và tương trợ giữa các dân
tộc sống trên đất nước Việt Nam.
Trong các bản Hiến pháp của nước Việt Nam qua các thời kỳ cũng đều
khẳng định các nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Ngay
từ Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi: Tất cả công

làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [14, tr.164].
Như vậy, “đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc” là những vấn đề
quan trọng hàng đầu trong đường lối, chính sách dân tộc của Đảng. Ba nguyên tắc
cơ bản này có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại với nhau hợp thành một
thể thống nhất, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển. Có bình đẳng thì mới
thực hiện được đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển thì mới
thực hiện được bình đẳng dân tộc. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
chính sách dân tộc đã thực sự trở thành cương lĩnh hành động thu hút hàng chục
triệu nhân dân thuộc các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, kết thành sức mạnh tổng hợp để
đánh bại kẻ thù là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Ngày nay, trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chính sách dân tộc của Đảng ta là một bộ phận quan

21


trọng trong chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa.
Chính sách dân tộc là tổng hợp những quan điểm, đường lối, chính sách của
Nhà nước được đề ra và tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc.
Chính sách dân tộc mang bản chất giai cấp của nhà nước trong phạm vi đối nội và
đối ngoại [48, tr.99]. Chính sách dân tộc là một lĩnh vực quan trọng, mang nội dung
nhiều mặt của đời sống xã hội. Chính sách dân tộc nhằm phục vụ có hiệu quả sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ con người thuộc các tầng lớp nhân dân
các dân tộc. Chính vì vậy, chính sách dân tộc gắn liền với chiến lược con người, với
việc đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ các dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng
phải tác động làm thay đổi thực sự bộ mặt kinh tế, xã hội, văn hóa của các vùng và
các dân tộc, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, đưa các dân tộc còn ở trình độ sản xuất và đời sống thấp từng bước đi lên chủ
nghĩa xã hội. Xây dựng và phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trong
nước trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tự nguyện, cùng làm chủ, cùng đi lên chủ

cách mạng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đòi hỏi tăng cường công tác nghiên
cứu về dân tộc học và công tác điều tra xã hội học, hiểu biết đầy đủ những khác biệt
cụ thể của từng vùng, từng dân tộc. Trên cơ sở đó, bổ sung, cụ thể hóa và thực hiện
tốt hơn chính sách dân tộc, tránh những sai lầm rập khuôn hoặc chủ quan áp đặt
những hình thức tổ chức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội ở những vùng dân tộc” [15, tr.97].
Đại hội đã cụ thể hóa phương hướng phát triển kinh tế ở vùng dân tộc thiểu
số: “Đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp với động
viên tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân các dân tộc để khai thác, bảo vệ và
phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú. Đẩy
23


mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào trước
hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến”
[15, tr.97].
Cụ thể hóa đường lối của Đại hội VI, ngày 27 tháng 11 năm 1989, Bộ
Chính trị ra Nghị quyết 22- NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển
kinh tế- xã hội miền núi. Ngày 13 tháng 3 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Quyết định số 72- HĐBT về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tếxã hội miền núi.
Từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72- HĐBT, Nhà
nước đã dần dần tăng mức đầu tư phát triển kinh tế- xã hội cho các dân tộc ở miền
núi, đặc biệt là vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng căn cứ cũ theo các chương
trình, dự án. Do đó tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương miền núi
đã có bước chuyển biến mới.
Tiếp tục thực hiện những quan điểm của Đại hội VI, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa
các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát
huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước
ta. Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status