Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc với đồng bào Khơme (19962004) - Pdf 35

1

Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một quốc gia đa dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc là một trong những nội dung cơ bản
đợc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm thể hiện trong quan
điểm, chủ trơng, đờng lối của Đảng và Nhà nớc ta. Xuất phát từ tình hình đặc
điểm của một quốc gia có nhiều dân tộc, có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu
đời; Đảng Cộng sản Việt Nam lấy những nguyên lý của chủ nghĩa MácLênin, t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng để xây dựng và giải quyết vấn
đề dân tộc trong từng giai đoạn cách mạng, đã vận dụng sáng tạo và đề ra
hàng loạt chính sách cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nớc, đã và
đang đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra
và ngày càng hoàn thiện chính sách dân tộc trên cơ sở ba nguyên tắc cơ bản:
Đoàn kết - Bình đẳng - Tơng trợ, tạo mọi điều kiện để các dân tộc từng bớc trởng thành trong sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nớc, dân tộc và công tác thực
hiện chính sách dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề cần đợc quan tâm, đầu t
nghiên cứu, nhằm đáp ứng đòi hỏi tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng
đất nớc theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt là trong bối cảnh
quốc tế và trong nớc hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức
tạp vừa có những tác động đến quan hệ quốc tế lại vừa mang tính đặc thù
riêng của từng quốc gia. Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân quyền luôn là những
vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng, coi đó nh
những đột phá khẩu để chống phá sự nghiệp cách mạng của nớc ta; chia rẽ
khối đại đoàn kết toàn dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công
xây dựng, với nhiều thủ đoạn khác nhau nhằm gây mất ổn định cả về chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng.
Là một trong những dân tộc ít ngời ở Việt Nam thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng từ khi đất nớc đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội của đồng
bào Khmer từng bớc đợc nâng cao hơn. Tuy nhiên, hiện nay vùng đồng bào

thực trạng đời sống và các giải pháp để nâng cao đời sống cho đồng bào
Khmer ở miền Tây Nam bộ hoặc giới thiệu tổng quan về dân tộc Khmer. Tuy
nhiên cho đến nay cha có đề tài nào trình bày về Đảng lãnh đạo dân tộc
Khmer ở một tỉnh nói riêng.
An Giang là tỉnh có nhiều đồng bào Khmer sinh tụ, đến nay cha có một
công trình nghiên cứu nào về Đảng bộ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
đối với đồng bào dân tộc Khmer.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Là trình bày một cách có hệ thống
chủ trơng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nớc ta và quá trình vận dụng
chủ trơng của Đảng để chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc đối với
đồng bào Khmer của Đảng bộ tỉnh An Giang, làm rõ sự tác động của chính
sách dân tộc đối với đồng bào Khmer An Giang từ 1996 - 2004.
- Nhiệm vụ của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn luận
văn đánh giá đúng những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và rút ra những kinh
nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer ở
An Giang; bớc đầu đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy tác dụng của
kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở địa phơng.
4. Cơ sở lý luận, phơng pháp nghiên cứu và nguồn t liệu


4

- Luận văn đợc hoàn thành trên cơ sở thế giới quan và phơng pháp luận
chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và quyền dân tộc tự quyết; sự vận
dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đề ra
đờng lối, chính sách dân tộc thể hiện thông qua kết quả thực hiện chính sách
dân tộc ở An Giang.
- Nguồn t liệu chính để thực hiện đề tài là các văn bản, chỉ thị, nghị
quyết của Đảng và Nhà nớc về chính sách dân tộc và các văn bản cụ thể hóa

giáp tỉnh Đồng Tháp; phía Tây Bắc giáp Vơng quốc Campuchia với đờng biên
giới gần 100km; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang; phía Đông Nam
giáp tỉnh Cần Thơ.
Là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có hệ thống giao thông đờng thủy,
bộ rất thuận tiện. Giao thông chính của tỉnh là một phần mạng lới giao thông
liên vùng quan trọng của quốc gia và quốc tế. Quốc lộ 91 và các sông Tiền,
sông Hậu là những tuyến giao thông quan trọng nối cả đồng bằng sông Cửu
Long với các nớc Campuchia, Lào, Thái Lan thông qua hai cửa khẩu quốc tế
Tịnh Biên và Vĩnh Xơng. Đó là lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội
nhập nền kinh tế An Giang với các tỉnh trong nớc, ngoài nớc, nhất là khu vực
Đông Nam á. Những điều kiện đó, giúp tỉnh phát triển tơng đối đa dạng về
kinh tế và văn hóa. Đồng thời, cũng là một trọng điểm phòng thủ quốc gia ở
biên giới Tây Nam nớc ta.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.406 km 2 bằng 1,05% diện tích toàn
quốc và bằng 8,71% diện tích toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (đứng thứ
4 trong vùng), trong đó 80% là đất nông nghiệp, 20 % là vùng núi. Nằm trong
vùng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long, An Giang có thế mạnh về sản xuất
lúa gạo, và thủy sản. Với sản lợng lúa đứng đầu trong khu vực (hơn 3 triệu tấn
năm 2004); sản lợng khai thác thủy sản đứng thứ ba, trong đó sản lợng thủy
sản nuôi trồng theo địa phơng lớn nhất toàn quốc (năm 2003 là 136.825 tấn,
chiếm 14,2% cả nớc - Niên giám thống kê 2003). Là tỉnh có cả đồng bằng,
rừng núi, tài nguyên khoáng sản và những di tích văn hóa, lịch sử, danh lam
thắng cảnh nổi tiếng.
Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: thành phố Long
Xuyên là tỉnh lỵ, thị xã Châu Đốc và 9 huyện (ủy ban Dân tộc Miền núi của
Chính phủ đã công nhận 21 xã vùng núi thuộc 2 huyện Tri Tôn (9 xã) và Tịnh
Biên (12 xã) theo Quyết định 42/UBQĐ ngày 23 tháng 5 năm 1997 và công


6

Long và Tân Bình.
Lúc này, vua Chân Lạp là Nặc Thu dựa vào Xiêm tìm cách
chống phá chúa Nguyễn. Dân buôn bán trên sông Cửu Long thờng


7

bị cớp bóc. Tháng 7 năm 1699, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn
Hữu Cảnh cùng Phạm Cẩm Long đem binh từ Quảng Nam, Bình
Khang (Khánh Hòa) hiệp cùng quân lu thủ Nguyễn Hữu Khánh ở
Trấn Biên kéo quân vào Tân Châu đánh dẹp.
Từ 1705 đến 1757, quân Xiêm thờng xuyên cớp phá Hà Tiên.
Trớc tình thế đó, năm 1708 Mạc Cửu xin thần phục chúa Nguyễn.
Năm 1714, chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận và phong cho Mạc
Cửu chức Tổng binh cai quản Hà Tiên. Năm 1755, Nặc Nguyên
quấy phá vùng Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn C
Trinh điều khiển quan binh đánh dẹp. Nặc Nguyên phải nhờ Mạc
Thiên Tứ xin cầu hòa chúa Nguyễn.
Tình hình Chân Lạp cha yên do cuộc tranh giành quyền lực
trong nội bộ vơng triều. Nặc Tôn đợc chúa Nguyễn giúp đở trở lại
nắm quyền ở Chân Lạp. Để tạ ơn chúa Nguyễn, năm 1757, Nặc Tôn
hiến đất Tầm Phong Long.
Thế là trong vòng hơn nửa thế kỷ (1698 - 1757), về cơ bản
chúa Nguyễn đã thiết lập xong bộ máy hành chính trên vùng đất
Nam bộ [66, 229].
Bấy giờ vùng đất An Giang là điểm dừng chân cuối cùng của lu dân ngời Việt trên đồng bằng sông Cửu Long. Ngời Việt và các dân tộc anh em đoàn
kết, gắn bó trong công cuộc bảo vệ và xây dựng vùng đất mới; nơi đây dân c
còn tha thớt, nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở, dần dần
khai thác và tạo dựng thôn ấp.
Đời Minh Mạng, nhiều chủ trơng, chính sách mới của nhà nớc phong

Mỹ đồng bào Khmer sẵn sàng đấu tranh bảo vệ cán bộ cách mạng và là lực lợng quan trọng góp phần mở ra vùng giải phóng Bảy Núi trong cuộc Đồng
khởi năm 1960, hơn 5.000 đồng bào Khmer tay không kéo ra thị trấn Tri Tôn
đấu tranh quyết liệt với bọn địch, bất chấp lỡi lê, họng súng. Trong những giai
đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở An Giang, đồng bào Khmer
đã chịu đựng gian khổ hy sinh, bám phum sóc đấu tranh chính trị, đấu tranh
binh vận với địch và với cả binh tề ngời Khmer trong bộ máy của Ngụy để bảo
vệ căn cứ, nuôi chứa cách mạngCuộc chiến tranh biên giới Tây-Nam, bọn
PônPốt đã kích động trên dới hai vạn đồng bào Khmer đang sinh sống cập
tuyến biên giới dài 36 cây số của hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Đồng bào
đã đấu tranh rất quyết liệt, không chịu để chúng lợi dụng, hòng sang chiếm
lãnh thổ Việt Nam. Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ ngời Khmer đã chiến đấu kiên cờng trớc kẻ thù, đấu tranh không khoan nhợng với bọn phản động Khmer
Crôm để lại nhiều tấm gơng chiến đấu, hy sinh anh dũng nh gia đình Chau
Pút, Chau Xơng, Néang Nghét(Chau Pút bị bọn Khmer Serey sát hại; Néang
Nghét bị tên trởng đồn ngời Khmer hành hình).


9

Trong suốt những năm gian khổ, hào hùng đó quan hệ đoàn kết giữa
các dân tộc trong tỉnh đã không ngừng đợc bồi đắp và phát huy sức mạnh, hợp
thành cộng đồng dân c An Giang đùm bọc nhau trong thời khó khăn và chia sẻ
với nhau cả nghĩa vụ lẫn quyền lợi trong thời bình, trong sự phát triển chung
của tỉnh.
1.1.2. Nét đặc thù trong đời sống kinh tế - xã hội của ngời Khmer
An Giang
- Địa bàn c trú và dân số: Là tỉnh biên giới có nhiều dân tộc và tôn
giáo với tỷ lệ ngời Khmer tơng đối đông so với các dân tộc khác (ngoài ngời
Kinh), có trên 86.000 ngời (chiếm 4,8% dân số toàn tỉnh), họ là c dân bản địa,
sống quần c tập trung tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (Bảy Núi). Đây là 2
huyện biên giới-dân tộc, không những là địa bàn chiến lợc quan trọng trong

Trình độ dân trí thấp, bị chi phối bởi tôn giáo, các hoạt động văn hóa,
tín ngỡng vừa chịu ảnh hởng của đồng bào Kinh và các dân tộc khác trong
vùng, vừa chịu ảnh hởng từ phía Campuchia. Do đồng bào Khmer sống tập
trung ở hai huyện miền núi, có đờng biên giới giáp với Campuchia nên việc
qua lại biên giới diễn ra khá dễ dàng, có mối quan hệ huyết thống và kinh tế
với một bộ phận ngời Campuchia, đã tạo ra sự giao thoa độc đáo nhng cũng
rất phức tạp.
- Kết cấu xã hội : Đối với ngời Khmer An Giang phum, sóc (Srốk) là
đơn vị xã hội truyền thống. Sóc bao gồm nhiều phum, phum là đơn vị hành
chính nhỏ nhất mang tính chất dòng họ nhiều hơn tính chất hành chính. Phum
thờng đợc quan niệm nh làng, xóm của ngời Việt, plây của ngời Chăm hay
buôn của Tây Nguyên. Thật ra, về cấu trúc cũng nh về chức năng phum của
ngời Khmer có nhiều đặc thù khác với làng của ngời Việt, các phum thờng ẩn
mình sau hàng cây sao cao vút hoặc đợc bao bọc bởi luỹ tre xanh. Tế bào đầu
tiên của một phum Khmer có thể là một tiểu gia đình có cùng huyết thống,
nhng cũng có những phum do một đại gia đình Khmer tạo lập nên bao gồm
những tiểu gia đình c trú kế cận nhau đợc tách ra từ đại gia đình. Theo thời
gian, cơ cấu phum dần dần đợc nới rộng ra, sự tác động này là yếu tố để các
phum phát triển dần lên thành đơn vị c trú lớn hơn gọi là sóc. Đứng đầu phum,
sóc là Mê phum, Mê sóc thông thờng đó là ngời có kinh nghiệm sống, am
hiểu phong tục, tập quán, có uy tín đợc dân bầu lên. Sóc của ngời Khmer đều
có ít nhất một ngôi chùa, Mê sóc cùng với ban tự quản kết hợp với s sãi trong
chùa có trách nhiệm bảo tồn và phát triển cộng đồng, ổn định trật tự xã hội,
hình thành thiết chế văn hóa - xã hội truyền thống mà tôn giáo có vị trí đặc
biệt.
Ngày nay, tổ chức ấp, xã đã phổ biến trong cộng đồng ngời Khmer Nam
bộ. Tuy vậy, dấu ấn của phum, sóc trong việc tụ c theo dòng họ, trong sinh hoạt
cộng đồng ấp và trong sinh hoạt chùa chiền của c dân Khmer vẫn còn.
- Tín ngỡng, tôn giáo: ngời Khmer đã theo đạo Bàlamôn lâu đời, nhng
có lẽ do những giáo điều gò bó và cách phân chia đẳng cấp quá khắt khe của

trọng trong tất cả mọi hoạt động ở nông thôn khmer từ sản xuất, học hành, đến
các lễ nghi gia đình và công cộng của toàn dân), dạy chữ Khmer, chùa còn là
nơi hội họp, hòa giải hoặc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nội bộ cộng
đồng, thể hiện sự kết hợp khá tốt giữa đạo và đời. Nó là một nội dung trong
văn hóa Khmer và cùng với những tín điều, giáo lý đợc ngời dân chấp nhận,
cho thấy Phật giáo có u thế nổi trội trong sinh hoạt tinh thần của ngời Khmer.


12

Vì thế, s sãi có địa vị rất cao và đợc nhân dân kính trọng, giới s sãi chính là
linh hồn của nông dân Khmer.
- Phong tục, lễ hội: Đồng bào Khmer An Giang có nhiều phong tục tập
quán và nền văn hóa nghệ thuật phong phú, độc đáo. Những chùa Khmer lớn
thờng có dàn nhạc ngũ âm (nhạc cụ dân tộc), nhiều phum, sóc hợp lại có một
đội văn nghệ quần chúng (sử dụng nhạc cụ hiện đại), có điệu múa Lăm thôn
và múa Cung đình.
Hàng năm, đồng bào Khmer An Giang có nhiều lễ hội tôn giáo và dân
gian (hàng chục lễ hội), nhng quan trọng nhất là hai lễ hội : Chol Chnăm Thmây
(lễ đón năm mới), lễ Dolta (xá tội vong nhân) gắn với lễ đua bò của nhân dân.
Lễ Chol Chnăm Thmây thờng đợc tổ chức vào giữa tháng 4 âm lịch
hàng năm. Đây là lúc giao mùa giữa mùa nắng và mùa ma, và cũng là lúc
mừng mùa vụ mới trong năm. Chol Chnăm Thmây là lễ hội lớn nhất trong
năm và có quan hệ đến đời sống và niềm tin của ngời Khmer (diễn ra trong 3
ngày), đợc tổ chức tại các chùa và trong mỗi gia đình của đồng bào Khmer.
Bởi vì lễ hội này là dịp tống khứ các điều không may trong năm cũ để bớc vào
năm mới nhiều may mắn trong cuộc sống hơn.
Lễ Dolta đợc tổ chức trong khoảng từ 15/8 đến cuối tháng Tám âm lịch,
đây là một trong những lễ hội quan trọng mà ngời Khmer xem nh cái tết thứ
hai trong năm. Lễ Dolta nhằm thực hiện việc xá tội vong nhân theo giáo lý

nhiều thế kỷ qua Phật giáo Tiểu thừa đã đợc xem nh là quốc giáo, là chỗ dựa
tinh thần vững chắc nhất, tồn tại trong ký ức của mỗi ngời dân Khmer từ lâu
đời, vì vậy các phong tục, tập quán, lễ hội dân gian cho đến các sinh hoạt tinh
thần trong đời sống xã hội đều có ít nhiều mang màu sắc Phật giáo.
Nhìn chung, ngời Khmer An Giang thích một cuộc sống hiền lành,
không đua chen để làm giàu lớn. Họ thích thảnh thơi, an nhàn hơn ngời Kinh;
công việc làm ăn của họ đều trông ở số phận. Họ tin rằng có phận, có phớc
mới làm giàu đợc, vì thế họ ít chịu tìm hiểu để làm thế nào cho tăng năng suất
canh tác, thu hoạch có kết quả nhiều nh ngời Kinh, ngời Hoa. Hầu hết là nông
dân nghèo, quan niệm về cách sống của họ thờng thiên về tinh thần hơn là vật
chất, nhiều ngời dành dụm đợc tiền của thờng nghĩ đến việc xây chùa, làm phớc, nuôi s sãiNgời Khmer rất tin ở kiếp sau, kiếp này chỉ là sống tạm. Cho
nên ăn ở cho tốt để kiếp sau đợc sung sớngVới cách nghĩ nh vậy, cùng với
sự hạn chế về trình độ học vấn thấp, số mù chữ cao, nên dù sống ở một vùng
đất có bình quân lơng thực đầu ngời cao nhất nớc nhng phần đông bà con
Khmer lại có mức thu nhập rất thấp, đời sống còn nhiều khó khăn. Làm thế
nào để giúp đồng bào có cuộc sống no đủ, theo kịp với cuộc sống của các dân
tộc anh em trong vùng là vấn đề đặt ra đòi hỏi Đảng, Nhà nớc cũng nh chính
quyền địa phơng phải suy nghĩ, nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển
kinh tế, xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
1.2. Quan điểm của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ An
Giang để đề ra và lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc

1.2.1. Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam


14

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc đợc thể hiện
trong cơng lĩnh dân tộc của Lênin gồm ba nội dung chủ yếu: Các dân tộc hoàn
toàn bình đẳng, các dân tộc có quyền tự quyết, đoàn kết nhân dân lao động

độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa [36, tr. 110].


15

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nớc ta Hồ Chí Minh rất quan tâm
đến việc hoạch định và thực hiện đờng lối, chính sách chung của cả nớc. Ngời
nhắc nhở phải tìm cách vận dụng đờng lối chính sách chung ấy sao cho phù
hợp với điều kiện các dân tộc, đồng thời Ngời cũng quan tâm đến việc hoạch
định và thực hiện những chính sách cho riêng đồng bào các dân tộc thiểu số,
cho riêng miền núi.
Đặc biệt trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn:
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng nh ở miền núi, đã bao
đời chịu đựng gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc
lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh
hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng nhân dân ta
luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có
kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không
ngừng nâng cao đời sống của nhân dân [37, tr.511].
Đặc điểm nổi bật trong quan hệ dân tộc - tộc ngời ở Việt Nam là có
truyền thống đoàn kết gắn bó từ lâu đời trong cộng đồng các dân tộc Việt
Nam. Do đặc điểm lịch sử của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên khắc
nghiệt và chống giặc ngoại xâm, các dân tộc ở Việt Nam, thiểu số cũng nh đa
số tuy trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán khác nhau, nhng đều có chung truyền thống đoàn kết thống nhất, tơng thân, tơng ái, đồng
cam cộng khổ trong công cuộc dựng nớc và giữ nớc. Truyền thống đó đã đợc
phát huy cao độ trong các cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất
Tổ quốc và đang đợc phát huy trong công cuộc xây dựng đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, mà nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc.
Dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc; xuất phát từ

để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa
các dân tộc ít ngời và dân tộc đông ngời, đa miền núi tiến kịp miền
xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có
cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc phát triển về mọi mặt,
đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ [19, tr.46 ].
Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng cũng đã chỉ rõ con đờng phát triển
các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc:
Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố
phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nớc ta. Sự tăng cờng
tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhng
tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ
tính đa dạng, tính độc đáo của mỗi dân tộc [ 22, tr.16 ].
Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ VII của Đảng đã chỉ rõ:
Thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết tơng trợ giữa các dân
tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đờng văn


17

minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng
đồng dân tộc Việt Nam [ 23, tr.16].
Xuất phát từ tình hình phát triển không đồng đều giữa các dân tộc
trong lịch sử và sự chênh lệch lớn về đời sống kinh tế - xã hội giữa các dân
tộc, giữa các vùng, miền, Đảng và Chính phủ Việt Nam trong lãnh đạo công
cuộc đổi mới ngày càng nhận rõ việc xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng
miền, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng
dân tộc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:
Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lợc lớn. Thực hiện bình đẳng,
đoàn kết, tơng trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công

(khoá VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer. Chỉ thị đã phân tích
những nguyên nhân chủ yếu của một số sai lầm tồn tại trong việc thực hiện
chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào Khmer trong thời gian qua;
đồng thời vạch ra kế hoạch phát triển toàn diện về kinh tế, đời sống, văn hóa,
xã hội, an ninh chính trị, công tác quần chúng, xây dựng Đảng và đào tạo cán
bộ ngời Khmer.
Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực tại chỗ, phối hợp lồng ghép các
chơng trình trên địa bàn để xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu ở mỗi trung tâm
cụm xã, nhằm tạo động lực đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân
tộc và miền núi, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng. Thúc đẩy các hoạt
động văn hóa - xã hội trong tiểu vùng, tạo sự giao lu giữa các bản, làng và
giữa các cụm xã với đô thị để phát huy sức mạnh cộng đồng, quản lý mọi mặt
hoạt động kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, góp phần xây
dựng nông thôn mới vùng dân tộc và miền núi.
Thủ tớng Chính phủ ban hành Quyết dịnh số: 35/TTg, ngày 13/1/1997
phê duyệt Chơng trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao.
- Chỉ thị số 15/1998/CT-TTg ngày 28-03-1998 của Thủ tớng Chính phủ
về tăng cờng chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội củng cố quốc
phòng an ninh ở các xã, phờng biên giới, hải đảo. Để tiếp tục thực hiện Chỉ thị
23 -CT/TW ngày 29-11-1997 của Bộ Chính trị và triển khai thực hiện tinh thần
Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ IV (khoá VIII) về nhiệm vụ
Tăng cờng và nâng cao hiệu quả hỗ trợ các vùng nghèo, xã nghèo trong đó
có các xã, phờng biên giới, hải đảo.
Gần đây, Thủ tớng Chính phủ đã ra Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg
ngày 23-7-1998 về việc phê duyệt chơng trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm
nghèo trong giai đoạn 1998 - 2000. Đây là một chơng trình tổng hợp có tính
chất liên ngành nằm trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc với
mục tiêu: giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong tổng số hộ của cả nớc xuống còn 10%
năm 2000.
Tiếp theo là Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31-7-1998 của Thủ

vùng dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ đến việc đẩy nhanh ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất
và đời sống. Phát triển kinh tế miền núi, các vùng dân tộc thiểu số cũng gắn
liền với những nhiệm vụ cụ thể trong điều chỉnh quan hệ sản xuất, đổi mới
quản lý, giải phóng nguồn nhân lực sản xuất ở miền núi và vùng dân tộc thiểu
số. Các chính sách, chủ trơng phù hợp với các địa bàn, địa phơng và những
đặc điểm canh tác, sản xuất của các tộc ngời.


20

Nội dung kinh tế của chính sách dân tộc cũng đòi hỏi phải xây dựng kết
cấu hạ tầng, tạo điều kiện phát triển giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc để
phát triển sản xuất, ổn định và nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Về chính trị: Nội dung bao trùm, xuyên suốt của chính sách dân tộc là
thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết, tơng trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc.
Đồng bào các dân tộc thiểu số cũng nh đa số đều có quyền làm chủ, có đầy đủ
các quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm xây dựng thể
chế chính trị mới, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, dân chủ hóa đời
sống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số. ý thức chính trị, văn hóa chính trị
(mà trớc hết là những thông tin, tri thức về đờng lối, chủ trơng, chính sách của
Đảng và Nhà nớc về quyền lợi, nghĩa vụ công dân) đợc chú ý quan tâm
trong chính sách dân tộc.
Về văn hóa: Nội dung nhiệm vụ văn hóa cũng đợc phản ánh rất phong
phú trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nớc ta. Xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bao hàm các nội dung bảo tồn,
phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, phát triển văn hóa, giáo dục, xây
dựng đời sống văn hóa mới của các dân tộc thiểu số, bài trừ hủ tục, mê tín dị
đoan, chống các tệ nạn xã hội, tạo nên sự thống nhất trong sự đa dạng của
nền văn hóa Việt Nam.

càng nghèo và khó khăn thêm.
Trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, thực hiện đờng lối đổi mới của
Đảng, Đại hội Đảng bộ An Giang lần thứ IV (10/1986) đã đánh dấu mở đầu
cho thời kỳ đổi mới ở An Giang bằng chính sách Tam nông, trong đó
nông nghiệp đợc xác định là nền tảng - là mặt trận hàng đầu, nông dân là
chủ thể của quá trình đổi mới và nông thôn là địa bàn chiến lợc, nhất là từ
khi có Nghị quyết 22 ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ tr ơng, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, xem phát triển kinh tế
- xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lợc phát triển nền kinh tế
quốc dân.
Đặc biệt, là Chỉ thị số 68-CT/TƯ ngày 18/4/1991 của Ban Bí th Trung ơng Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer. Chỉ thị đã
phân tích những nguyên nhân chủ yếu của một số sai lầm, tồn tại trong việc
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào Khmer trong thời
gian qua; đồng thời vạch ra kế hoạch phát triển toàn diện về kinh tế đời sống,
văn hóa, xã hội, an ninh chính trị, công tác quần chúng, xây dựng Đảng và đào
tạo cán bộ ngời Khmer. Chỉ thị nêu rõ:
Về kinh tế, đời sống: Phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở để thực hiện
chính sách dân tộc, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc. Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer cần đợc xây dựng trong kế
hoạch chung phát triển kinh tế, xã hội của mỗi tỉnh có đồng bào Khmer và của


22

cả nớc. Kế hoạch đó cần chú ý đến đặc điểm kinh tế và tập quán của từng
vùng để bố trí cơ cấu kinh tế cho phù hợp, xác định cụ thể cơ cấu cây trồng,
vật nuôi hớng theo mục tiêu phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần làm
cho sản xuất, đời sống của đồng bào Khmer có bớc tiến rõ rệt.
Phơng châm phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc Khmer là tiếp
tục phát huy tinh thần tự lực, tự cờng, khai thác đến mức cao nhất mọi tiềm
năng trong nhân dân kết hợp với sự đầu t thích đáng của tỉnh và sự hỗ trợ của

23

học Cần Thơ. Học sinh Khmer đợc miễn học phí ở các cấp học, ngành học. Có
kế hoạch xóa nạn mù chữ và tái mù.
Xây dựng kế hoạch bảo tồn, khai thác và phát huy vốn văn hóa dân tộc
Khmer, xây dựng nhà truyền thống và một số trung tâm văn hóa tiêu biểu của
đồng bào Khmer. Có chính sách củng cố và duy trì các đội văn nghệ dân tộc
Khmer chuyên nghiệp; khuyến khích phong trào văn nghệ quần chúng. Sử
dụng tốt tiếng nói, chữ viết dân tộc Khmer trên các phơng tiện thông tin đại
chúng của địa phơng. Đài truyền hình và phát thanh của các tỉnh có đông
đồng bào Khmer cần tăng thêm thời gian phát sóng bằng tiếng Khmer.
Đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh và xây dựng nếp sống mới,
bài trừ mê tín dị đoan và những phong tục tập quán lạc hậu. Củng cố các tuyến
y tế cơ sở ở phum, sóc, liên xã, củng cố phòng khám đa khoa khu vực, trung
tâm y tế huyện để làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
Cung ứng kịp thời thuốc chống dịch bệnh, các loại thuốc thiết yếu, nhất là
thuốc chữa bệnh sốt rét. Miễn viện phí cho đồng bào dân tộc Khmer nghèo.
Cần đặc biệt quan tâm giải quyết bệnh phụ khoa cho phụ nữ và bệnh suy dinh
dỡng cho trẻ em. Có chính sách và biện pháp tích cực thực hiện kế hoạch hóa
gia đình. Khuyến khích sử dụng các loại thuốc gia truyền dân tộc.
Đối với chùa chiền và s sãi Khmer: Chùa chiền và s sãi có vai trò rất
quan trọng trong đời sống của đồng bào dân tộc Khmer. Phật giáo Nam Tông
mang tính quần chúng. Tôn giáo và bản sắc dân tộc đồng bào Khmer gắn chặt,
hòa nhập vào nhau. Do vậy, vận động s sãi Khmer là một bộ phận quan trọng
trong công tác dân vận của Đảng. Trên cơ sở thực hiện chính sách dân tộc và
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nớc tốt, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của
mỗi tỉnh có đồng bào Khmer, lập Hội đoàn kết s sãi yêu nớc hoặc các hình
thức tổ chức thích hợp để động viên và phát huy truyền thống yêu nớc của s
sãi góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu mở trờng
Pali cấp cao khi có điều kiện để dạy giáo lý cho s sãi Khmer.

các tổ chức xã hội theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp
hành Trung ơng Đảng (khóa VI), phù hợp với đặc điểm và thực tế vùng đồng
bào Khmer.
Có kế hoạch xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở đảng ở vùng đồng bào
dân tộc Khmer. Phát triển đảng viên là ngời dân tộc Khmer phù hợp với đặc
điểm dân tộc Khmer. Trên cơ sở xây dựng đội ngũ trung kiên, cốt cán, lựa
chọn những đoàn viên, hội viên u tú (kể cả trong s sãi) để đào tạo, bồi dỡng
trở thành cán bộ, đảng viên.
Các cấp ủy đánh giá đúng đắn đội ngũ cán bộ, đảng viên Khmer để có
quy hoạch đào tạo, bồi dỡng sử dụng, nhằm phát huy tốt khả năng cống hiến
của cán bộ Khmer cho sự nghiệp xây dựng địa phơng và sự nghiệp xây dựng
đất nớc. Xây dựng một đội ngũ cán bộ đồng bộ hoạt động trong các lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, đối ngoại. Có chính sách đối với những cán bộ ngời dân tộc
Khmer chủ chốt, tiêu biểu, đã tham gia công tác lâu năm.


25

Quán triệt tinh thần cơ bản trên, Đảng bộ An Giang tập trung lãnh đạo
đề ra nhiều giải pháp nhằm phát triển vùng núi - dân tộc, đã tạo sự chuyển
biến tích cực. Tuy nhiên, nhìn chung đời sống đồng bào Khmer vẫn còn nhiều
khó khăn trên nhiều lĩnh vực so với mặt bằng chung của nhân dân trong tỉnh.
Nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện về chính sách dân tộc của Đảng
và Nhà nớc ta, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VI
(1996) khẳng định: "Mục tiêu công tác quần chúng trong năm năm tới là trên
cơ sở tăng cờng khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức, không ngừng
mở rộng khối đoàn kết toàn dân, động viên các tầng lớp nhân dân, tín đồ các
tôn giáo, các dân tộc, phát huy vai trò làm chủ ra sức thực hiện thắng lợi mục
tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo Nghị quyết Đại hội
lần thứ VIII của Đảng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status