ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP
Đảng bộ Hà Nam lãnh đạo thực hiện xóa đói
giảm nghèo trong những năm 1997 - 2005
LUẬN ÁN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI, 2008
-1-
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ………………………………………………………… …….3.
NỘI DUNG………………………………………………………. ……..8.
Chương 1: Thực trạng đói nghèo ở Hà Nam và sự lãnh đạo của Đảng
bộ Hà Nam đối với công tác XĐGN trong những năm 1997 – 2000...8.
1.1 Vài nét về tỉnh Hà Nam và thực trạng đói nghèo ở Hà Nam sau ngày
tái lập tỉnh (1997)…………………………………………... ..….. 8.
1.2 Đảng bộ Hà Nam tổ chức thực hiện nhiệm vụ XĐGN trong những
năm 1997 – 2000………………………………………….. ……. 23.
Chương 2: Đảng bộ Hà Nam tăng cường chỉ đạo thực hiện XĐGN
trong những năm 2001 – 2005………………………………………..41.
2.1 Chủ trương mới của Đảng cộng sản Việt Nam về XĐGN và sự vận
dụng của Đảng bộ Hà Nam……………………………….... …… 41.
2.2 Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị thực hiện nhiệm
vụ XĐGN…………………………………………………... …… 50.
2.2.1 Tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý
3.3.1 Thường xuyên xây dựng Đảng bộ, củng cố chính quyền vững mạnh
làm hạt nhân tổ chức và lãnh đạo công tác XĐGN……... …… 121.
3.3.2 Huy động sức mạnh của toàn dân trên cơ sở phát huy nội lực của
các hộ nghèo……………………………………………. ……. 124.
3.3.3 Lồng ghép các chương trình, dự án, kết hợp thực hiện các chính
sách nhằm tăng nguồn lực XĐGN một cách bền vững….. …….128
KẾT LUẬN…………………………………………….……… ……
133.
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………….. …… 136.
PHỤ LỤC …………………………………………………...... …….146.
-3-
MỞ ĐẦU
1.
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo hiện đang là vấn đề nhức nhối của tất cả các quốc gia
trên thế giới, nhất là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển, trong
đó có Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời đã phải đối mặt với 3 loại giặc nguy hiểm là: giặc đói, giặc dốt
và giặc ngoại xâm nên chống “giặc đói” là một trong ba nhiệm vụ của
toàn Đảng, toàn dân mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra từ ngay sau khi
cách mạng tháng Tám thành công.
Hiện nay, khi đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu
thì trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Đảng và nhà nước ta luôn nhận thức rõ hậu quả của vấn đề đói nghèo đối
với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, coi xoá đói giảm nghèo
kinh tế - xã hội nói chung của Đảng bộ tỉnh Hà Nam.
Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ Hà Nam lãnh đạo thực hiện
xoá đói giảm nghèo trong những năm 1997 - 2005” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đói nghèo và XĐGN ở nước ta là vấn đề được Đảng, nhà nước và
nhiều cơ quan, cán bộ nghiên cứu ở các cấp các ngành cũng như toàn xã
hội đặc biệt quan tâm, nhất là từ năm 1998 khi Chính phủ đưa ra Chương
trình mục tiêu quốc gia về XĐGN. Nhiều cuộc hội thảo đã được tiến
hành, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề XĐGN ở nước ta đã được
xuất bản như: “Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về XĐGN”(1999)
của Bộ LĐTB&XH - Nxb Lao động xã hội; “Vấn đề XĐGN ở nông thôn
nước ta hiện nay”(1997) của Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Xuân Thiều Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội; “XĐGN với tăng trưởng kinh tế” (1997)
của Trần Đình Hoan, Nguyễn Thị Hằng, Bùi Trọng Thanh; “Nghèo đói và
XĐGN ở Việt Nam ”(2001) của Chu Tiến Quang - Nxb Nông nghiệp…
-5Bên cạnh đó, còn có nhiều tác phẩm, bài viết về công tác XĐGN ở
các địa phương trên cả nước đăng trên các báo, tạp chí như: “XĐGN ở
vùng khu IV cũ” (1995) của Lê Đình Thắng, Nguyễn Thanh Hiền - Nxb
Nông nghiệp; “XĐGN ở Từ Liêm – Hà Nội”(2004) của Hoàng Văn
Cường- Nxb Nông nghiệp; “Đói nghèo ở Miền núi Nghệ An – Nguyên
nhân và biện pháp khắc phục” của Bạch Đình Ninh trên tạp chí cộng sản
số 10.1999; “XĐGN ở Hà Tĩnh” của Trần Đình Đàn trên tạp chí cộng sản
số 8.2001 …
Nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học cũng lấy XĐGN làm đề
tài nghiên cứu dưới những góc độ, phương diện khác nhau như: “Quân
đội tham gia XĐGN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”(2004) - Luận
hơn. Trên cơ sở đó, làm rõ vai trò của Đảng bộ Hà Nam trong công tác
lãnh đạo thực hiện công tác XĐGN nói riêng và lãnh đạo sự nghiệp phát
triển kinh tế xã hội nói chung nhằm từng bước nâng cao đời sống nhân
dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, góp phần làm cho dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Để đạt được những mục đích trên luận văn thực hiện những nhiệm
vụ chủ yếu sau:
- Đánh giá thực trạng đói nghèo của Hà Nam sau ngày tái lập
tỉnh.
- Trình bày hệ thống các quan điểm, chủ trương chính sách của
Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Hà Nam về XĐGN.
- Hệ thống lại quá trình lãnh đạo thực hiện XĐGN của Đảng bộ
Hà Nam và đánh giá kết quả thực hiện XĐGN của Hà Nam trong những
năm 1997 – 2005.
- Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ Hà Nam trong lãnh đạo
thực hiện XĐGN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Luận văn nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam vận dụng và
tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước đối với
nhiệm vụ XĐGN trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong những năm 1997 –
2005.
-7-
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã sử dụng, khai thác nhiều nguồn
tư liệu khác nhau: các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng
sản Việt Nam và văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XV
văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Thực trạng đói nghèo ở Hà Nam và sự lãnh đạo của Đảng
bộ Hà Nam đối với công tác XĐGN trong những năm 1997 – 2000.
Chương 2: Đảng bộ Hà Nam tăng cường chỉ đạo thực hiện XĐGN
trong những năm 2001 – 2005.
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm đúc kết từ quá trình Đảng bộ
Hà Nam lãnh đạo công tác XĐGN trong những năm 1997 – 2005.
-9Chương 1: THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở HÀ NAM VÀ SỰ LÃNH
ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HÀ NAM ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XĐGN
TRONG NHỮNG NĂM 1997 – 2000
1.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Hà Nam và thực
trạng đói nghèo ở Hà Nam sau ngày tái lập tỉnh 1997.
1.1.1 Vài nét về tình hình kinh tế xã hội của tình Hà Nam.
Hà Nam vốn thuộc phủ Lỵ Nhân thuộc trấn Sơn Nam và năm 1831
Minh Mạng quyết định lập các tỉnh thì “Phủ Lỵ Nhân đổi là phủ Lý Nhân
thuộc tỉnh Hà Nội, xứ Bắc Kỳ” [3,8]. Ngày 20.10.1890 Toàn quyền Đông
Dương ra nghị định thành lập tỉnh Hà Nam. Từ đó đến nay, đã có nhiều
lần chia tách và sáp nhập tỉnh, nhiều sự điều chỉnh về địa giới hành chính
đã diễn ra: năm 1965 Hà Nam sáp nhập với Nam Định thành tỉnh Nam
Hà và sáp nhập với Ninh Bình vào năm 1976 thành Hà Nam Ninh rộng
lớn, rồi lại chia tách tỉnh Nam Hà và Ninh Bình như cũ vào năm 1992 và
ngày 1.1.1997 tỉnh Hà Nam được tái lập gồm các huyện Thanh Liêm,
Kim Bảng, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên và thị xã Phủ Lý.
Địa giới của tỉnh Hà Nam hiện nay nằm ở phía Tây Nam Đồng
bằng Bắc Bộ vào khoảng 20,410 vĩ Bắc, 105,310 kinh Đông với diện tích
tự nhiên là 840 km2. Phía Bắc của tỉnh Hà Nam giáp với tỉnh Hà Tây,
phía Nam giáp với tỉnh Nam Định, phía Đông qua sông Hồng là Hưng
Yên và Thái Bình, phía Tây Nam là Ninh Bình và phía Tây giáp Hoà
đất đá, cắt xẻ địa hình. Trong điều kiện như vậy các vùng đồi và núi thấp
không còn canh tác được nữa. Đây cũng là một đặc điểm chi phối hoạt
động phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp của
Hà Nam.
Hà Nam còn là một vùng đất vốn có bề dày truyền thống lịch sử
văn hoá. Nơi đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt” được nhiều người biết
đến với di sản “văn hoá Liễu Đôi” nổi tiếng; vùng “thánh địa Tiền Lê
Bảo Thái” đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc
gia; vùng đất của những võ tướng, danh nhân như Cao Thị Liên, Lê
Hoàn, Trần Bình Trọng, Đinh Công Tráng, phó bảng Trương Công Giai,
Hoàng giáp Lê Tung, thám hoa Nguyễn Quốc Hiệu, Tam nguyên Yên Đổ
- 11 Nguyễn Khuyến, Nam Cao, Nguyễn Hữu Tiến… Đặc biệt, dòng họ Bùi ở
làng Châu Cầu (Phủ Lý) nhiều đời liên tục có người đỗ khoa bảng đã
được vua Tự Đức khen ngợi “Thiên hạ đỗ đại khoa thì nhiều nhưng cùng
một thời ba đời đỗ đại khoa thì chỉ có họ Bùi, Châu Cầu" [3,19]. Những
truyền thống đó lại được phát huy mạnh mẽ khi Đảng ta ra đời lãnh đạo
cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân, phong kiến giành độc lập cho
dân tộc và tự do hạnh phúc cho nhân dân. Đảng bộ Hà Nam tự hào là một
trong những Đảng bộ được thành lập rất sớm, ngay sau khi Đảng cộng
sản Việt Nam ra đời. Liền sau đó Đảng bộ Hà Nam đã lãnh đạo quần
chúng nhân dân, nhất là nông dân đứng lên:“nổi trống Bồ Đề” ngày
20.10.1930 lịch sử để trong thư gửi Quốc tế nông dân ngày 5.11.1930,
đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “Hà Nam là một trong những tỉnh
có phong trào nông dân phát triển qua cao trào cách mạng 1930 - 1931”
[3,69]. Những tên tuổi ấy, những truyền thống ấy đã trở thành niềm tự
hào của quê hương Hà Nam và đó cũng là những điều kiện thuận lợi, là
nguồn động lực, là hành trang vô giá để nhân dân Hà Nam sẵn sàng vượt
lên mọi khó khăn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội
mái bằng. Phương tiện giao thông, thông tin liên lạc được tăng cường
đầu tư, 100% số xã và 93,5% số hộ ở nông thôn đã dùng điện, gần 35%
số hộ có ti vi, mạng lưới điện thoại mở rộng tới các xã và một số gia
đình” [66,21-22].
Kế thừa và quán triệt chủ trương đổi mới của Đảng cộng sản Việt
Nam trong thời kỳ thực hiện CNH - HĐH đất nước, BCH Lâm thời Đảng
bộ tỉnh Hà Nam ngay từ khi được tái lập đã luôn quan tâm lãnh đạo sâu
sát sự nghiệp chăm lo đời sống cho nhân dân, phát triển KTXH. Để có
những bước chuyển vững chắc hơn, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã tiến
hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XV (7.1998) và đề ra
nhiệm vụ phát triển KTXH trong ba năm 1998 – 2000 theo đường lối chủ
trương chung của Đảng cộng sản Việt Nam: “…Thúc đẩy nhanh quá
trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP. Phát triển
- 13 lực lượng sản xuất đi đôi với củng cố tăng cường quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng và
quản lí của nhà nước…Phấn đấu đưa Hà Nam trở thành một tỉnh giàu
mạnh, văn minh” [56,51 - 52]. Vượt qua những khó khăn, thử thách ban
đầu của một tỉnh mới được tái lập, được sự quan tâm và lãnh đạo của Bộ
chính trị, trung ương Đảng, sự giúp đỡ của các Bộ, ngành trung ương, đặc
biệt là dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam, nền KTXH của tỉnh sau
một năm tái lập thực sự đã có nhiều chuyển biến và thu được nhiều kết
quả đáng phấn khởi: giá trị sản lượng nông nghiệp đạt 1.067,6 tỷ đồng,
diện tích lúa gieo trồng cả năm đạt 73.633 ha, năng suất lúa đạt 93,32
tạ/ha, sản lượng lương thực quy thóc đạt 371.436 tấn, lương thực bình
quân đầu người năm 1997 đạt 451 kg. Giá trị sản xuất công nghiệp năm
1997 đạt 315,8 tỷ đồng [56,27].
Ngoài hai lĩnh vực kinh tế cơ bản thì các ngành kinh tế khác cũng
735 người/km2 [16,15].
Hà Nam vẫn còn là một tỉnh nông nghiệp, nguồn thu nhập chính
của phần lớn dân cư trong tỉnh dựa vào nông nghiệp, dân số Hà Nam
sống tập trung chủ yếu ở nông thôn, mặc dù trong những năm gần đây tỷ
lệ dân số sống ở thành thị đang ngày một tăng. Sau khi tái lập tỉnh vào
năm 1997 dân số của tỉnh Hà Nam là 782.068 người trong đó dân số sống
ở thành thị là 60.904 người chiếm 7,79% và dân số sống ở nông thôn là
721.164 người chiếm 92,21% tổng số dân toàn tỉnh. Theo số liệu thống
kê thì đến năm 1999 tỷ lệ dân cư thành thị của Hà Nam chiếm 7,98%, dân
cư nông thôn chiếm 92,02% và năm 2003 dân số thành thị là 9,41%, dân
số nông thôn chiếm 90,59% tổng dân số toàn tỉnh Hà Nam. Dân số của
Hà Nam năm 2005 là 820.000 người, trong đó dân số thành thị chiếm
10,6%, dân số nông thôn chiếm 89,4% tổng dân số toàn tỉnh Hà Nam.
Nước ta là một nước nông nghiệp, Hà Nam cũng là một tỉnh thuần
nông với hơn 70% lực lượng lao động và hơn 90% dân cư sống ở nông
thôn nên đói nghèo ở nước ta nói chung và Hà Nam nói riêng đang diễn
ra chủ yếu ở khu vực này và đối tượng này. Không thể đẩy mạnh phát
triển KTXH, thực hiện một cách căn bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
- 15 cả nước theo yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) nếu
không tập trung những điều kiện và biện pháp XĐGN ở nông thôn tạo
tiền đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong tổng thể chiến
lược phát triển KTXH cũng như chiến lược phát triển con người, phát
triển nguồn nhân lực của cả nước nói chung và Hà Nam nói riêng. Đại hội
IX của Đảng đã chỉ rõ “…Ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và phát
huy vai trò giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới, tập trung sự chỉ
đạo và các nguồn lực cần thiết cho CNH - HĐH nông nghiệp, phát triển
nông thôn… phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, XĐGN, cải thiện
đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới” [19,125].
Nhưng Hà Nam cũng đang phải giải quyết nhiều vấn đề còn tồn tại
trong sử dụng nguồn lao động: Tuy lực lượng lao động dồi dào như vậy
nhưng lại phân bố không đồng đều giữa các huyện thị trong tỉnh và giữa
các ngành kinh tế. Phủ Lý là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa
học kỹ thuật (KHKT) của tỉnh nên thu hút rất nhiều lao động. Còn Lý
Nhân và Bình Lục là hai huyện thuần nông nghiệp nên tập trung ở đây ít
lao động nhất tỉnh Hà Nam (tỷ lệ lao động so với tổng số dân là 49,43%
và 48,55%). Trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động ở Hà Nam còn
rất thấp, trong tổng số 472.458 lao động năm 2002 thì có 361.939 người
không có trình độ chuyên môn kĩ thuật chiếm 76,6%, có 68.638 người có
trình độ từ sơ cấp học nghề trở lên chiếm 14,5%, có 41.881 người từ công
nhân kĩ thuật có bằng trở lên chiếm 8,9%. Hơn nữa, khi xem xét cơ cấu
dân số theo tuổi thì tỷ lệ nữ trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 51% và
số người hết tuổi lao động thấp hơn nhiều so với số người đến tuổi lao
động. Số lượng đông đảo người trong độ tuổi có khả năng lao động không
có việc làm (thất nghiệp) đang gây ra một áp lực lớn và tăng thêm tính
phức tạp trong đối với vấn đề giải quyết việc làm của Hà Nam. Tỷ lệ thất
nghiệp ở khu vực thành thị của Hà Nam năm 2000 là 6,98% tổng số dân
từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế hoặc 7,11% so với số dân trong độ
tuổi lao động, với lực lượng lao động nữ các tỷ lệ này là 7,09% và 7,18%.
Trong khi đó ở khu vực thành thị cả nước các tỷ lệ tương ứng là 6,37%,
- 17 6,44% và 6,19%, 6,26%. Điều này chứng tỏ ở khu vực thành thị của Hà
Nam tỷ lệ người thất nghiệp cao hơn bình quân chung của cả nước.
Như vậy, dân số của tỉnh Hà Nam chủ yếu sống ở nông thôn, lao
động của tỉnh chủ yếu là lao động nông - lâm nghiệp. Hà Nam có nguồn
lao động khá phong phú, dồi dào sẽ là một tiềm năng cho phát triển các
ngành kinh tế của tỉnh nhưng thu nhập và năng suất lao động, nhất là
trong nông nghiệp quá thấp, trình độ tay nghề của lao động còn kém, lao
cuộc sống của mình? Một người nghèo ở miền núi phía Bắc khi được hỏi
đã trả lời “Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai
không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, trong nhà nhìn
thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân” [9,20]. Một
người nghèo ở Hà Tĩnh thì quan niệm “nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở
bằng tranh tre, nứa lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai sản
xuất, không có trâu bò; không có tivi; con cái thất học; ốm đau không có
tiền đi khám chữa bệnh…” [9,20]. Như vậy, từ quan niệm có hệ thống
của các tổ chức đến quan niệm mang tính kinh điển của Abapie Sen và
cuối cùng là tiếng nói của người trong cuộc đều phản ánh ba khía cạnh
chủ yếu sau của người nghèo: Thứ nhất là không được hưởng thụ những
nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. Thứ hai là có mức
sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. Và cuối cùng
là thiếu cơ hội được lựa chọn tham gia vào các quá trình phát triển của
cộng đồng.
Đó là những quan niệm về nghèo đói chung, còn ở Việt Nam
cũng đã có những quy định cụ thể về tiêu chuẩn xã nghèo, hộ nghèo. Bộ
lao động thương binh và xã hội (LĐTB&XH) đã đưa ra chuẩn đói nghèo
quốc gia nhằm mục đích: xác định ai là người nghèo, xã nào là xã nghèo,
số lượng và địa chỉ cụ thể nhằm lập danh sách hộ nghèo từ các thôn xã và
danh sách xã nghèo từ các huyện trở lên để định hướng sự trợ giúp của
chương trình quốc gia về XĐGN, có chính sách giải pháp hữu hiệu nhằm
XĐGN phù hợp với khả năng kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ.
- 19 Hơn nữa, Việt Nam cũng cần có một tiêu chí để đánh giá diễn biến đói
nghèo hàng năm, so sánh mức độ nghèo giữa các nhóm dân cư, giữa nông
thôn, thành thị và các vùng để có các giải pháp phù hợp với từng đối
tượng, từng vùng. Theo đó, xã nghèo là xã có tỉ lệ hộ đói nghèo từ 25%
trở lên theo chuẩn nghèo mới và chưa đủ hạ tầng cơ sở thiết yếu như:
đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng tương đương 70.000 đồng;
Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng tương đương 90.000 đồng.
Căn cứ vào chuẩn mực chung của cả nước, Đảng bộ tỉnh Hà Nam
đã chỉ đạo các cấp, các ngành tiến hành đánh giá thực trạng đói nghèo của
tỉnh. Tỷ lệ đói nghèo của Hà Nam theo chuẩn cũ là 14,5% vào năm 1996
nhưng từ khi áp dụng chuẩn nghèo mới của công văn số 1751/LĐTBXH
ngày 20.5.1997 thì tỷ lệ đói nghèo của Hà Nam năm 1997 là 15,43%.
Ngày 1.1.1997 Hà Nam được tách ra từ tỉnh Nam Hà. So với trước
đổi mới, kinh tế xã hội của Hà Nam có bước phát triển. Nhưng để thực
hiện CNH - HĐH, Hà Nam gặp rất nhiều khó khăn: điều kiện tự nhiên
không thuận lợi, đất đai nông nghiệp bình quân đầu người thấp, mật độ
dân số khá cao, công nghiệp địa phương lạc hậu và nhỏ bé, thương mại và
du lịch dịch vụ chưa phát triển, nền kinh tế của Hà Nam phát triển chậm
trên nền tảng điểm xuất phát thấp, thu nhập sản xuất thấp, nguồn thu ngân
sách hạn hẹp, chưa có nguồn thu chủ lực, cơ cấu kinh tế biến đổi chậm,
GDP bình quân đầu người thấp hơn so với của cả nước và của nhiều tỉnh
trong vùng… Hà Nam là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng
có nền kinh tế mang nặng tính thuần nông, nguồn thu chủ yếu của nhân
dân trong tỉnh dựa vào sản xuất nông nghiệp, 74,7% số hộ nông dân có
thu nhập chính từ nông nghiệp. Đất nông nghiệp Hà Nam chiếm 70%
diện tích đất tự nhiên với hơn 90% dân số sống ở nông thôn, bình quân
ruộng đất thấp khoảng 633 m2/người. Thu nhập bình quân đầu người 170
đô la (USD) và tổng GDP của Hà Nam đóng góp vào GDP của cả nước
mới đạt 0,6%. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển đổi rất chậm chạp thể hiện
tính chất của cơ cấu kinh tế truyền thống và về cơ bản vẫn là một nền
- 21 kinh tế nặng về nông nghiệp nên trong cơ cấu kinh tế của Hà Nam tỷ lệ
lớn nhất vẫn là nông – lâm nghiệp chiếm 49,6% năm 1996 và chiếm
48,3% năm 1997. Còn tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong
theo đó là Huyện Bình Lục 16,02%, Lý Nhân 14,81%, Kim Bảng 11,78%
và cuối cùng thấp nhất là Thị xã Phủ Lý với tỷ lệ 6,91% [80,5]. Kết quả
điều tra năm 1997 cho thấy mặc dù tỷ lệ nghèo đói ở thành thị (Phủ Lý) là
6,91% có thấp hơn so với vùng nông thôn nhưng đó là điều làm cho Đảng
bộ tỉnh trăn trở: vì sao ở thành thị - khu trung tâm kinh tế - chính trị - văn
hoá - xã hội của cả tỉnh mà vẫn còn tình trạng nghèo đói cao đến như
vậy? Một điểm đáng lưu ý khác là ở Hà Nam có 15 xã được nhà nước
công nhận là xã miền núi lại tập trung ở 2 huyện là Kim Bảng (gồm 7 xã:
Ba Sao, Liên Sơn, Thanh Sơn, Tân Sơn, Khả Phong, Tượng Lĩnh, Thi
Sơn ) và Thanh Liêm (gồm 8 xã: Thanh Lưu, Thanh Nghị, Thanh Hải,
Thanh Thuỷ, Thanh Tân, Thanh Tâm, Liêm Sơn và thị trấn Kiện Khê).
Nhưng ở hai huyện này tỷ lệ hộ đói lại rất thấp. Huyện Kim Bảng là
huyện duy nhất trong 6 huyện thị của Hà Nam không có hộ đói vào năm
1997. Huyện Thanh Liêm tuy có tỷ lệ hộ đói nghèo chung cao thứ 2 tỉnh
Hà Nam nhưng tỷ lệ hộ đói (là 2%) lại chỉ đứng sau Kim Bảng (không
còn hộ đói) và Phủ Lý (tỷ lệ hộ đói là 0,03%). Còn huyện có tỷ lệ hộ đói
cao nhất là huyện Lý Nhân (5,46%) mặc dù tỷ lệ đói nghèo chung của
huyện này chỉ đứng thứ 4/6 huyện thị [79,5].
Bảng 1: Tỷ lệ đói nghèo của tỉnh Hà Nam năm 1997
TT
Đơn vị
1
2
3
4
5
6
2,00
15,00
5,46
9,35
3,32
12,11
- 23 Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chương trình XĐGN tỉnh Hà Nam
Trên đây là những nét cơ bản nhất về thực trạng đói nghèo của
tỉnh Hà Nam sau ngày tái lập tỉnh. Nói chung, điều kiện sống của nhân
dân còn gặp vô vàn khó khăn, thiếu thốn, các nhu cầu và điều kiện tối
thiểu của cuộc sống cũng chưa được đảm bảo, Hà Nam vẫn còn là tỉnh
nghèo so với cả nước. Thực trạng nghèo đói trên của Hà Nam bắt nguồn
từ nhiều nguyên nhân khác nhau cụ thể là:
Nguyên nhân khách quan: Hà Nam là tỉnh có địa hình khá phức
tạp, vừa có vùng núi, vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng, lại mang trong
mình những khó khăn vất vả của vùng đất chiêm trũng vốn được mệnh
danh là “Sống ngâm da, chết ngâm xương”, vùng đất “nửa năm đi bằng
chân, nửa năm đi bằng tay” và đặc biệt là “Chiêm khê, mùa thối”. Đây là
thử thách không nhỏ đối với sự phát triển KTXH của Hà Nam nhất là
trong kinh tế nông nghiệp, từ đó đã tác động không nhỏ tới đời sống của
nhân dân Hà Nam.
Bên cạnh đó, các yếu tố chủ quan cũng là nguyên nhân quan trọng
dẫn đến thực trạng đói nghèo của Hà Nam. Trước hết phải kể đến nguyên
nhân thiếu các điều kiện sản xuất cơ bản như: thiếu vốn, thiếu lao động,
thiếu đất và công cụ sản xuất, thiếu việc làm, thiếu kinh nghiệm sản xuất
và kiến thức làm ăn, thiếu thị trường… Vốn là một yếu tố quan trọng để
phát triển kinh tế nhưng cũng là vấn đề khó khăn nhất của các hộ nghèo,
1.2 Những chủ trương và biện pháp XĐGN của Đảng bộ Hà
Nam trong những năm 1997 – 2000.
1.2.1: Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về XĐGN
Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu. Trong những năm
qua, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước nền kinh tế nước ta
tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống nhân dân đã được nâng lên một
cách rõ rệt, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi. Song một bộ phận không
nhỏ dân cư, đặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa… đang chịu