ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ NGỌC HÀ
ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Ngọc Ninh
HÀ NỘI - 2012
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 4
Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 .................. 10
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng và
công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trƣớc năm 2001 ........................ 10
1.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng
................................................................................................................. 10
1.1.2. Công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng trước năm
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 115
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang đứng trước thời khắc trọng đại của lịch sử là đang tiến
vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng
cũng xuất hiện không ít những vấn đề gay gắt, mang tính toàn cầu. Một trong
những vấn đề đó là đói nghèo. Nó tồn tại như một thách thức lớn đối với sự
phát triển bền vững của các chế độ xã hội, của mỗi quốc gia, dân tộc. Cuộc
chiến chống đói, nghèo luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nước
trên thế giới, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi toàn cầu hóa, quốc tế
hóa nền kinh tế đang là xu hướng chủ đạo, chi phối sự phát triển của mỗi quốc
gia, dân tộc. Một số quốc gia, tổ chức quốc tế đã tổ chức các diễn đàn quốc tế
và các hoạt động chống đói, nghèo. Coi đó là một trong những mục tiêu quan
trọng hàng đầu trong chương trình hoạt động của mình.
Ở nước ta, công tác xóa đói, giảm nghèo được xác định là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước, đã và đang trở thành một
nội dung quan trọng của chương trình công tác của các cấp ủy đảng, chính
quyền, đoàn thể. Công tác này được bắt đầu từ khi xuất hiện xu hướng phân
hóa giàu, nghèo trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Trong
quá trình thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của
nhân dân nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và được thế giới
biết đến. Đó là nhờ từ rất sớm (từ năm 1991), vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã
được đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu và triển khai thành phong trào
xóa đói giảm nghèo sâu rộng trong cả nước. Theo tổng kết của Chương trình
Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), trong điều kiện kinh tế, xã hội của mình so
với những nước có cùng mức GDP, Việt Nam đã sử dụng những nguồn lực có
tinh thần cho nhân dân. Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
bộ tỉnh, sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp và toàn thể nhân dân, Cao
5
Bằng đã đạt được những thành tựu lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo: tỷ
lệ hộ nghèo năm 2006 là 47,82% đã giảm xuống còn 23% vào năm 2010. Tuy
nhiên, công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn cả
về khách quan và chủ quan, những nguồn lực sẵn có chưa phát huy hết hiệu
quả nên thành tựu đạt được còn khá khiêm tốn so với khả năng hiện có của
tỉnh. Để lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo trong những năm tới đạt kết quả cao
hơn, vấn đề quan trọng hàng đầu cần thực hiện tốt là tổng kết thực tiễn, rút ra
những bài học kinh nghiệm để công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh đạt kết
quả cao hơn. Nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi cấp bách đó, tôi chọn và thực
hiện đề tài luận văn thạc sỹ: “Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo công tác xóa
đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Đói, nghèo và xóa đói, giảm nghèo là vấn đề lớn, bức thiết ở nước ta
hiện nay, đã và đang thu hút các cơ quan, các nhà khoa học nghiên cứu tìm
giải pháp. Kết quả nghiên cứu của các công trình, các nhà khoa học đã được
đăng tải trong các sách, tạp chí và trong các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ
và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Sau đây là các công trình khoa
học liên quan trực tiếp đến đề tài:
- “Xóa đói giảm nghèo” của Bộ Lao động – Thương binh xã hội (1993).
- “Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay” của
Nguyễn Thị Hằng (NXB chính trị quốc gia Hà Nội - 1997)
- “Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo
ở Viêt Nam” chủ biên GS. PTS Vũ Thị Ngọc Phùng (NXB chính trị quốc gia
- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2010)…
Nhìn chung từ cách tiếp cận và nghiên cứu của các chuyên ngành khác
nhau các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn
của vấn đề đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu của các công trình đó có giá trị tham khảo
tốt để thực hiện đề tài luận văn. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa
học nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ của khoa học chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao
7
Bằng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến
năm 2010 (từ Đại hội Đảng tỉnh lần thứ XV đến kết thúc nhiệm kỳ Đại hội
Đảng tỉnh lần thứ XVI).
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Cao Bằng quán triệt chủ
trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta vào việc lãnh đạo
công tác xóa đói giảm nghèo ở Tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010, qua đó rút ra
những kinh nghiệm để vận dụng vào giai đoạn cách mạng tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Luận văn trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo thực hiện
xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến năm 2010.
- Rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm từ công tác lãnh đạo
xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng trên địa bàn tỉnh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh
đạo công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010.
- Góp phần làm sáng tỏ những thành công, hạn chế và những bài học
kinh nghiệm trong thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh
Cao Bằng những năm 2001 – 2010.
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là nguồn tư liệu tham khảo
để công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh đạt kết quả lớn hơn trong
những năm tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
CHƢƠNG 1. ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA
ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
CHƢƠNG 2. ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA
ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
9
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI,
GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng
và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trƣớc năm 2001
1.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng
*Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý, Cao Bằng là tỉnh miền núi, vùng cao biên giới, phía
Đông Bắc của tổ quốc. Nằm ở tọa độ địa lý 22o22’ - 23o07’ vĩ Bắc, 105o40’ 106o40’ kinh Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây - Trung
Quốc, có đường biên giới dài 311 km2. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và
mạnh của tiểu vùng này là: chăn nuôi và lâm nghiệp.
Tiểu vùng bồn địa thị xã Cao Bằng và huyện Hòa An dọc sông Bằng
chiếm 12% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đây là vùng trồng lúa nước lớn nhất
của tỉnh. Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: lúa, thuốc lá, thủy sản.
Về khí hậu, Cao Bằng có khí hậu mang tính chất đặc thù của dạng khí
hậu lục địa miền núi cao (khí hậu Châu Á nhiệt đới) thể hiện 4 mùa trong năm
nhưng rõ rệt nhất là mùa hè và mùa đông, biên độ nhiệt thay đổi lớn, lượng
mưa ít và phân bố không đều. Mưa, bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 với
lượng mưa trung bình hàng năm 1.500mm. Vùng mưa nhiều gồm các huyện
Nguyên Bình, bắc Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hạ Lang là
1.500 - 1.900mm; vùng mưa trung bình: Hòa An, nam Hà Quảng, Trùng
Khánh là 1.300 - 1.500mm. Các hiện tượng gió lốc, gió bấc, tuyết rơi, sương
11
muối, mưa đá xảy ra thường xuyên. Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất
350oC, thấp nhất 0oC. Hàng năm có 3 tháng mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8)
nhiệt độ trung bình là 30 - 34oC; tháng nóng nhất là tháng 7; mùa đông, nhiệt
độ trung bình là 5 - 6oC, tháng lạnh nhất là tháng 1. Tần suất sương muối
thường xảy ra vào tháng 1 và tháng 2. Với đặc điểm khí hậu đặc thù, đã tạo
cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây con phong
phú đa dạng, trong đó có những cây đặc sản như dẻ hạt, hồng không hạt, đậu
tương có hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng…mà nhiều nơi khác không
có điều kiện phát triển
Về nguồn lao động: theo tổng điều tra dân số 1/4/1999, dân số Cao
Bằng có 490.335 người, trong đó có 421.999 người sống ở nông thôn, chiếm
86,06% tổng dân số; gồm có các dân tộc chủ yếu sau: dân tộc Tày 208.822
người, chiếm 42,58%; dân tộc Nùng 161.134 người, chiếm 32,86%; dân tộc
Dao 47.218 người, chiếm 9,63%; dân tộc Mông 41.437 người, chiếm 8,45;
Nhân, Mộc Nhĩ, Nấm Hương, Cánh Kiến…và các loại hạt có dầu (Trẩu, Sở,
Lạc…) các cây dược liệu, thuốc bổ đông y quý hiếm như Nhân Sâm, Tam
Thất, Ngũ Gia Bì…Trong rừng còn có nhiều Mây, Song và nhiều loại gỗ quý
như Trai, Nghiến, Lim, Lát, Đinh, Dổi…Đây là một trong những lợi thế tiềm
năng của Cao Bằng.
Về tài nguyên khoáng sản, Cao Bằng là một trong những tỉnh miền núi
có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, trong đó có những
khoáng sản có tiềm năng lớn, giá trị kinh tế cao, đã và đang được khai thác
phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Qua khảo sát, có tới
150 điểm mỏ với 22 loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn và chất lượng tốt
như mỏ Quặng sắt (Nà Lủng - thị xã); Thiếc (Tĩnh Túc - Nguyên Bình); Măng
Gan (Trà Lĩnh, Trùng Khánh)… Đáng kể nhất là Sắt trữ lượng khoảng 60
triệu tấn, Bôxít trữ lượng khoảng 180 triệu tấn, Măng Gan trữ lượng khoảng
13
2,7 triệu tấn, Thiếc trữ lượng khoảng 11,5 nghìn tấn. Ngoài ra còn có Vàng,
Đồng, Niken, Chì, Urani, Berili, Barit, Fluorit, Photphorit, đá quý Rupi,
Saphia…có thể khai thác trong vài chục năm tới; đá Vôi có trữ lượng hàng
ngàn triệu tấn, có nhiều công dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng. Đây là
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngành công nghiệp trong tương lai.
Như vậy, với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và những nguồn tài
nguyên sẵn có, Cao Bằng có những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế
- xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần tạo những thuận
lợi nhất định trong công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh. Song điều kiện tự
nhiên của Cao Bằng cũng gây nên những khó khăn nhất định trong công tác
xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là đối với các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh.
*Điều kiện kinh tế - xã hội
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, Cao Bằng có nhiều thuận lợi nhất định
thấp sang nuôi công nghiệp, nuôi bán công nghiệp và kết hợp nuôi cá trên
ruộng trồng lúa nước. Giá trị sản xuất ngư nghiệp của Cao Bằng đang từng
bước tăng lên. Trong những năm tới, Cao Bằng tập trung nâng cao năng suất
nuôi trồng thủy sản, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân ngành thủy
sản khoảng 30%/năm.
Về Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Theo số liệu thống kê năm
2002, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có 1.965 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp. Hầu hết các cơ sở sản xuất đều được đặt ở Thị xã, tỷ lệ tập trung
chiếm khoảng 80%. Đã xây dựng và đưa vào sản xuất Lò cao luyện gang
22m3, nhà máy xi măng 3,5 vạn tấn/năm, nhà máy Đường 700 tấn mía/ngày,
nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng 20 triệu viên gạch/năm…Thời kỳ 1996 2000 giá trị sản xuất công nghiệp tăn g bình quân hàng năm là 23,5%. Mạng
lưới điện quốc gia đã được xây dựng đến trung tâm tất cả các huyện, 105/189
xã, phường, thị trấn đã có điện đến trung tâm với 55% hộ dân được dùng điện.
Các trục đường giao thông quan trọng được nâng cấp, hệ thống đường giao
15
thông nông thôn được quan tâm đầu tư, đến hết năm 2001 chỉ còn 5 xã chưa có
đường ô tô đến trung tâm. Hệ thống thông tin liên lạc đã tự động hóa đến tất cả
các huyện và địa bàn trọng yếu với 125/189 xã có điện thoại.
Về kinh tế du lịch, với lịch sử hình thành lâu đời và trải qua nhiều thời
đại, Cao Bằng đã để lại nhiều di tích lịch sử văn hóa có giá trị. Theo báo cáo
của sở văn hóa - thông tin, toàn tỉnh có 37/226 di tích đã được Bộ văn hóa thông tin xếp hạng. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng có khả năng thu hút
cao khách du lịch trong và ngoài nước. Bao gồm nhóm di tích lịch sử - văn
hóa như đền Kỳ Sầm, thành nhà Mạc; nhóm di tích lịch sử cách mạng trong
đó đáng chú ý nhất là cụm di tích lịch sử Pác Bó - một trong 9 di tích đặc biệt
quan trọng có ý nghĩa lịch sử quốc gia; các danh lam thắng cảnh như: thác
Bản Giốc, động Ngườm Ngao…Ngoài ra, lễ hội các dân tộc thiểu số cũng là
một loại hình du lịch nhân văn, hấp dẫn, lôi cuốn khách du lịch.
ủy, chính quyền cần xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để xóa đói, giảm
nghèo. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã xây
dựng Chương trình xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn
(1996 - 2000). Trong quá trình thực hiện đã triển khai việc lồng ghép các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên các địa bàn huyện, xã. Xây dựng
các dự án, thu hút nguồn vốn tập trung cho công tác xóa đói, giảm nghèo, kể
cả các nguồn vốn của nước ngoài như: Dự án ngân hàng Bò của tổ chức
ADRA (Úc), dự án tín dụng cho người nghèo vay vốn để phát triển sản xuất
của tổ chức MISEREOR (CHLB Đức) tài trợ…
Với những nỗ lực đó, sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ
XIV và chương trình xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, trên địa bàn
tỉnh đã đạt kết quả đáng khích lệ. Tỷ lệ đói nghèo theo tiêu chí cũ quy định
giai đoạn (1996 - 2000) năm 1996 là 39,3% đã giảm xuống còn 11,03% vào
cuối năm 2000, bình quân mỗi năm giảm 5,6% (khoảng 5.500 hộ), hàng vạn
hộ đã vượt qua đói nghèo. Đời sống của những vùng nghèo, hộ nghèo được
17
cải thiện bớt khó khăn hơn, hạ tầng cơ sở các vùng đặc biệt khó khăn được
đầu tư, đổi mới đáng kể. Trong 5 năm, từ 1996 - 2000 toàn tỉnh đã giảm được
27.500 hộ đói nghèo; Tổng nguồn vốn huy động cho các chương trình, dự án
liên quan đến mục tiêu Quốc gia xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm
khoảng trên 620 tỷ đồng, riêng trong 2 năm 1999 - 2000 là 292 tỷ đồng; Các
dự án thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo theo quyết
định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ như: dự
án đầu tư cơ sở hạ tầng; dự án tín dụng; dự án hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc
biệt khó khăn; dự án định canh, định cư, ổn định dân cư, kinh tế mới; dự án
hướng dẫn cách làm ăn và khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cho người
nghèo; dự án đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác xóa đói giảm
Lao động - Thương binh xã hội quy định giai đoạn 2001 - 2005 tại thời điểm
tháng 3 năm 2001, tỷ lệ nghèo toàn tỉnh chiếm 25% với 24.435 hộ nghèo. Số
hộ nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực III chiếm 37,7% với 18.708 hộ, khu
vực II chiếm 14,13%. Mức sống của nhân dân nói chung, thu nhập của người
lao động nói riêng vẫn còn thấp.
Tình trạng thiếu việc làm, lao động dôi dư của các doanh nghiệp còn
nhiều, lao động có sức khỏe ở thị xã, thị trấn thất nghiệp còn lớn. Số người có
việc làm thường xuyên chủ yếu ở ngành nông - lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao
79%, công nghiệp xây dựng 5%, thương mại và dịch vụ 16%, tiến độ chuyển
dịch cơ cấu diễn ra chậm, năng suất lao động thấp, khả năng đầu tư phát triển
hạn chế đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Qua điều tra lao động việc
làm (thời điểm 1/7/2000) tỷ lệ lao động không có việc làm (thất nghiệp) ở khu
vực thành thị còn 6,05%, tỷ lệ thiếu việc làm chung cả hai khu vực (thành thị
và nông thôn) còn 8,1%.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này như:
Một là, điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt, hạn hán thường xảy ra, hậu
quả của chiến tranh để lại còn nặng nề, nhiều hộ gia đình thiếu đất canh tác,
19
thiếu kiến thức, thiếu vốn đầu tư, thiếu kinh nghiệm sản xuất lại đông con và
chưa thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu.
Hai là, ý chí quyết tâm vượt đói nghèo của nhiều hộ chưa cao, còn tồn
tại tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của nhà nước và cộng đồng xã hội;
chưa phát huy và khai thác được thế mạnh của địa phương, lực lượng lao
động nông nghiệp và phi nông nghiệp còn lớn nhưng lại thiếu kỹ thuật, thiếu
trình độ tay nghề.
Ba là, chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm là
chương trình kinh tế - xã hội tổng hợp, diễn ra trên phạm vi rộng, đòi hỏi phải
được đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu và sau đó dần dần được triển
khai trong thực tiễn. Đến năm 1996, sau 10 năm đổi mới, đất nước thoát ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề đói nghèo cũng được quan tâm. Đảng đã
đưa ra quan điểm “ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng
trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội”[23, tr.31].
Nghị quyết Đại hội VIII (6/1996) của Đảng cũng xác định xóa đói, giảm
nghèo là một trong mười một Chương trình phát triển kinh tế - xã hội và đặt
ra mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói trong tổng số hộ của cả nước từ 20 - 25%
năm 1996 xuống khoảng 10% vào năm 2000[23, tr.38]. Thực hiện chủ trương
của Đảng, Chính phủ đã ra quyết định số 133/1998/QĐ-TTg, ngày 23/7/1998,
phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo giai đoạn
1998 - 2000. Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng chương trình quốc gia về
xóa đói, giảm nghèo một cách có hệ thống. Ngay sau đó, Chính phủ ra quyết
định số 135/1998/QĐ -TTg, ngày 31/7/1998, phê duyệt Chương trình phát
triển kinh tế đối với các xã đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa.
Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai
đoạn: Giai đoạn I từ năm 1998 đến năm 2000; Giai đoạn II từ năm 2001 đến
21
năm 2005. Tuy nhiên đến năm 2006, Nhà nước quyết định kéo dài chương
trình này thêm 5 năm và xác định: Từ năm 1997 đến năm 2006 là giai đoạn I.
Giai đoạn II từ năm 2006 đến năm 2010.
Mục tiêu của giai đoạn I là: Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho
các hộ dân tộc thiểu số; phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển các dịch vụ công
cộng địa phương thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế, nước sạch; nâng
cao đời sống văn hóa.
Mục tiêu giai đoạn II là: Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất; thúc đẩy
Chương trình đưa ra quan điểm: Xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm
là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, là một trong những chương trình trọng
điểm phát triển kinh tế - xã hội, là chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên
trong toàn bộ chính sách kinh tế - xã hội nhằm phát triển kinh tế đáp ứng yêu
cầu bức xúc của con người, cải thiện đời sống nhân dân. Phát triển kinh tế đi
đôi với thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững, gắn xóa đói, giảm nghèo với
phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, kinh tế hộ, dịch vụ, ngành nghề,
lồng ghép xóa đói, giảm nghèo với các chương trình mục tiêu Quốc Gia và an
sinh xã hội.
Ngày 27 tháng 09 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 143/2001/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm
nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005 chỉ rõ mục tiêu tạo ra các
điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phát
triển sản xuất, tăng thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, xóa đói giảm nghèo,
giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian
lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ
cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người có nhu cầu làm việc, nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân.
Ngày 07 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng tiếp tục ban hành Quyết định
số 186/2001/QĐ-TTg về phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn
23
miền núi phía Bắc thời kỳ 2001 - 2005 bao gồm Lào Cai, Cao Bằng, Hà
Giang, Sơn La, Bắc Kạn, Lai Châu. Đây thật sự là một chủ trương có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với công tác xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi
đặc biệt khó khăn, là động lực để các tỉnh này vươn lên mạnh mẽ trong quá
trình phát triển kinh tế, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, hòa chung
với nhịp độ phát triển của cả nước.
ta về xóa đói, giảm nghèo không chỉ bảo đảm tính hiệu quả của công tác xóa
đói, giảm nghèo mà còn đảm bảo tính bền vững trước những nguy cơ đói
nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra trong những biến cố của môi trường
thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển.
1.3. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng về xóa
đói, giảm nghèo từ 2001 đến 2005
Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo thông
qua các hoạt động đề ra chủ trương, nghị quyết về xóa đói, giảm nghèo và chỉ
đạo chính quyền, các tổ chức và nhân dân thực hiện nhằm đạt mục tiêu xóa
đói, giảm nghèo đã được xác định.
Trên cơ sở chủ trương, quan điểm của Đảng về xóa đói, giảm nghèo từ
năm 2001 - 2005, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng mà trực tiếp là Tỉnh ủy đã đề ra các
chủ trương, nghị quyết về vấn đề này của tỉnh và chỉ đạo thực hiện.
1.3.1. Chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về xóa đói,
giảm nghèo
Phát huy thành quả đạt được của công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn
1996 - 2000, trên cơ sở chủ trương, quan điểm của Đảng về xóa đói, giảm
nghèo, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XV (2001 - 2005)
nhấn mạnh: “Trong những năm tới cần khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng,
thế mạnh đặc thù của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội tập trung mọi nguồn
lực đầu tư cho phát triển. Cải thiện một bước vật chất, tinh thần của nhân dân,
25