đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo từ 2006 2010 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------

NGUYỄN THỊ TÌNH

ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH
ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TH.S CHU THỊ THU THỦY

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè và các thầy
cô trong khoa lịch sử (Trường Đại học sư phạn Hà Nội 2) – những người giúp
đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình, Sở
Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Bình, giúp đỡ em trong thời gian
thực hiện khóa luận.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, Th.S Chu Thị Thu Thủy đã
chỉ bảo và hướng dẫn em nhiệt tình để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng nhưng khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót,
khuyết điểm. Kính mong các thầy, cô giáo cùng bạn bè đóng góp ý kiến.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả khóa luận

1.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH
NINH BÌNH TRƯỚC NĂM 2006 ........................................................... 11
1.3. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO..................................................................................................... 16
Chương 2. ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2010 ................................. 20
2.1. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH VỀ XÓA
ĐÓI GIảM NGHÈO TRONG TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2010....................... 20
2.2. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO TỈNH NINH BÌNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2010 ........................ 25
2.2.1. Quá trình thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung ....... 25


2.2.2. Quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo đối với các xã nghèo, cụm
xã nghèo trọng điểm theo Nghị quyết số 10-NQ/TU của Ban Chấp hành
Đảng bộ tỉnh; Đề án số 15/ĐA-UBND của UBND tỉnh (23 xã nghèo) .......... 30
Chương 3. NH N X T V B I H C KINH NGHIỆM .............................. 33
3.1. MỘT SỐ KẾT QUẢ V HẠN CHẾ ................................................ 33
3.1.1. Những kết quả đạt được ............................................................... 33
3.1.2. Hạn chế ..................................................................................... 34
3.2. B I H C KINH NGHIỆM V

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ XÓA

ĐÓI GIẢM NGHÈO ................................................................................. 35
3.2.1. Bài học kinh nghiệm ................................................................. 35
3. 2.2. Một số đề xuất về xóa đói giảm nghèo ..................................... 36
3.2.2.1. Về công tác chỉ đạo ......................................................... 36
3.2.2.2. Cơ chế huy động vốn ....................................................... 36
3.2.2.3. Cơ chế thực hiện .............................................................. 37

xuất, sinh hoạt lạc hậu, kết cấu hạ tầng gần như chưa có gì. Để khắc phục những
khó khăn đó thời gian từ 2006 đến 2010, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã đề ra
những chủ trương, chính sách để phát huy mọi nguồn lực đẩy mạnh sự phát
triển kinh tế của địa phương, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho nhân dân.
1


Vì vậy sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác xóa đói giảm nghèo
là hết sức cần thiết và quan trọng. Tìm hiểu quá trình lãnh đạo xóa đói giảm
nghèo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong những năm 2006 - 2010 sẽ giúp chúng
ta thấy được những chủ trương, chính sách, thành tựu đạt được cũng như những
thách thức mà Đảng bộ Tỉnh đã trải qua và bước đầu đề ra một số bài học kinh
nghiệm trong công tác xóa đói giảm nghèo để các năm tiếp theo đại kết quả cao
hơn. Với những ý nghĩa đó tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh
đạo công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2010”làm đề tài khóa
luận chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghèo đói là một hiện trạng rất phổ biến trong và ngoài nước, cho nên
vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh
khác nhau.
Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, đã đề cập
đến vấn đề xoá đói giảm nghèo, trong đó có các công trình như:
Nguyễn Thị Hằng (1993),Nhận diện đói nghèo ở nước ta, Nxb Lao động
và Thương binh xã hội, Hà Nội; Nguyễn Văn Thiều (1996), Xóa đói giảm
nghèo, Nxb Lao động Hà Nội; Xoá đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế, Nxb
Lao động và Thương binh xã hội, Hà Nội (1997).Các công trình nghiên cứu này
làm rõ các vấn đề lý luận về đói nghèo và phân tích rõ về các yếu tố ảnh hưởng
đến đói nghèo ở nước ta, từ đó đưa những giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo
nói chung.

Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một cách toàn diện và khách quan
quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối với công tác xóa đói
giảm nghèo; tái hiện lại những kết quả đạt được, rút ra nhận xét; và một số bài
học kinh nghiệm về công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh Ninh bình trong giai
đoạn 2006 – 2010.
• Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển từ năm
2006 đến năm 2010”, đề tài hướng đến giải quyết những nhiệm vụ sau:
3


Thứ nhất, khái quát về tỉnh Ninh Bình cùng với chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước về công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 – 2010.
Thứ hai, mô tả lại một cách khách quan những chủ trương, chính sách và
quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo từ năm
2006 đến năm 2010.
Thứ ba, nêu lên kết quả, tồn tại, bài học kinh nghiệm trong quá trình
Đảng bộ Tỉnh Ninh Bình lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo.
• Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tỉnh Ninh Bình.
Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến 2010.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
• Nguồn tài liệu
Thực hiện đề tài này, khóa luận chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Các văn kiện của Đảng và Chính phủ về công tác xóa đói giảm nghèo. Các
văn kiện của Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình; các Chương trình, Nghị quyết Tỉnh
ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về xóa đói, giảm nghèo.
- Các Báo cáo tổng kết của các sở, ban, ngành có liên quan về công tác
xóa đói giảm nghèo.
- Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu được đăng tải trên

giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2000
Chương 2. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo
trong giai đoạn 2006 - 2010
Chương 3. Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm

5


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2010
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH NINH BÌNH
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
• Về vị trí địa lý
Ninh Bình là một tỉnh nhỏ, nằm ở phía Nam và Tây Nam của đồng bằng
sông Hồng. Vị trí giới hạn từ 19o50 đến 20o26 vĩ độ Bắc, từ 105o32 đến 106o20
kinh độ Đông. Phía Bắc giáp Hà Nam với một phần ranh giới tự nhiên là sông
Đáy; phía Đông giáp Nam Định; phía Đông Nam giáp biển Đông; phía Tây và
Tây Nam giáp Thanh Hóa; phía Tây giáp Hòa Bình.
Hiện nay, Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính cấp huyện thị (1 thành phố,
6 huyện và 1 thị xã) với 127 xã, 17 phường, thị trấn. Thành phố Ninh Bình là
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của toàn tỉnh.
Nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km, trên trục quốc lộ 1A từ Bắc vào
Nam, Ninh Bình có 20 km đường sắt Thống Nhất đi qua và còn có nhiều tuyến
đường bộ quan trọng khác như: quốc lộ 1B, quốc lộ 10… Ninh Bình cũng nằm
trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình [4, tr.21].
• Về địa hình

8.500oC, có tới 8-9 tháng trong năm có nhiệt độ trung bình trên 20 oC. Độ ẩm
trung bình hàng năm là 86%. Lượng mưa rơi trung bình toàn tỉnh đạt từ 1.860 1.950 mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của tỉnh.
• Về thủy văn
Ninh Bình là tỉnh có nhiều sông và đầm hồ. Đây là nguồn nước mặt cung
cấp nước cho công nghiệp, nông lâm nghiệp và bồi đắp phù sa cho đồng ruộng.
Hàng năm, hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình được nuôi dưỡng bằng nguồn nước
mưa dồi dào. Mật độ mạng lưới sông ngòi khoảng 0,6-0,9 km/km2.
• Về tài nguyên khoáng sản
7


Nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình là đá vôi với trữ
lượng hàng chục tỷ m3, chất lượng tốt và đôlômít (hàng chục triệu tấn) phân bố
chủ yếu ở các huyện miền núi. Ngoài ra còn một số khoáng sản khácnhư: đất
sét, than bùn, cát xây dựng, sét gốm sứ, sét ximăng… trữ lượng nhỏ [4, tr.22 –
23].
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
• Điều kiện kinh tế
Công nghiệp
Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế
trọng điểm phía Bắc. Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu
vực châu thổ sông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với
vùng rừng núi Tây Bắc. Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình là các ngành
công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch.
Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức
2 con số, Năm 2010 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục
nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc. Ninh Bình là một trong những tỉnh
thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam; Năm 2010 thu ngân sách đạt
3.100 tỷ đồng trong khi diện tích và dân số tỉnh chỉ đứng thứ 56/63 và 43/63.
Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2009: Công nghiệp - xây dựng: 46,35%; Nông,

ngành dịch vụ đạt 16% [22, tr.3].
• Điều kiện xã hội
Đặc điểm dân cư và lao động
Dân số Ninh Bình theo số liệu điều tra dân số ngày 01/04/2009 là
898.459 người. So với dân số khu vực đồng bằng Sông Hồng, dân số tỉnh Ninh
Bình chiếm 5,6% và bằng 1,2% dân số cả nước. Mật độ dân số của tỉnh (khoảng
675 người/km2) thấp hơn mật độ trung bình của vùng và đang nằm trong “thời
kỳ dân số vàng”, là lợi thế không nhỏ để cung cấp nguồn lao động, thuận lợi
trong quản lý và không gây sức ép lớn đối với phát triển kinh tế.
Nguồn lao động khá về cả số lượng, chất lượng và đang ở thời kỳ đầu với
tổng lao động năm 2008 chiếm 51,2% dân số (khoảng 480,3 nghìn người). Ninh
Bình có tỷ lệ lao động thất nghiệp đô thị khá thấp (3,7%), chất lượng nguồn
9


nhân lực được đánh giá là khá so vùng đồng bằng sông Hồng cũng như cả nước.
Do vậy, đây là một nhân tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế, nhất là đối với các
ngành, lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động.
Năm 2010, ngành Y tế Ninh Bình hiện có 2 bệnh viện quân đội là Bệnh
viện Quân y 5 của Quân khu 3 và bệnh viện Quân y 145 của Quân đoàn 1; 7
bệnh viện tuyến tỉnh đó là bệnh viện đa khoa Ninh Bình, bệnh viện Y học cổ
truyền Ninh Bình (100 giường), Bệnh viện điều dưỡng (100 giường), bệnh viện
Lao và bệnh phổi Ninh Bình (100 giường), Bệnh viện Tâm Thần Ninh Bình
(100 giường), Bệnh viện Sản - Nhi Ninh Bình (200 giường) và bệnh viện Mắt
Ninh Bình (50 giường).
Về Giáo dục và Đào tạo tỉnh có Trường Đại học Hoa Lư và 4 trường cao
đẳng: Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình; Trường Cao đẳng nghề
LILAMA-1; Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình và Trường Cao đẳng nghề Cơ
điện Xây dựng Tam Điệp[22, tr.4-5].
1.1.3. Về truyền thống - lịch sử

dân, tình hình kinh tế chính trị của tỉnh Ninh Bình phát triển tương đối toàn
diện.
Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở
thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạovà có nhiều giải pháp tích cực nhằm
xoá đói, giảm nghèo; đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính
trị và mọi nguồn lực cho công tác xoá đói, giảm nghèo đã đạt được kết quả quan
trọng. Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân (đường
giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, điện…) ở các xã
nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, các xã miền núi, các xã bãi ngang ven biển được
đầu tư xây dựng. Việc thực hiện đầy đủ các chính sách ưu đãi, hỗ trợ hộ nghèo,
vùng nghèo; chính sách hỗ trợ xây dựng, sửa chữa và xoá nhà tranh tre, vách đất
cho các hộ nghèo, hộ chính sách… đã tạo điều kiện và góp phần để các hộ dân
của các xã vùng khó khăn vươn lên giảm nghèo.

11


Thực hiện mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV
“mỗi năm giải quyết việc làm cho 12 nghìn người, trong 5 năm 25% số người
lao động được đào tạo, học nghề. Số người nghèo còn dưới 7% (theo tiêu chí
năm 2000), cơ bản không có hộ đói” [15, tr.44].
Việc triển khai và thực hiện Nghị quyết đã đạt được nhiều kết quả quan
trọng, Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2005 còn 6,2% (theo tiêu chí năm 2000), cơ bản
khôg còn hộ đói (đạt mục tiêu). Giải quyết việc làm bình quân mỗi năm 16.000
lao động (mục tiêu 12 000 lao động mỗi năm).
Đã xây dựng 114 điểm bưu điện văn hóa xã, đạt 90% (mục tiêu 90%),
95% địa bàn dân cư được phủ sóng phát thanh, 85% được phủ sóng truyền hình
(mục tiêu 100%); 60% số hộ được dùng nước sạch (đạt mục tiêu)
Đã có 84% đường giao thông nông thôn được cứng hóa phần mặt (mục
tiêu 80); số kênh mương được kiên cố hóa đến hết năm 2005 là 60% (đạt mục

Nguồn lực huy động cho công tác xoá đói giảm nghèo chưa đáp ứng được yêu
cầu. Việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội với chương
trình giảm nghèo còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền nâng
cao nhận thức của nhân dân đối với công tác xóa đói giảm nghèo chưa được
quan tâm đúng mức, một bộ phận người dân chưa ý thức rõ trách nhiệm của
mình để phấn đấu vươn lên tự thoát nghèo, còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
Nhiều mô hình, cách làm hay về giảm nghèo có hiệu quả chưa được kịp thời
tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm.
Bảng 1: Số liệu hộ nghèo cụ thể của các huyện, thành phố Ninh Bình
(2001-2005)
STT

Tên địa phương

Tổng số hộ

Số hộ nghèo

Tỷ lệ (%)

1

TP. Ninh Bình

27.103

669

2,46


5

Huyện Hoa Lư

18.540

3.005

16,2

6

Huyện Yên Mô

30.311

5.585

18,43

13


7

Huyện Yên Khánh

36.059

3.614

lệnh lớn như vậy là do: Xuất phát điểm kinh tế thấp và điều kiện tự nhiên không
thuận lợi:
Các xã ở vùng núi cao, điều kiện sống rất khó khăn, thiếu nước sinh hoạt,
nước sản xuất như: xã Kỳ Phú, Phú Long, Văn Phương, Thạch Bình, Lạc Vân
(huyện Nho Quan); xã Đông Sơn (thị xã Tam Điệp)…
Các xã vùng bãi ngang ven biển: Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông
(huyện Kim Sơn) thiếu các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu như: đường giao
thông, nước sạch sinh hoạt, trường học…)
Các xã vùng trũng, chỉ canh tác được một vụ trong năm như xã Sơn
Thành, Thanh Lạc, Thượng Hoà (huyện Nho Quan), xã Gia Minh, Gia Lạc, Gia
Phong (huyện Gia Viễn)…
Các xã thuần nông, độc canh cây lúa, điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu
việc làm, thu nhập thấp, như: xã Yên Đồng, Yên Thành, Yên Thái (huyện Yên
Mô); Khánh Công (Yên Khánh).
Do thiếu việc làm: Không có ngành nghề phụ; thiếu đất sản xuất, bình
quân đất cho một nhân khẩu quá thấp.

14


Do thiếu vốn sản xuất, thiếu phương tiện sản xuất: Một số hộ đã được vay
vốn nhưng không thanh toán đúng hạn nên không được vay tiếp; những hộ đã
được vay, nhưng số lượng ít, thời gian vay chu kỳ ngắn không đáp ứng được
nhu cầu cần vay.
Do trình độ hiểu biết hạn chế, thiếu kinh nghiệm sản xuất, không biết
cách làm ăn, đông người ăn theo, hoặc do lười lao động, tai nạn rủi ro; gia đình
có người mắc các tệ nạn xã hội.
Do gia đình có người ốm đau kéo dài, có người tàn tật nặng, người già cả
cô đơn không nơi nương tựa, con cháu thiếu quan tâm.
Với thực trạng trên, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình cần có nhận thức đúng đắn

còn tồn tại những thách thức đặt ra cho công tác xóa đói giảm nghèo. Kết quả
giảm nghèo chưa thật vững chắc, số hộ nghèo và tái nghèo ở một số vùng còn
lớn, đời sống nhân dân ở vùng sâu vùng xa, vùng bị thiên tai, vùng dân tộc thiểu
số có bình quân tỷ lệ hộ nghèo cao hơn bình quân nghèo cả nước. Một số chính
sách hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo chưa được tổ chức thực hiện tốt [3,
tr.157].
Trước thực trạng trên để công tác xóa đói giảm nghèo thật sự bền vững
trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, về phương hướng
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức
thực hiện xóa đói giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử
dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế, nhà nước tập trung xây dựng kết cấu
hạ tầng xã hội và trợ giúp quốc tế và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao
kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải
thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách của nhà nước với sự
giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho
người nghèo, hộ nghèo, đặc biệt là những vùng gặp khó khăn; Ngăn chặn tình
trạng tái nghèo, Có chính sách khuyến khích mạnh thực hiện chính sách đặc biệt
về trợ giúp đầu tư sản xuất, nhất là đất sản xuất, trợ giúp đất ở, nhà ở, nước sạch,
đào tạo nghề và việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Có chính sách
khuyến khích mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ giàu đầu tư vốn phát
16


triển ở nông thôn, nhất là nông thôn miền núi, phát huy hơn nữa vai trò của Mặt
trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tham gia công cuộc xóa đói giảm
nghèo [3, tr.217].
Thấm nhuần Nghị quyết của Đại hội Đảng X (2006) về công tác xóa đói
giảm nghèo, Chính phủ và các ban ngành đã cụ thể hóa chủ trương đó thành
những chính sách, chương trình cụ thể:

bảo hiểm y tế theo chính sách đối với hộ nghèo lên khoảng 15 triệu người, 11
triệu người được hỗ trợ l00% [12, tr.2].
Mở rộng đối tượng tăng mức cho vay ưu đãi học tập với học sinh, sinh
viên thuộc hộ nghèo, hộ chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện
tiếp tục cho họ nâng cao trình độ tay nghề, giảm khó khăn về chi tiêu đối với hộ
nghèo. Bổ sung, sửa đổi các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, ngư
dân đánh bắt hải sản, nông dân nghèo để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống.
Qua đó cho thấy Đảng và Nhà nước ta cực kì quan tâm tới chương trình
xóa đói giảm nghèo và coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu trong mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong thời kì đổi mới – thời kì
hội nhập, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện, bền vững nền kinh tế đất
nước.
Chủ trương của đại hội X của Đảng đề ra đã trở thành cơ sở và là định
hướng cho công tác xóa đói giảm nghèo trong năm 2006 – 2010 được bền vững,
kết quả đó là động lực để xây dựng một xã hội phồn vinh nhân dân được ấm no,
hạnh phúc.
Tiểu kết chương 1
Như vậy, Ninh Bình có vị trí địa lý khá thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú với nguồn lao động dồi dào là một trong những động lực quan
trọng để Ninh Bình phát triển cả về kinh tế và xã hội. Cùng với sự tăng trưởng
liên tục của nền kinh tế, Ninh Bình đã có nhiều biện pháp thu hút vốn đầu tư từ
bên ngoài, tạo điều kiện để xây dựng và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng,
trang thiết bị kĩ thuật cho các ngành, nghề, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã đưa ra
nhiều chính sách, biện pháp tích cực để nâng cao đời sống cho nhân dân. Tuy
nhiên đói nghèo vẫn là thách thức lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình,
18


đòi hỏi trên dưới đoàn kết đồng lòng cùng nhau vượt qua để xây dựng Tỉnh nhà
giàu mạnh. Với những chủ trương và chính sách mới của Đảng và Nhà nước về

Giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc. Trên cở sở phát triển sản xuất –
kinh doanh của các thành phần kinh tế, tích cực tạo điều kiện giải quyết việc
làm cho người lao động ở cả nông thôn và thành thị.

20


Trích đoạn Về công tác chỉ đạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status