Đảng bộ tỉnh điện biên lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tu nam 2004 den nam 2011 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ HƯƠNG GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2011

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ HƯƠNG GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2011
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đoàn Ngọc Hải

HÀ NỘI - 2012


MỤC LỤC

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo ................ 21
1.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo ................. 25
Chƣơng 2 : ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC
HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2011 .............. 33
2.1 Thời kỳ phát triển mới tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở
Điện Biên ............................................................................................................. 33
2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về thực hiện xóa đói,
giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2011 ............................................................... 38
2.2.1 Chủ trương Đại hội X của Đảng (tháng 4 năm 2006) về xóa đói, giảm nghèo
..............................................................................................................................38
2.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo ................ 39
2.2.3 Đảng bộ tỉnh Điện biên chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006
đến năm 2011 .......................................................................................................49
Chƣơng 3 : KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN
BIÊN TRONG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ
NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2011 ..............................................................................69
3.1. Kết quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên thực hiện xóa đói,
giảm nghèo. ......................................................................................................... 69
3.1.1. Thành tựu ................................................................................................... 69
3.1.2. Hạn chế. .....................................................................................................81
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ......................................................................... 86
3.2.2. Tuyên truyền, vận động, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đồng bào các
dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn. .............................................................88

2


3.3.3. Phát huy sức mạnh tổng hợp và huy động mọi nguồn lực trong cuộc vận động
xóa đói, giảm nghèo. ............................................................................................ 88
3.3.4. Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng lực giám sát thực hiện

Chí Minh: ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Điện Biên, là một tỉnh có số đông bà con các dân tộc thiểu số cư trú; điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, do đó để ổn định cuộc sống cho
nhân dân các dân tộc, xóa được đói, giảm được nghèo ở Điện Biên là một vấn đề
hết sức cấp thiết, đòi hỏi phải có sự đầu tư mạnh mẽ về cả trí lực và vật lực. Công
4


tác xóa đói, giảm nghèo vừa là mục tiêu nhiệm vụ, vừa là biện pháp, phương thức
hoạt động có ý nghĩa chiến lược của Đảng bộ tỉnh Điện Biên. Nhiều năm qua, nhờ
sự chỉ đạo sát, đúng của các cấp ủy Đảng, của Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Điện Biên
lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhưng bên
cạnh đó vấn đề đói nghèo ở Điện Biên vẫn còn nhiều khó khăn, nhiều vấn đề bức
xúc chưa được giải quyết, đồng thời lại nảy sinh thêm nhiều vấn đề mới cần được
tháo gỡ.
Nghiên cứu quá trình “Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo thực hiện xóa
đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến năm 2011”, nhằm khẳng định sự đúng đắn,
sáng tạo trong chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh thực hiện xóa đói, giảm
nghèo; đánh giá thành tựu, hạn chế chỉ ra nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm
để vận dụng vào giai đoạn mới là một việc làm cần thiết
Với ý nghĩa nêu đó, tôi lựa chọn đề tài trên làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề xóa đói, giảm nghèo là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà
nước, có ý nghĩa chính trị, kinh tế - xã hội to lớn, đã thu hút nhiều cơ quan, nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu là các nhóm công trình nghiên cứu sau.
Thứ nhất: các công trình nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo trên phạm vi cả
nước và các tỉnh bạn đã được công bố: Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam
(1996), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi
Trọng Thành (1997), vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay,

mới. Vấn đề xóa đói, giảm nghèo chỉ là một phần rất nhỏ, được trình bày khái quát,
sơ lược, chưa mang tính tổng thể về xóa đói, giảm nghèo ở Tỉnh Điện Biên.
Cuốn Điện Biên 100 năm xây dựng và phát triển, cho chúng ta những dấu ấn
cụ thể về toàn cảnh Điện Biên trong 100 năm qua, trong đó có đề cập đến vấn đề
kinh tế - văn hóa – xã hội, có đề cập đến chính sách xóa đói, giảm nghèo. Nhưng
6


mới chỉ dừng lại ở việc khái quát những vấn đề chung nhất về đói nghèo và xóa
đói, giảm nghèo ở Điện Biên.
Đến năm 2006, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên có, Chương trình mục tiêu
xóa đói, giảm nghèo, Giai đoạn 2006-2010. Và Báo cáo tổng kết chương trình xóa
đói giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 và chương trình giảm nghèo nhanh và bền
vững giai đoạn 2011-2015. Thông qua báo cáo, chúng ta có được những số liệu cụ
thể về các xã, bản, hộ ở Tỉnh Điện Biên trong quá trình thực hiện xóa đói giảm
nghèo.
Năm 2009, Đề án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm
nghèo nhanh và bền vững huyện Điện Biên Đông giai đoạn 2009-2020, Đề án phát
triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững huyện Mường Ẳng giai
đoạn 2009-2020, Đề án phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền
vững huyện Mường Nhé giai đoạn 2009-2020, Đề án phát triển kinh tế - xã hội
nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững huyện Tủa Chùa giai đoạn 2009-2020.
Thông qua đó chúng ta có được số liệu cụ thể về mục tiêu xóa đói giảm nghèo của
các huyện trong giai đoạn 2009-2020.
Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình hoàn chỉnh nào nghiên cứu về “
Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến
năm 2011” dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng. Nhưng các công trình khoa học
trên là những tài liệu quý, tác giả có thể tham khảo, vận dụng trong quá trình thực
hiện luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

5. Nguồn tƣ liệu, phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
8


Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu sau :
+ Hệ thống các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị,
hướng dẫn của Đảng bộ tỉnh Điện Biên và các huyện trong tỉnh có liên quan; các
quy định của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên và các huyện ở
Điện Biên.
+ Các công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đã được công bố.
+ Tư liệu khảo sát của tác giả.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp của
hai phương pháp này là chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như
so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia, từ đó rút ra những luận
điểm khoa học để thực hiện luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đện Biên thực
hiện công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến năm 2011, qua đó khẳng định
sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ địa phương lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm
nghèo ở cơ sở, góp phần làm phong phú hơn hoạt động lãnh đạo của Đảng về một
lĩnh vực rất nhậy cảm đang được xã hội quan tâm – xóa đói, giảm nghèo.
Luận văn đánh giá về kết quả của Đảng bộ tỉnh Đện Biên lãnh đạo thực hiện
xóa đói, giảm nghèo; rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng vào
giai đoạn cách mạng mới.
Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy
Lịch sử Đảng trong các học viện và nhà trường.
7. Bố cục luận văn


Điện Biên có diện tích tự nhiên 9.562,9 km2 (chiếm 2,9% diện tích cả
nước); có 9 đơn vị hành chính là: Thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay,
các huyện : Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Ảng, Điện Biên Đông, Mường Trà,
Mường Nhé, Tủa Chùa. Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Điện Biên Phủ.[27]
Địa hình: Điện Biên có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, mức độ chia cắt
ngang và chia cắt sâu lớn, được cấu tạo bởi những dãy núi cao và các thung lũng,
sông suối nhỏ, hẹp và dốc, phân bố khắp nơi trong địa bàn tỉnh. Núi cao tập trung ở
phía Nam, thuộc ranh giới huyện Điện Biên, Điện Biên Đông và Tuần Giáo. Đó là
11


các dãy núi thượng nguồn sông Mã và Nậm Rốm, đỉnh cao nhất là Pú Huổi Luông
(2.178m).[27]
Khí hậu: Điện Biên có khí hậu nhiệt đới, gió mùa, vùng núi mùa đông lạnh,
suốt mùa đông duy trì tình trạng khô hanh điển hình của khí hậu gió mùa, còn mùa
hè có nhiều mưa. Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hóa đa dạng theo dạng
địa hình và theo mùa. Điện Biên có nhiều nắng, khoảng 1.820 -2.035 giờ/năm.
Nhiệt độ trung bình năm thay đổi theo độ cao địa hình. Vùng thấp dưới 300m nhiệt
độ trung bình năm cao, đạt 23 độ. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: gió, khô nóng,
sương mù – sương muối, dông lốc, mưa đá có tần suất tương đối lớn gây ảnh
hưởng đáng kể dến sản xuất, đời sống và sức khỏe con người.[27]
Thủy văn: Điện Biên nằm trong khu vực đầu nguồn thuộc 3 con sông lớn:
sông Đà, sông Mã, sông Mê Kong. Đặc điểm chung của sông suối trong tỉnh Điện
Biên là độ dốc lớn, lắm thác, nhiều ghềnh (nhất là các sông suối thuộc hệ thống
sông Đà, sông Nậm Rốm), có tiềm năng về thủy điện. Lưu lượng dòng chảy phân
bố không đều trong năm chủ yếu tập trung vào mùa lũ nên việc khai thác sử dụng
khó khăn, đòi hổi đầu tư lớn. Vì vậy cần có giải pháp hợp lý về công tác thủy lợi
kết hợp tăng độ che phủ của rừng, nhất là rừng đầu nguồn để đảm bảo nguồn nước
cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong tương lai.[27]
Thổ nhưỡng: Đất đai tỉnh Điện Biên phong phú, đa dạng qua nhiều quá

nghiệp phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân từ 13-15%/ năm, đã thu hút các
thành phần kinh tế đầu tư khai thác tiềm năng thủy điện, khoáng sản, sản xuất xi
măng, vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm sản... tạo tiền đề quan trọng để thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thương
mại dịch vụ phát triển nhanh cả về mạng lưới, quy mô và chất lượng; tiềm năng du
lịch lịch sử, du lịch sinh thái, bản sắc văn hóa dân tộc, lợi thế cửa khẩu biên giới đã
và đang được đầu tư, khai thác và phát triển để trở thành ngành kinh tế quan trọng
trong cơ cấu kinh tế địa phương.[27]
13


Cơ sở hạ tầng: Các tuyến quốc lộ trên địa bàn tỉnh đã và đang được nâng
cấp, cải tạo; hệ thồng giao thông, trường học, bệnh viện, trạm xá, lưới điện nông
thôn, cấp nước sinh hoạt... tiếp tục được quan tâm đầu tư cải tạo, nâng cấp, mở
rộng bằng nhiều nguồn vốn. Đến nay, toàn tỉnh đã có 104/106 xã, phường có
đường ô tô đến trung tâm xã với 70/106 xã đi lại được quanh năm; các xã, phường,
thị trấn đều có điện thoại và điểm bưu điện văn hóa xã; 70% dân số được sử dụng
điện, 80% dân cư thành thị được sử dụng nước sạch và 75% dân cư nông thôn
được cấp nước sinh hoạt, 100% xã có trạm y tế; bộ mặt đô thị và vùng dân cư nông
thôn có nhiều đổi thay theo hướng hiện đại kết hợp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc, đặc biệt là thị xã Điện Biên Phủ trước đây đã phát triển thành thành phố trực
thuộc tỉnh.[27]
Dân số, dân tộc: Tính đến ngày 31-12-2007, dân số của tỉnh Điện Biên là
468.282 người, mật độ dân số bình quân 49 người/ km2, là một trong những tỉnh
có mật độ dân số thấp nhất cả nước (mật độ dân số trung bình cả nước 254
người/km2) và thấp hơn nhiều so với mật độ dân số trung bình của vùng Tây Bắc
(69 người/km2). Tuy vậy dân số phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở khu vực
thành phố Điện Biên Phủ 750,9 người/km2, thị xã Mường Lay 124,1 người /km2,
Mường Nhé 16,3 người/km2..Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 17,20%.
Điện Biên có 21 dân tộc cùng chung sống (Thái, Mông, Kinh, Giao, Khơ

giá mức độ giàu nghèo. Việt Nam đưa ra chuẩn đói nghèo, nhưng ở mỗi giai đoạn
có chuẩn khác nhau: từ tháng 02 năm 1997 đến tháng 01 năm 2000, Hộ đói là hộ
có thu nhập dưới 13kg gạo/người/ tháng, tương đương với 45.000 đồng. Năm
2000, Bộ Lao động Thương binh xã hội đưa ra ngưỡng nghèo mới làm căn cứ xác
định mục tiêu đói nghèo cho giai đoạn 2001-2005. Ngưỡng nghèo đó được ấn định
cho từng khu vực: nông thôn, miền núi, hải đảo là 80.000 đồng/ người/ tháng; nông
thôn đồng băng 100.000 đồng/ người/ tháng; thành thị 150.000 đồng/ người/ tháng.
15


Giai đoạn 2006-2010 chuẩn đói nghèo được chia làm hai khu vực thành thị và
nông thôn. Ở nông thôn hộ có thu nhập thấp hơn 200.000 đồng/ người/ tháng; ở
thành thị hộ có thu nhập thấp hơn 260.000 đồng/ người/ tháng.
* Đói nghèo ở Điện Biên trước năm 2004
Trước năm 2004, tỉnh Điện Biên thuộc tỉnh Lai Châu cũ, Phong trào xóa
đói, giảm nghèo ở tỉnh Lai Châu đã có từ cuối năm 1992, nhưng còn nhiều vấn đề
bất cập, chưa trở thành trương trình, mục tiêu cụ thể. Đến năm 1993, Chính phủ tổ
chức điều tra đời sống nông thôn và thành thị trên phạm vi toàn quốc. Kết quả điều
tra được công bố trên toàn quốc năm 1994 và được sử dụng để nghiên cứu các
chính sách kinh tế xã hội trong tình hình mới.
Theo hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh xã hội, tỉnh đã tiến hành
khảo sát và xây dựng chương trình xóa đói, giảm nghèo cho 4 huyện: Tủa Chùa,
Sìn Hồ, Tuần Giáo, Điện Biên, mỗi huyện khảo sát ở 8 xã. Từ đó hình thành
chương trình xóa đói, giảm nghèo ở Lai Châu và được Ban thường vụ Tỉnh ủy
thông qua (khóa 8), ra Nghị quyết 15 về xóa đói, giảm nghèo từ 1996-2000. Từ đó
đến nay xóa đói, giảm nghèo ở Lai Châu đã trở thành một chương trình có mục
tiêu rõ ràng.
Về ưu điểm: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ X đã xác định mục tiêu
xóa đói, giảm nghèo 2000-2004. Đảng bộ huyện, thị xã có nghị quyết phát triển
kinh tế xã hội và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Một số huyện, thị xã có nghị quyết

sai mục đích. Việc hướng dẫn sản xuất kinh doanh theo mô hình kinh tế hộ còn quá
yếu. Nhiều hộ chưa biết tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế hộ, phòng chống dịch
bệnh trong sản xuất còn chưa tốt. Việc phối hợp giữa xóa đói, giảm nghèo với
tuyên truyền giáo dục xóa bỏ cây thuốc phiện, với định canh định cư... chưa chặt
chẽ nên hiệu quả trong công tác xóa đói, giảm nghèo trước 2004 còn nhiều hạn chế
[56, tr.1-4].

17


1.1.3 Các nhân tố tác động và yêu cầu thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong
những năm mới tách tỉnh (2004 – 2006)
* Tác động của tình hình thế giới và trong nước
Tác động của tình hình thế giới: Thế giới đang đứng trước thời khắc trọng
đại của lịch sử là đã tiến vào thập niên đầu của thế kỷ XXI với một nền văn minh
rực rỡ nhưng cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính toàn cầu. Nó chứa
đựng trong mình cả niềm vui và sự bất hạnh, cả nụ cười và nước mắt, cả hạnh phúc
và lo toan. Một trong những nỗi lo toàn cầu, nỗi đau nhân loại là sự đói nghèo trầm
trọng trên một phạm vi vô cùng rộng lớn. Như thế đủ thấy đói nghèo và giải quyết
vấn đề nghèo đói mang tính phổ biến, không chỉ là công việc của riêng Việt Nam.
Tuy nhiên, để hiểu về chương trình xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam một cách đầy
đủ, cần thiết phải có cách nhìn tổng quan, cần “biết người biết ta” để rút ra những
bài học và tìm ra những phương pháp hữu hiệu. Cho đến đầu thế kỷ XXI, đói
nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người. Thế giới đã chứng kiến
những thảm hoạ của chiến tranh, thảm hoạ của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh
hoàng. Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô cùng khủng khiếp.
Điều đáng sợ hơn nữa là: Nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng
rồi trước sau cũng được giải quyết, nếu như những thảm hoạ do thiên tai, dịch bệnh
gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân loại lại là
một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó bề chạy

Khoảng cách chênh lệch mức sống giữa sự xa xỉ với sự bần hàn càng bị nặng nề
hơn bởi chính sự vô trách nhiệm của các nước phát triển phương Tây, của giai cấp
những người giàu có. Thái độ “sống chết mặc bay” vẫn phổ biến trong hành vi cư
xử ở xã hội của những kẻ say lợi nhuận. Vì vậy, quan điểm cũng như hành động
của giới chức phương Tây trong việc giải quyết nghèo đói trên thế giới hiện nay
chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, chỉ là để làm giảm cơn đau khốn khó, hoặc cùng
lắm đó là việc làm mang tính nhân đạo mà thôi.

19


Tác động của tình hình trong nước: Theo số liệu của chương trình phát triển
Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm 2004. Chỉ số phát triển con người ở Việt
Nam xếp hàng 112 trên 117 nước, chỉ số phát triển thế giới xếp 87 trên 144 nước
và chỉ số nghèo tổng hợp xếp hạng 41 trên 95 nước. Cũng theo số liệu của chương
trình phát triển Liên Hiệp Quốc, tỉ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là
12,9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỉ lệ hộ nghèo lương thực là 10,87%. Vào
đầu thập niên 90 Chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình xóa đói giảm
nghèo cùng với lời kêu gọi của ngân hàng thế giới. UNDP cho rằng, mặc dù Việt
Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỉ lệ
nghèo, song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng. Để đạt được
mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo
cùng cực.
* Yêu cầu đặt ra đối với vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên trong những năm
2004- 2006:
Ðiện Biên hiện có 6 huyện, 1 thị xã, 1 thành phố trực thuộc tỉnh với 93 xã,
phường, thị trấn, (có 64 xã trong diện đặc biệt khó khăn). Những năm qua kinh tế
xã hội tỉnh Ðiện Biên tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân các dân tộc từng bước
được cải thiện. Tuy vậy, còn nhiều khó khăn: là tỉnh miền núi, xa các trung tâm
kinh tế lớn; xuất phát điểm về kinh tế thấp, sản xuất hàng hoá phát triển chậm; điều

tránh tình trạng tái nghèo”.
Mục tiêu về xóa đói, giảm nghèo: Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu
năm 2000, Chính phủ chính thức phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá
đói, giảm nghèo (Chương trình 133) cho giai đoạn 2001-2005. Tháng 7/2001, Thủ
tướng Chính phủ tiếp tục bổ sung Chương trình 135, chương trình hỗ trợ phát triển
cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó
khăn. Mục tiêu chính của chương trình này là hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở hạ
tầng như: hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế....tại 1715 xã
21


nghèo. Kết quả là đến năm 2000 tỷ lệ nghèo của cả nước còn 10% theo chuẩn cũ.
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy, không thể chỉ theo đuổi mục tiêu giảm nhanh
tỷ lệ hộ nghèo mà cần giữ vững kết quả giảm nghèo đã đạt được, tăng khả năng
bền vững, hiệu quả của công tác giảm nghèo, đặc biệt trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường. Mục tiêu chiến lược xóa đói, giảm nghèo thời kỳ 2001-2010 do
Đại hội IX đề ra là: “phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo”.[24,
tr. 211]
Những giải pháp thực hiện: Để thực hiện quan điểm, phương hướng, mục
tiêu xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam (2001-2005), Đảng đã đề ra một số giải pháp
chủ yếu sau:
Một là, xoá đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ
trọng tâm trước mắt.
Tính lâu dài của xoá đói giảm nghèo là do: xoá đói, giảm nghèo là nội dung,
và nhiệm vụ cần thực hiện để bảo đảm công bằng xã hội. Thực tiễn cho thấy, có
những nguyên nhân nảy sinh nghèo đói không phải do môi trường xã hội, không
do điều kiện kinh tế - địa lý, mà do hoàn cảnh và đặc điểm của từng cá nhân, từng
hộ gia đình. Những trường hợp này luôn có khả năng xuất hiện và việc xoá đói
giảm nghèo mang tính thường trực. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam phát
triển kinh tế nhiều thành phần là một định hướng chiến lược. Nền kinh tế vận hành

mắt của cộng đồng.
Ba là, xoá đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội không có nghĩa là
kìm hãm sự phát triển kinh tế, không có nghĩa là cào bằng.
Kinh nghiệm của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu trước
đây đã cho thấy, nếu đặt công bằng xã hội lên trên hết và tách rời với phát triển
kinh tế thì trước hết dẫn tới sự triệt tiêu các động lực phát triển. Tuy nhiên, nếu đặt
hiệu quả kinh tế là mục tiêu duy nhất thì sẽ làm tăng tình trạng phân hoá hai cực,
làm tăng sự khốn khó đối với không ít quần chúng nhân dân. Bởi vậy, trong khi
23


Trích đoạn Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói,giảm nghèo Thời kỳ phát triển mới tác động đến thực hiện xóa đói,giảm nghèo ở Chủ trương Đại hộ iX của Đảng (tháng 4 năm 2006) về xóa đói,giảm nghèo Đảng bộ tỉnh Điện biên chỉ đạo thực hiện xóa đói,giảm nghèo từ năm Một số kinh nghiệm chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status