Học viện Chính trị quân sự
nguyễn ngọc hoàng vinh
Đảng bộ huyện hiệp đức (quảng nam) lãnh đạo thực hiện
xoá đói giảm nghèo từ 1996 đến 2005
luận văn cử nhân
Ngành Lịch sử
Năm 2006
2
Học viện Chính trị quân sự
nguyễn ngọc hoàng vinh
đảng bộ huyện hiệp đức (quảng nam) lãnh đạo thực hiện
xoá đói giảm nghèo từ 1996 đến 2005
Ngành Lịch sử
luận văn cử nhân
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 62.22.56.01
Ngời hớng dẫn khoa học: Đại tá, Thạc sỹ Nguyễn Cao Khải
Năm 2006
mục lục
Trang
Phần mở đầu 5
Chơng 1: Chủ trơng và sự chỉ đạo xoá đói giảm nghèo
của Đảng bộ huyện Hiệp Đức (Quảng Nam) từ
1996 đến 2005 9
1.1. Chủ trơng của Đảng bộ huyện Hiệp Đức về xoá
đói giảm nghèo từ 1996 đến 2005 9
1.2. Đảng bộ huyện Hiệp Đức chỉ đạo xoá đói giảm
nghèo từ 1996 đến 2005 26
Chơng 2: Thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm
thiện đời sống nhân dân.
Trong những năm qua, Đảng bộ huyện Hiệp Đức đã ra sức tập trung lãnh
đạo công tác XĐGN, coi đó là một trong những nhiệm vụ trung tâm của Đảng
bộ. Sự lãnh đạo đó đã mang lại những hiệu quả thiết thực, đáng khích lệ. Tuy
nhiên, trên thực tế, đói nghèo vẫn đang là vấn đề nhức nhối trong đời sống xã
hội, đặt ra yêu cầu phải tập trung giải quyết. Xung quanh vấn đề này, có ý kiến
cho rằng: Hiện nay, Huyện đang nằm trong bối cảnh chung của quá trình kinh
tế thị trờng diễn ra mạnh mẽ nên việc phân hoá giàu nghèo là tất yếu khách
quan và không nên quan trọng hoá vấn đề XĐGN lúc này. Cũng có ý kiến cho
đói nghèo là một thứ giặc, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ
tụt hậu của Huyện trong quá trình phát triển chung của Tỉnh và đất nớc, do vậy
cần phải tập trung giải quyết.
Vì vậy, nắm vững thực trạng đói nghèo, quán triệt các quan điểm, đờng
lối, chủ trơng của Đảng và sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ vào giải quyết đói nghèo ở
huyện Hiệp Đức trở thành một nhiệm vụ quan trọng. Việc thờng xuyên tổng
kết rút kinh nghiệm về công tác XĐGN là việc làm cấp thiết, vừa có tính lý
5
luận, vừa có tính thực tiễn sâu sắc, cần đợc nghiên cứu trong giai đoạn hiện
nay.
Tác giả chọn đề tài: Đảng bộ huyện Hiệp Đức (Quảng Nam) lãnh đạo
thực hiện xoá đói giảm nghèo từ 1996 đến 2005 làm luận văn tốt nghiệp cử
nhân ngành Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông
qua việc tái hiện những sự kiện, quan điểm, chủ trơng về công tác XĐGN, tác
giả nhằm làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hiệp Đức đối với sự
nghiệp XĐGN ở huyện nhà.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Xoá đói giảm nghèo là một chủ trơng lớn, có ý nghĩa quan trọng của
Đảng, đã có nhiều nhà khoa học và các tổ chức khoa học nghiên cứu với nhiều
góc độ khác nhau. Một số công trình ở tầm vĩ mô đã đề cập thực trạng và quan
điểm của Đảng về đói nghèo nh: Nguyễn Thị Hằng, Những giải pháp vĩ mô
huyện Hiệp Đức và việc tổ chức thực hiện chủ trơng đó.
- Phạm vi nghiên cứu:
Xoá đói giảm nghèo là một chủ trơng lớn, đợc tiến hành trong quá trình
đổi mới, nhng luận văn chỉ tập trung trình bày quá trình lãnh đạo và chỉ đạo
thực hiện XĐGN ở huyện Hiệp Đức (Quảng Nam) từ 1996 đến 2005.
5. Cơ sở lý luận, phơng pháp nghiên cứu của đề tài
- Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận về
CNXH của học thuyết Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và đờng lối, quan
điểm của Đảng.
- Phơng pháp nghiên cứu:
7
Chủ yếu là kết hợp phơng pháp lịch sử và phơng pháp lô gích. Đồng thời
sử dụng một số phơng pháp chuyên ngành nh: phơng pháp so sánh, phơng pháp
thống kê, phơng pháp tổng hợp
- Nguồn t liệu:
Một số tác phẩm của các nhà kinh điển Mác Lênin và Hồ Chí Minh,
các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Quảng Nam,
Đảng bộ huyện Hiệp Đức; Báo cáo thống kê của Ban chỉ đạo XĐGN huyện
Hiệp Đức và một số tài liệu có liên quan của các nhà khoa học nghiên cứu về
XĐGN.
6. ý nghĩa của đề tài
Luận văn đợc bảo vệ thành công sẽ góp phần vào việc tổng kết quá trình
XĐGN ở huyện Hiệp Đức, làm cơ sở khoa học để Đảng bộ huyện Hiệp Đức tiếp
tục nâng cao hiệu quả lãnh đạo XĐGN trong thời gian tới.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn đợc kết cấu thành 2 chơng, 4 tiết.
8
Chơng 1
bình quân là 16-25
o
. Toàn huyện có 3 dạng địa hình chủ yếu là dạng núi, dạng
gò đồi, dạng đồng bằng thung lũng. Dạng núi chiếm 50% diện tích tự nhiên, có
độ dốc lớn (nhiều nơi trên 30
o
). Dạng gò đồi chiếm khoảng 35% diện tích, độ
dốc thay đổi từ 5- 10
o
. Dạng đồng bằng thung lũng chiếm 15% diện tích, độ dốc
thay đổi từ 5-10
o
.
Hệ thống sông suối trong huyện rất dày nhng phân bố không đều. Lòng
sông hẹp, mùa ma lu lợng tăng, mùa khô cạn kiệt. Do các sông suối đều có độ
đốc lớn nên vào mùa ma tiềm ẩn nguy cơ lũ quét rất lớn.
Khí hậu ở Hiệp Đức mang đặc trng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Nhiệt độ trung bình năm là 25
o
C. Hàng năm có trên 1700 giờ nắng. Lợng ma
9
hàng năm trên 2000mm. Độ ẩm không khí trung bình 80%. Biên độ chênh lệch
nhiệt giữa ngày và đêm không lớn, cùng với số giờ nắng cao tạo điều kiện cho
cây trồng phát triển. Song do lợng ma tập trung chủ yếu vào tháng 9,10 (chiếm
50%- 72% lợng ma hàng năm) nên thờng gây lũ lụt lớn. Từ tháng 2 đến tháng 7
hàng năm thờng xảy ra hạn hán kéo dài, gây ảnh hởng không nhỏ đến mùa vụ.
Về giao thông: Hiệp Đức có trục giao thông chính là Quốc lộ 14E dài
36km từ Việt An (Bình Lâm) đến Bà Huỳnh (Phớc Trà). Đây là trục quốc lộ nối
liền liền giữa quốc lộ 1A và đờng Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có các tuyến đ-
ờng giao thông liên huyện, liên xã. Giao thông đờng thuỷ ở Hiệp Đức cũng khá
Đức, gồm 10 xã và 1 thị trấn.
Tính đến cuối năm 1999, dân số Hiệp Đức là 37.515 ngời với 8328 hộ.
Mật độ dân số là 76 ngời/km
2
. Ngời Kinh chiếm 94,54% dân số. Số ngời trong
độ tuổi lao động là 20.317 ngời (chiếm 54,14% dân số toàn huyện), trong đó có
khả năng lao động là 19.870 ngời (chiếm 52,96%).
Nằm sâu ở phía tây Hiệp Đức có 2 xã Phớc Gia và Phớc Trà, là địa bàn
sinh sống của của đồng bào Bhnoong (dân tộc Giẻ Triêng) và Cadoong, chiếm
5,46% dân số toàn huyện. Đây là khu vực xa trung tâm, nghèo nàn, lạc hậu nhất
huyện.
Về kinh tế, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, hơn 80% (năm 2000) với
91,6% lao động nông nghiệp. Lâm nghiệp có một vị trí quan trọng trong cơ cấu
tổng thể các ngành kinh tế. Hiện nay toàn huyện có 16.256ha rừng tự nhiên và
1.515 ha rừng trồng. Các ngành tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhìn chung
là quy mô nhỏ bé, phát triển chậm, chủ yếu là xay xát gạo, ép đờng thủ công, ép
dầu lạc và chế biến nông lâm sản tại địa phơng nh: sản xuất dầu thực vật, gia
công song mây xuất khẩu và sản xuất hàng mộc dân dụng...
Về tình hình chính trị, Hiệp Đức là vùng đất có truyền thống đấu tranh cách
mạng, đã đợc Nhà nớc phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lợng vũ trang nhân
11
dân vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nớc. Hiện nay, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Đức đang đoàn kết, nỗ lực khắc phục
khó khăn, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội, tập trung phát triển kinh tế,
cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, với âm mu diễn biến hoà bình của kẻ thù,
đòi hỏi cán bộ, đảng viên, nhân dân đề cao cảnh giác, đoàn kết, phấn đấu xây
dựng Hiệp Đức phát triển ổn định và giàu mạnh .
Về tình hình xã hội: trong những năm qua, Hiệp Đức đã chú trọng thực
hiện hiệu quả nhiều chính sách xã hội nh xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ vàng
tiết kiệm cho các gia đình chính sách, chi nhiều tỷ đồng cho chơng trình
nghèo và xã đặc biệt khó khăn. Xã đặc biệt khó khăn là xã dựa trên 5 tiêu
chí sau:
Một là, vị trí địa lý của xã xa trung tâm kinh tế-xã hội, xa đờng quốc lộ,
giao thông đi lại khó khăn.
Hai là, môi trờng xã hội cha phát triển, trình độ dân trí thấp, còn nhiều tập
tục lạc hậu
Ba là, trình độ sản xuất lạc hậu, chủ yếu mang tính tự cấp, công cụ thô sơ
Bốn là, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống thấp.
Năm là, hạ tầng cơ sở cha phát triển, cha đủ các công trình thiết yếu nh
điện, đờng giao thông, trờng học, trạm xá, nớc sạch, chợ xã
Xã nghèo là xã dựa trên 2 tiêu chí sau: Tỉ lệ hộ nghèo trên 25%, cha đủ 3
trên tổng số 6 công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu (điện, đờng giao thông, trờng
học, trạm y tế, chợ và nớc sạch).
+ Thực trạng đói nghèo ở huyện Hiệp Đức.
Hộ đói nghèo: Để đánh giá đúng thực trạng đói nghèo ở Hiệp Đức phải
căn cứ vào 2 tiêu thức: thu nhập và khả năng tiếp cận, hởng thụ các dịch vụ xã
13
hội. Bởi vì đây là 2 tiêu thức cơ bản, phản ánh trực tiếp mức sống hay mức độ
thực hiện các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của đời sống, làm cơ sở xác định chuẩn
mực, giới hạn hộ đói nghèo.
Về tiêu thức thu nhập: căn cứ vào chuẩn nghèo đợc Bộ Lao động, Thơng
binh và Xã hội công bố và mức sống thực tế của địa phơng, tỉnh Quảng Nam đã
xác định chuẩn đói nghèo với hộ dân c sinh sống trên địa bàn Tỉnh giai đoạn từ
năm 1993 đến năm 1995 là: hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dới mức
quy định nh sau:
Đối với khu vực thành thị là 70.000VNĐ/ngời/tháng (0.84 triệu/ngời/năm).
Đối với khu vực nông thôn đồng bằng là 50.000 VNĐ /ngời/tháng (0,6
triệu/ngời/năm).
Đối với khu vực nông thôn miền núi là 40.000VNĐ/ngời/tháng (0,48
triệu/ngời/ năm).
xã có điều kiện thổ nhỡng không thuận lợi, điều kiện giao thông cha phát triển,
xa trung tâm huyện. ở các xã này, còn thiếu thốn rất nhiều, thậm chí là cha có
các cơ sở hạ tầng thiết yếu nh điện, nớc sinh hoạt, trờng học, trạm y tế tỷ lệ hộ
nghèo chiếm khá cao, từ 25-30% số hộ.
Những con số trên đã phác hoạ một bức tranh chung nhất về thực trạng đói
nghèo ở huyện Hiệp Đức. Điều đó cũng cho thấy, đối với Đảng bộ huyện Hiệp
Đức, XĐGN thật sự là một yêu cầu cấp bách, cần phải tập trung giải quyết.
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo ở huyện Hiệp Đức.
Nghèo đói ở huyện Hiệp Đức là hậu quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân.
Có thể phân chia thành 3 nhóm cơ bản sau:
Một là, nhóm nguyên nhân do môi trờng tự nhiên, môi trờng kinh tế, xã
hội không thuận lợi.
15
Về môi trờng tự nhiên không thuận lợi, đó là: đất đai ít màu mỡ, cằn cỗi,
độ dốc lớn, bị ảnh hởng của bom mìn, chất độc hoá học. Đây là nguyên nhân
làm cho năng suất cây trồng, vật nuôi thấp, thu nhập ngời lao động không đủ
ăn, không có điều kiện tái sản xuất mở rộng. Vị trí địa lý không thuận lợi, xa
các trung tâm, giao thông cách trở, đi lại khó khăn cũng là nguyên nhân dễn
đến đói nghèo ở huyện. Ngoài ra, đói nghèo còn do điều kiện khí hậu, thời tiết
khắc nghiệt, thờng xuyên xảy ra hạn hán, lũ lụt.
Bên cạnh đó, môi trờng kinh tế thiếu thốn về giao thông, điện, nớc một
mặt làm ảnh hởng đến khả năng sản xuất, mặt khác làm cho ngời dân không có
điều kiện tham gia nền kinh tế hàng hoá, đặc biệt là đối với 2 xã vùng sâu là Ph-
ớc Gia và Phớc Trà. ở đây vẫn đang tồn tại kiểu kinh tế tự cấp, tự túc, sản xuất
lạc hậu: chọc lỗ, tỉa hạt
Môi trờng xã hội vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục nh ma chay, cới xin, cúng
bái tốn kém; các vấn đề y tế, giáo dục, văn hoá cha đáp ứng đủ yêu cầu, làm
cho ngời dân không tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, học tập,
đào tạo nghề
Hai là, nhóm nguyên nhân thuộc về chủ quan ngời nghèo. Đây là nhóm
ợng cụ thể.
1.1.2. Chủ trơng của Đảng bộ huyện Hiệp Đức về xoá đói giảm nghèo
từ 1996 đến 2005
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xoá đói giảm nghèo.
Chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định chỉ có tiến hành cách mạng vô sản,
xoá bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội XHCN, thì mới
xoá bỏ đợc mọi áp bức, bóc lột, bất công, mọi ngời sống bình đẳng và không có
đói nghèo.
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác Lênin, thấu hiểu ớc nguyện của nhân dân lao
động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng đấu tranh để xây dựng một xã hội
17
mới ở Việt Nam, xã hội XHCN mà trong đó: nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng
sung sớng, ai nấy đợc đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động đợc thì nghỉ,
những phong tục tập quán xấu dần dần đợc xoá bỏ. Tóm lại, xã hội ngày càng tiến,
vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt [13, 591].
Phấn đấu vì mục tiêu đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam,
Đảng ta luôn quan tâm sâu sát đến mọi mặt đời sống nhân dân. Tuy nhiên, một
thực tế là hiện nay, nớc ta vẫn đang là một trong những nớc nghèo nhất thế giới.
Các chỉ tiêu kinh tế bình quân đầu ngời rất thấp, tỉ lệ hộ đói, nghèo cao, tập
trung ở nông thôn với sản xuất thuần nông, quy mô nhỏ và lạc hậu. Do vậy,
XĐGN là một yêu cầu cấp bách đặt ra, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn và
kịp thời của Đảng ta.
Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: Cùng với quá trình đổi
mới, tăng trởng kinh tế, phải tiến hành công tác xoá đói giảm nghèo, thực hiện
công bằng xã hội, tránh sự phân hoá giàu nghèo quá giới hạn cho phép [2, 73].
Trong chiến lợc phát triển kinh tế đến năm 2000, Đảng cũng nêu rõ: Lấy phân
phối theo lao động làm hình thức chính, khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm
số ngời nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế
[1, 9]. Đến Nghị quyết Trung ơng 5 khoá VII, chủ trơng XĐGN đợc cụ thể hoá
thêm: Phải trợ giúp ngời nghèo bằng cách cho vay vốn, hớng dẫn cách làm ăn,
những năm qua, nhân dân Quảng Nam đã chung sức, chung lòng, vợt qua nhiều
khó khăn, thử thách để xây dựng và phát triển các phong trào thi đua yêu nớc,
tiến công mạnh mẽ đói nghèo, lạc hậu và đã đạt đợc nhiều thành tích khả quan.
Tuy nhiên, trên thực tế, Quảng Nam vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong quá
trình đổi mới và phát triển, đặc biệt là vấn đề đói nghèo. Hiện nay, ở Quảng
Nam, tỉ lệ đói nghèo vẫn ở mức cao, năm 1997 là 27,3%, năm 2001 là 23,27%
hộ đói nghèo, 124 xã cha có trờng Trung học cơ sở, 33 xã cha có đờng ô tô đến
19
trung tâm xã, 108 xã cha có chợ, 53 xã cha có điện thoại, 88 xã cha có trạm
truyền thanh. Bình quân mỗi năm có gần 25000 lao động cần việc làm, trong
khi khả năng của Tỉnh chỉ giải quyết đợc hơn 20000 lao động; số lao động qua
đào tạo khoảng 14%, tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 5,65%, tỉ lệ sử dụng
thời gian lao động ở nông thôn là 77,5% [15, 1]. Đánh giá về công tác XĐGN
trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã chỉ rõ: Chủ trơng xoá đói
giảm nghèo, giải quyết việc làm, tuy đã đợc tập trung chỉ đạo, nhng triển khai
trên thực tế còn nhiều lúng túng, hiệu quả thấp, tỉ lệ đói nghèo vẫn còn cao. Đời
sống nhân dân miền núi, vùng cao, vùng xa, vùng cát ven biển, vùng căn cứ
cách mạng trớc đây còn nhiều khó khăn, lao động cha có việc làm còn lớn, nhất
là ở nông thôn [7, 45].
Để khắc phục tình trạng đó, tiếp tục đẩy mạnh XĐGN, nâng cao đời sống
nhân dân, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã có chủ trơng cụ thể chỉ đạo công tác
XĐGN trên địa bàn Tỉnh.
Mục tiêu, phấn đấu đến cuối năm 2005 đạt đợc:
+ Giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống dới 10% (theo tiêu chuẩn mới) đến năm
2005, cơ bản không còn hộ đói.
+ Bảo đảm 100% các xã nghèo có đủ các công trình hạ tầng cơ sở thiết
yếu (thuỷ lợi nhỏ, trờng học, trạm y tế, đờng dân sinh, trạm điện, nớc sinh
hoạt ) giảm số xã nghèo xuống còn 70 xã vào cuối năm 2005.
+ Mỗi năm giải quyết việc làm cho 20 đến 25 nghìn lao động.
+ Bảo đảm cho khoảng 75-80% số hộ nghèo đợc tiếp cận với các dịch vụ
Các hoạt động u tiên là cung cấp tín dụng, hớng dẫn cách làm ăn, đào tạo,
nâng cao năng lực cán bộ làm công tác XĐGN (đặc biệt là đào tạo giảng viên
21
và cán bộ cấp cơ sở, kể cả cán bộ tăng cờng), hỗ trợ đầu t xây dựng cơ sở hạ
tầng.
Bốn là, phát huy nội lực đi đôi với củng cố, tăng cờng hợp tác quốc tế.
Động viên ngời nghèo, hộ nghèo, xã nghèo tự vơn lên khắc phục khó khăn
để thoát nghèo là chủ yếu. Nhà nớc và cộng đồng đóng vai trò hỗ trợ và tập
trung vào các vùng trọng điểm khó khăn, đồng thời huy động các nguồn lực, thu
hút và động viên sự tham gia của các tầng lớp dân c, của các cấp, các ngành,
các tổ chức kinh tế-xã hội, các đoàn thể quần chúng hỗ trợ ngời nghèo, hộ
nghèo, xã nghèo. Mở rộng hợp tác quốc tế về kinh nghiệm, kỹ thuật, tài chính
để đẩy nhanh quá trình XĐGN.
- Chủ trơng của Đảng bộ huyện Hiệp Đức về XĐGN.
Mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2005 đạt đợc:
+ Giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống dới 10%.
+ Có 5/11xã, thị trấn không còn hộ nghèo.
+ Tỉ lệ số thôn nghèo dới 50% tổng số thôn.
+ Không còn đối tợng chính sách trong diện đói, nghèo.
+ Hàng năm, giải quyết việc làm cho 1500 lao động trở lên.
+ Tỉ lệ lao động có việc làm ổn định đạt từ 80% trở lên. Trong đó, lao
động đã đợc đào tạo nghề đạt 15% [18, 2].
Về chủ trơng, Đảng bộ huyện Hiệp Đức xác định:
Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của
cả hệ thống chính trị, đồng thời tích cực tranh thủ nguồn lực bên ngoài và phát
huy tốt khả năng của các thành phần kinh tế trong quá trình thực hiện XĐGN,
giải quyết việc làm.
Đảng bộ huyện Hiệp Đức luôn coi XĐGN là một chủ trơng lớn, một quyết
sách lớn của Đảng và Nhà nớc. Thực hiện thành công công cuộc XĐGN sẽ có ý
22
có kế hoạch hỗ trợ thiết thực cho các vùng nghèo, đặc biệt là 1300 xã nghèo,
chủ yếu là đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu và đào tạo, bồi dỡng nguồn
nhân lực. Nhà nớc và xã hội tăng cờng trợ giúp vốn, kiến thức làm ăn cho các
hộ nghèo, nhất là ở nông thôn, miền núi, hải đảo [6, 117]. Chủ trơng trên cũng
xuất phát từ đặc điểm đặc thù của huyện, là có nhiều xã giao thông đi lại khó
khăn, ở cách xa trung tâm, trình độ phát triển thấp, đặc biệt là 2 xã có đồng bào
dân tộc thiểu số sinh sống là Phớc Gia, Phớc Trà.
Thực hiện chủ trơng trên chính là tạo mọi điều kiện thuận lợi để các khu
vực trên phát triển kinh tế-xã hội, từng bớc thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, hội
nhập vào quá trình phát triển chung của huyện nhà.
Bốn là, tăng cờng vai trò lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chỉ đạo, điều hành của
chính quyền từ huyện đến cơ sở đối với công tác XĐGN. Đồng thời phát huy
vai trò của Mặt trận, các đoàn thể trong việc tuyên truyền vận động hội viên,
đoàn viên và nhân dân tham gia thực hiện chơng trình XĐGN đạt kết quả cao.
Chủ trơng trên thể hiện tính chất sâu rộng của công tác XĐGN, do đó phải
thực hiện xã hội hoá trong quá trình tổ chức thực tiễn. Trong đó, các cấp uỷ
Đảng phát huy vai trò lãnh đạo thông qua các chính sách, biện pháp XĐGN và
công tác kiểm tra, giám sát thực hiện; chính quyền các cấp cụ thể hoá các chủ
trơng, chính sách đó thành chơng trình hành động cụ thể và tổ chức triển khai
thực hiện; Mặt trận và các đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân tích cực
tham gia thực hiện. Sự phối hợp hoạt động thống nhất và chặt chẽ giữa các bộ
phận đó phải đa đến một phong trào XĐGN sôi nổi, rộng khắp trong toàn
huyện, lấy hiệu quả công tác XĐGN làm một trong những tiêu chí để đánh giá
kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các bộ phận.
Năm là, XĐGN phải phát huy cao độ tính tự lực, tự chủ, tự vơn lên vợt qua
đói nghèo của ngời nghèo, hộ nghèo.
24
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo là từ chính bản
thân ngời nghèo, biểu hiện tập trung ở sự thiếu kinh nghiệm, kiến thức làm ăn.
Do vậy, phát huy cao độ tính tự lực, tự chủ, tự vơn lên của ngời nghèo, hộ nghèo