MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong lịch sử loài người, nông nghiệp là nguồn chủ yếu cung cấp
lương thực thực phẩm, và cho đến nay, nông nghiệp vẫn là ngành duy nhất
tạo ra lương thực cho loài người. Ngoài việc cung cấp lương thực cho loài
người, nông nghiệp còn có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi
nước, nhất là đối với những nước đang phát triển có tỉ lệ cơ cấu nông nghiệp
giữ vị trí chủ đạo.
Ruộng đất và nông dân là những yếu tố cơ bản của nông nghiệp và
nông thôn. Ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, là tư liệu sản xuất
đặc biệt không gì có thể thay thế được, còn nông dân lao động lại là nhân
tố quyết định của quá trình sản xuất “ruộng đất là cha, đất là mẹ của của
cải vật chất”.
Có thể nói ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng, thứ tài sản quý
giá của cư dân nông nghiệp. Ở Việt Nam, tuyệt đại đa số cư dân sống bằng
nghề trồng lúa nước và làm nông nghiệp, cho nên, ruộng đất lại càng trở
nên quan trọng và quý giá hơn. Bởi vậy mà đất đai cần phải được tổ chức,
quản lý, khai thác và sử dụng một cách hợp lý và khoa học nhằm phục vụ
đắc lực cho sự phát triển chung của cả nền kinh tế - xã hội. Giữa nông dân
và ruộng đất có mối quan hệ: hoặc nông dân chỉ là người làm thuê trên
mảnh đất của người khác hoặc họ sẽ là người làm chủ quá trình sản xuất và
thu nhập từ đất đai khi họ là chủ ruộng.
Dưới thời kỳ phong kiến Việt Nam, Nhà nước phong kiến luôn luôn
quan tâm đến vấn đề ruộng đất. Điều này được thể hiện ở việc các Nhà
nước phong kiến Việt Nam luôn coi trọng việc khai hoang mở rộng diện
tích ruộng đất. Tuy nhiên dưới thời kỳ phong kiến ruộng đất lại chủ yếu tập
trung trong tay địa chủ, quan lại, quý tộc phong kiến, còn người nông dân
lại hầu như không có ruộng đất để sản xuất.
1
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã thông qua Chính cương
vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Trong đó đã đề ra
Đảng, Đảng bộ huyện Phú Lương đã lãnh đạo nhân dân trong huyện thực hiện
những chính sách ruộng đất mới một cách có hiệu quả. Nhờ đó mà kinh tế
nông nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế của huyện nói chung đã có nhiều
những chuyển biến tích cực. Nhưng sự lãnh đạo của Đảng bộ Phú Lương
trong việc thực hiện những chính sách ruộng đất mới như thế nào, những kết
quả đạt được ra sao trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2008 là một vấn đề
lớn còn bỏ ngỏ. Nếu tìm hiểu được vấn đề này sẽ góp phần cho chúng ta thấy
được cái nhìn tổng quát về quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất
của Đảng bộ Phú Lương và những kết quả to lớn mà Đảng bộ và nhân dân
trong huyện đã đạt được, đồng thời rút ra được một số bài học kinh nghiệm
trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và nâng cao
hiệu quả sử dụng ruộng đất cho người nông dân.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ huyện
Phú Lương (Thái Nguyên) lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất (từ 1997
đến 2008)” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Từ trước đến nay, vấn đề ruộng đất đã được trình bày trong nhiều tác
phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng ta và các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên
và xã hội.
Về lịch sử chế độ ruộng đất thời kỳ cổ trung đại và cận đại có các tác
phẩm như: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI-XVII của Trương Hữu
Quýnh, Nxb Khoa học xã hội,tập 1, HN,1982, tập 2, HN, 1983.
Về vấn đề ruộng đất trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ, trước hết
phải kể đến tác phẩm: Vấn đề dân cày, Đức Cường, xuất bản năm 1937 của
Qua Ninh và Vân Đình (Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp); Cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, tập 1, tập2, Nxb Sự Thật, HN, 1975 của đồng chí
Trường Chinh
3
Về vấn đề ruộng đất và nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới có
những tác phẩm như: Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội,
quá trình sản xuất từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả,
năng suất, chất lượng và giảm thiểu những khó khăn cho người nông dân.
+ Giới hạn nghiên cứu
Vấn đề Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất là một vấn đề
rộng, liên quan đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, trong đề tài này tôi
chỉ giới hạn nghiên cứu ở những nội dung cơ bản sau:
- Nghiên cứu về quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng
bộ Phú Lương trong giai đoạn (1997 – 2008).
- Kết quả những chính sách liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp
huyện Phú Lương (1997 – 2008), những thành tựu, hạn chế.
- Thời kỳ đất nước tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa, bộ mặt nông
nghiệp, nông thôn đã thay đổi như thế nào và những phương pháp mới để
nâng cao chất lượng ruộng đất và hiệu quả cây trồng.
+ Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi địa bàn được nghiên cứu của đề tài là toàn bộ huyên Phú Lương từ năm
1997 đến năm 2008.
- Phạm vi thời gian được đề tài nghiên cứu là từ khi có Nghị quyết về việc
chia lại địa giới hành chính đến năm 2005.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu.
Tài liệu thông sử: Giáo trình lịch sử Việt Nam, tập 1, tập 2, tập 3; Các
tác phẩm thông sử khác được công bố và xuất bản…
Tài liệu lưu trữ: Các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về việc thực hiện các
chính sách ruộng đất, các báo cáo về tình hình ruộng đất, Niên giám thống kê,
Tổng kiểm kê đất đai hiện đang được lưu trữ tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái
nguyên, Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lương , Huyện uỷ
Phú Lương, Chi cục thống kê tỉnh Thái Nguyên…
Tài liệu chuyên khảo: quá trình thực hiện quyền sở hữu ruộng đất cho
nông dân ở Thái Nguyên (1945-1957), Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002 của
5
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ LƯƠNG
1.1. Điều kiện tự nhiên.
Phú Lương là một huyện miền núi, nằm ở phía bắc của tỉnh Thái
Nguyên, thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ. Nhờ nằm ở vị trí đó mà Phú
Lương nói riêng và Thái Nguyên nói chung là vùng đệm nối giữa các tỉnh
trung du miền núi phía Bắc với đồng bằng sông Hồng. Phú Lương nằm cách
thành phố Thái Nguyên 22km về phía Tây Bắc. Huyện Phú Lương thuộc
tỉnh Thái Nguyên với diện tích là 368,82km
2
. Trong đó, đất nông nghiệp
119,79 km
2
, đất lâm nghiệp 164,98 km
2
, diện tích đất nuôi trồng thủy sản
6,65km
2
, đất phi nông nghiệp 46,63 km
2
, đất chưa sử dụng 31,64 km
2
. Phú
Lương có 14 xã, 2 thị trấn và được giới hạn với hệ tọa độ địa lý như sau:
21
0
35’23”- 21
0
55’06” vĩ độ Bắc và 105
0
37’04” - 105
- Vùng gò đồi thường tập trung ở phía nam của huyện, là vùng thấp và
đồng bằng. Địa hình tương đối bằng phẳng, xen giữa các đồi bát úp dốc
thoải là các khu đất bằng. Vùng gò đồi được phân bố chủ yếu ở các xã như
Giang Tiên, Cổ Lũng, Sơn Cẩm. Độ cao trung bình từ 30- 50 mét, độ dốc
khoảng dưới 10
0
.
Với địa hình, địa mạo như trên đã tạo cho Phú Lương có thế mạnh về
quân sự. Trong điều kiện xảy ra chiến tranh thì Phú Lương có thể dễ dàng
cùng với các địa phương khác trong tỉnh đoàn kết phát huy tác dụng hỗ trợ
lẫn nhau, kết hợp giữa tấn công và phòng ngự. Bởi vậy mà trong thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Phú Lương đã trở thành cửa ngõ
bảo vệ cho An Toàn Khu (ATK), cơ quan đầu não của cách mạng. Hơn nữa
với việc phân bố địa hình khá rõ nét thành các khu riêng biệt đã tạo điều
kiện thuận tiện cho việc phân vùng kinh tế trong huyện với ba vùng đó là:
- Vùng Tây Bắc, gồm 6 xã Hợp Thành, Ôn Lương, Phủ Lý, Yên Đổ,
Yên Ninh, Yên Trạch, tập trung phát triển kinh tế đồi rừng, mở rộng diện
tích chè, trồng cây ăn quả, đảm bảo diện tích trồng cây lương thực.
- Vùng phía đông, gồm 4 xã Vô Tranh, Tức Tranh, Phú Đô, Yên Lạc,
mở rộng diện tích chè, tăng diện tích chè cao sản, cải tạo diện tích chè hiện
có, trồng cây ăn quả, cây lương thực.
- Vùng phía nam, gồm Động Đạt, thị trấn Đu, Phấn Mễ, thị trấn Giang
Tiên, Cổ Lũng, Sơn Cẩm, tập trung đầu tư thâm canh cây lương thực, ổn
định diện tích chè, cây ăn quả, phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ.
Về tài nguyên khoáng sản: Phú Lương, nằm trong vùng sinh khoáng
Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, cho
nên, trong lòng đất của Phú Lương có nguồn tài nguyên khoáng sản phong
8
phú về chủng loại cũng như trữ lượng, đặc biệt là các loại khoáng sản chiếm
của hệ thống sông Đu khoảng 45km. Nó có vai trò rất quan trọng đối với đời
9
sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân Phú Lương. Ngoài ra, hàng năm sông
Đu cung cấp một nguồn thực phẩm dồi dào và cơ bản cho đồng bào Phú
Lương, bởi vậy mà từ xa xưa trong nhân dân đã lưu truyền câu thành ngữ
“Cơm làng Giá, cá làng Đu”. Sông Cầu là sông lớn nhất chảy qua địa bàn
huyện Phú Lương, với chiều dài là 17km. Sông Cầu là nguồn cung cấp nước
chủ yếu đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất cho các xã phía nam của huyện.
Về khí hậu: Phú Lương nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến nên
Phú Lương có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có hai mùa rõ rệt mùa nóng
(mưa nhiều) từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh (ít mưa) từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình năm của Phú Lương dao động từ 25
0
đến 30
0
C, lượng mưa trung bình từ 1800- 2000mm, độ ẩm trung bình
khoảng 80%. Lượng nước bốc hơi hàng năm của huyện là khoảng 985,5mm,
mùa lạnh lượng nước bốc hơi lớn hơn lượng mưa, độ ẩm (k) dưới 0,5 nên
thường xuyên xảy ra khô, hạn.
Về giao thông đường bộ, huyện Phú Lương có 3 tuyến đường bộ
chính là: Quốc lộ 3 (Hà Nội – Cao Bằng) chạy qua địa bàn 8 xã của huyện
với chiều dài là 50km; Đường 254 từ km 31 lên Định Hóa; Quốc lộ 37 từ
ngã ba Bờ Đậu (xã Cổ Lũng) qua địa bàn huyện Đại Từ sang tỉnh Tuyên
Quang…Các tuyến giao thông này mang lại cho huyện Phú Lương nhiều
thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như trên đã khẳng định Phú Lương là
một huyện có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển nền nông nghiệp, lâm
nghiệp và công nghiệp. Bởi vậy mà xuất phát từ những đặc điểm về điều
kiện tự nhiên và yêu cầu phát triển của địa phương mà Phú Lương hoàn
toàn có điều kiện để vươn lên, phát triển kinh tế theo hướng toàn diện trên
mang lẫn nhau, đối xử với nhau có tình có nghĩa . Câu tục ngữ của người
Tày: “Pì noọng tam tó, bó tày pì noọng só rườn”, cũng có nghĩa như câu
tục nhữ của người Kinh: “ Bán anh em xa mua láng giềng gần” đã nói lên
sự gắn bó lẫn nhau giữa các gia đình trong cùng một xóm bản. Sự đoàn kết,
tương trợ giúp đỡ lẫn nhau không chỉ thể hiện trong đời sống hàng ngày
(các dịp ma chay, cưới xin, làm nhà,…) mà cả trong sản xuất. Mối đoàn kết
keo sơn giữa các đồng bào ngày càng được phát huy mạnh mẽ qua các thế
hệ và đã trở thành một truyền thống hết sức quý báu.
11
Trong quá trình lao động sản xuất và chế ngự thiên nhiên, nhân dân
các dân tộc huyện Phú Lương luôn thể hiện đức tính cần cù, chịu khó,
thông minh, sáng tạo. Họ đã tự chế tạo được các loại cung, nỏ, súng kíp,…
để săn bắn thú rừng, tự rèn đúc được các loại dao, cuốc, …làm dụng cụ và
đồ dùng sinh hoạt cũng như sản xuất. Từ xưa, người dân Phú Lương đã biết
dệt lấy vải mặc, biết làm cọn nước, đào đắp mương phai để dẫn nước vào
ruộng.
Ngoài kỹ thuật làm ruộng nước, đồng bào còn rất thạo làm nương,
rẫy. Nhờ những kinh nghiệm tích lũy từ lâu năm, nên đồng bào dễ dàng
chọn rừng, đất làm rẫy trồng lúa, ngô. Trong kỹ thuật canh tác, người dân
Phú Lương từ lâu đã biết trồng luân canh, xen canh gối vụ làm tăng năng
suất và sản lượng cây trồng. Đồng bào đã biết chọn và giữ gìn những giống
lúa thơm ngon nổi tiếng. Câu ca “Cơm làng Giá, cá làng Đu” từ xa xưa đã
nói lên điều đó.
Bên cạnh văn hóa vật chất, nhân dân các dân tộc huyện Phú Lương
đã góp phần xây dựng, gìn giữ và phát triển nền văn hóa tinh thần vô cùng
phong phú và đa dạng. Đó chính là những điệu hát lượn của người Tày, hát
Sli của người Nùng, ….cùng với đó là những câu truyện kể được lưu truyền
trong trong đồng bào các dân tộc. Tất cả đều là những tài sản quý giá, chứa
đựng những yếu tố tích cực lành mạnh. Nó thể hiện tư tưởng, tình cảm
trong sáng, ước mơ cao đẹp của quần chúng lao động.
chóng đi tới thắng lợi hoàn toàn. Muốn thế, điều chủ yếu là phải không
ngừng bồi dưỡng lực lượng của nông dân, cải thiện đời sống của nông dân.
Trong hoàn cảnh đó, Vào đầu tháng 12- 1953, cải cách ruộng đất bắt
đầu mở đợt thí điểm và đã thu được nhiều kết quả quan trọng.Từ tháng 8-
1953, khi nông dân ở huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên tiến hành
cuộc cải cách ruộng đất lần II thì cũng là lúc nông dân trong 14 xã của Phú
Lương sôi nổi bước vào cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt nhằm xóa bỏ giai
13
cấp bóc lột ở nông thôn Phú Lương (từ ngày 25-8-1953 đến ngày 20-10-
1953). Nhờ có những bài học kinh nghiệm được đúc rút lại từ lần I mà đợt II
này đã được diễn ra trong nhiều thuận lợi và nhanh chóng hoàn thành. Đầu
năm 1955, toàn bộ các xã trên địa bàn huyện đã hoàn thành công cuộc thủ tiêu
chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến, biến ước mơ “người cày có ruộng”
của người nông dân trở thành hiện thực.
Tuy vậy, trong quá trình thực thi các chính sách về ruộng đất bên cạnh
những thắng lợi cơ bản đã đạt được, do một số cán bộ nắm không chắc đặc điểm
và tình hình của huyện, nên đã dập khuôn một cách máy móc các biện pháp của
cấp trên nên diễn ra tình trạng đấu tố tràn lan, quy oan quy sai thành phần cho một
số người và gia đình, ngoài ra là việc truy bức, xử lý cán bộ, đảng viên một cách
tràn lan, bừa bãi đã gây nên không khí căng thẳng ở nông thôn.
Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, kế hoạch sửa sai
do Tỉnh ủy Thái Nguyên tổ chức, trong hai ngày 16 và 17-12-1956, Huyện
ủy, ủy ban hành chính huyện đã tổ chức hội nghị quán triệt chủ trương,
chính sách của Đảng về sửa chữa sai lầm trong việc thi hành chính sách
giảm tô và cải cách ruộng đất. Sau sửa sai, các tổ chức cơ sở Đảng, Chính
quyền, Đoàn thể trong huyện đã được củng cố và kiện toàn. Cán bộ, Đảng
viên và nhân dân trong huyện, đặc biệt là những người trước đây bị quy sai
thành phần nay được hạ thành phần đã phấn khởi trở lại tích cực tham gia
vào sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp.
Thắng lợi của công cuộc Cải cách ruộng đất và khôi phục kinh tế đã
Về sở hữu ruộng đất Thái Nguyên nói chung và Phú Lương nói riêng
chủ yếu là có hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Công
cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã làm cho quan hệ sản xuất mới xã hội chủ
nghĩa được xác lập, có tác dụng mở đường cho sức sản xuất phát triển, cùng
với đó là việc từng bước xóa bỏ hoàn toàn giai cấp bóc lột.
Cũng như các địa phương khác trong nước, sau một thời gian khá dài
phát huy tốt tác dụng, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở Phú Lương đã
bắt đầu xuất hiện những hạn chế, nhiều hợp tác bắt đầu sản xuất không có
15
hiệu quả, xuất hiện những hạn chế và đi tới tan rã.Tuy huyện ủy có nhiều biện
pháp khắc phục, nhưng phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trong huyện vẫn
không được cải thiện. Sự yếu kém của phong trào hợp tác xã gây nên những
ảnh hưởng xấu đến tinh thần lao động của bà con xã viên, sản xuất dần yếu
kém hơn, từ đó đời sống của nông dân gặp nhiều khó khăn.
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất quy về một
mối (1975) Đảng và Nhà nước bắt đầu đẩy mạnh công cuộc khôi phục và phát
triển đất nước sau chiến tranh theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi
cả nước. Để khắc phục khó khăn, đưa đất nước từng bước thoát khỏi cuộc
khủng hoảng, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI được triệu tập (12 - 1986)
tại Hà Nội. Cùng với vấn đề đổi mới toàn diện đất nước, vấn đề đổi mới cơ
chế quản lý, sử dụng ruộng đất trên phạm vi cả nước cũng được Đảng và nhà
nước đặc biệt quan tâm. Sự quan tâm đó được thể hiện qua việc Đảng và
Chính phủ ta đã ra nhiều văn bản có sự tác động trực tiếp đến quan hệ ruộng
đất nông nghiệp, làm thay đổi căn bản quan hệ ruộng đất ở nước ta từ thập
niên 80 của thế kỷ XX tới nay.
Trước hết phải kể tới Chỉ thị 100 – CT/TW ra ngày 31-1-1981 về cải
tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động
trong hợp tác. Đặc biệt ngày 5 - 4 - 1988, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 10 về
tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, khẳng định nông dân là đơn vị
kinh tế tự chủ và chuyển từ trạng thái tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hóa
và đế quốc Mỹ. Năm 1975 đất nước được giải phóng, giang sơn thu về một
mối, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, nhân dân cả nước nói chung và nhân
dân Phú Lương nói riêng tích cực sản xuất để khôi phục và xây dựng đất nước.
Trong nông nghiệp việc sản xuất nông nghiệp cũng như khai thác ruộng đất
trên địa bàn huyện được đẩy mạnh. Đây chính là thời kỳ mà kinh tế hộ gia đình
được xác lập. Người nông dân, người lao động (hộ gia đình) đã trở thành người
chủ thực sự trên mảnh ruộng mà chính quyền cách mạng đã đem lại cho họ. Do
đó, người nông dân rất phấn khởi đẩy mạnh tăng gia sản xuất nhằm có thể khai
thác tốt hơn nữa diện tích ruộng đất của gia đình mình. Trước hết là trong trồng
trọt, với tư tưởng chỉ đạo là “tấc đất, tấc vàng” Đảng bộ và nhân dân huyện Phú
17
Lương đã ra sức khai khẩn đất hoang mở rộng diện tích gieo trồng cây lương
thực. Trong thời gian này, ở Phú Lương nhìn chung thì cây lúa vẫn là cây trồng
chủ đạo, chiếm ưu thế chủ yếu. Bên cạnh đó, người nông dân còn trồng thêm
các loại cây hoa màu ngắn ngày để tăng thêm hiệu quả sử dụng đất, đồng thời
là nhằm giải quyết khâu thiếu lương thực và để phục vụ cho cuộc kháng chiến
và sau đó là góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế nông nghiệp của nước
nhà.
Biểu số 1: Diện tích trồng cây lương thực ở Phú Lươngqua các năm
[6; Tr 24, 25]
Đơn vị tính: ha
Năm 1990 1992 1994 1995 1996
Tổng 8.655 9.357 8.948 8.833 8.547
Lúa 6.709 6.695 6.415 6.414 6.352
Hoa màu 1.946 2.662 2.533 2.419 2.195
Phú Lương là một huyện miền núi, có điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng và
khí hậu thích hợp để trồng một số các cây công nghiệp, trong đó có cây chè.
Đây là cây trồng đã được đưa vào canh tác trong các đồn điền chuyên canh và đa
canh của người Pháp và người Việt trong giai đoạn trước của lịch sử. Nhận thấy
được điều đó Đảng bộ Phú Lương đã sớm chỉ đạo cho các ban ngành và nhân
mẫu ruộng. Đến năm 1965, toàn huyện huy động được 282.740 ngày công, tu
sửa hàng trăm đoạn kênh mương. Tiếp đó trong 3 năm 1980-1982, Phú Lương
đã hoàn thành xây dựng 10 công trình thủy lợi trong đó có 2 công trình loại
vừa đảm bảo tưới tiêu cho 200 ha lúa. Trong 3 năm 1987- 1989, huyện đã xây
dựng được 20 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, hoàn thành 16 km kênh mương,
chủ động tưới tiêu cho trên 300 ha lúa.
Nhờ việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật và chú trọng
công tác phát triển thủy lợi mà việc khai thác và sử dụng ruộng đất ở
huyện có hiệu quả hơn thể hiện qua việc ruộng đất được thâm canh, tăng
vụ làm cho sản lượng lương thực của Phú Lương liên tục tăng và ngày
19
càng đạt được kết quả to lớn hơn, năm 1966: 2107 tấn, năm 1975: 14.364
tấn. [25; Tr 25]
Cùng với hoạt động trồng trọt, nhân dân trong huyện cũng chú trọng
vào việc phát triển chăn nuôi, nhằm tận dụng được sức kéo, phân bón, và
tránh lãng phí, tận dụng những nguồn thực phẩm dư thừa trong trồng trọt
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tận dụng và khai thác được mọi nguồn
lực của huyện. Đồng thời là việc đưa những giống vật nuôi mới với năng
suất và chất lượng cao vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao
hơn.Bởi vậy mà hoạt động chăn nuôi của huyện đạt được những kết quả
khả quan.
*Tiểu kết chương 1:
Phú Lương là một huyện miền núi có một vị trí khá quan trọng cả
về kinh tế lẫn quân sự. Phú lương cũng là địa bàn cư trú lâu đời của nhiều
đồng bào dân tộc, nhưng đông nhất vẫn là dân tộc Kinh. Từ sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945 đến năm 1957, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chế độ
chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, của phú nông từng bước được
xoá bỏ thông qua các chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước ta mà
cao nhất là luật cải cách ruộng đất. Tuy nhiên, do nhận thức còn giáo điều
về chủ nghĩa xã hội mà từ 1958 trở đi sở hữu ruộng đất tập thể đã dần thay
đạo đảng bộ và nhân dân các cấp thực hiện. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VIII (1996), Đảng đã khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước
lúc này là: “xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Trong nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa thì Đảng nhấn mạnh nội dung chủ yếu của nhiệm vụ này là: “Đặc biệt
coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát triển
toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm,
thủy sản…”. Trong nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn thì cần phải: “Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình
thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật
nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm
21
an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp
chế biến và của thị trường trong, ngoài nước.Thực hiện thủy lợi hóa, điện
khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa…Phát triển công nghiệp chế biến nông,
lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và
liên kết với công nghiệp ở đô thị…” [10; Tr 127 ]
Về quản lý đất đai, Nghị Quyết Đại hội xác định: "Quản lý chặt chẽ đất
đai và thị trường bất động sản. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, không tư nhân
hoá, không cho phép mua bán đất đai; Thực hiện đúng Luật Đất đai; bổ sung
hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và chính sách đất đai. Trong việc giao quyền sử
dụng đất và cho thuê đất phải xác định đúng giá các loại đất để sử dụng có hiệu
quả, duy trì phát triển quỹ đất, bảo đảm lợi ích của toàn dân, khắc phục tình
trạng đầu cơ và những tiêu cực, yếu kém trong việc quản lý và sử dụng đất. Tổ
chức quản lý tốt thị trường bất động sản. " [10; Tr 129]
Sau đó, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng đã tiếp tục
nêu ra chủ trương: “Chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất nông nghiệp và
kinh tế nông thôn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh phù hợp
với tiềm năng và lợi thế về khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng
địa phương. Gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến; hình thành sự liên
luôn là vấn đề được Đảng ta quan tâm hàng đầu, điều đó được thể hiện bằng
hàng loạt các biện pháp nhằm tăng cường quản lý, khai thác và sử dụng đất đai
vào sản xuất nông nghiệp và các mục đích sử dụng khác. Phát triển nông
nghiệp được Đảng ta xác định trong thời kì mới gắn liền với công nghiệp hóa - hiện
đại hóa, sử dụng các kĩ thuật tiên tiến, cùng các nông cụ sản xuất hiện đại.
2.1.2. Một số chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trong Luật đất đai năm 1998 có ghi: “ Đất đai là tài nguyên quốc gia
vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng
đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ,
nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn
đất đai như ngày nay…” [15; Tr 218].
23
Trước tình hình đó, và dưới sự chỉ đạo của Đảng về chính sách ruộng
đất, Nhà nước, Chính phủ đã nhanh chóng cụ thể những chủ trương đó bằng
những văn kiện pháp luật cụ thể, thể hiện rõ tư tưởng của Đảng về chính
sách ruộng đất trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội và đường lối đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm nâng cao hiệu quả của việc
quản lý, sở hữu và có thể sử dụng một cách linh hoạt và triệt để nguồn tài
nguyên vô giá này.
Thể chế hóa chủ trương, chính sách đất đai của Đảng, Hiến Pháp
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, đã quy định: “Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân (Điều 17); Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy
hoạch và pháp luật (Điều 18)”[32; Tr 7]. Luật Đất đai 1993, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều Luật Đất đai 1998, 2001, Luật Đất đai 2003, đã cụ thể hóa
các quy định về đất đai của Hiến pháp. Năm 2003 Luật đất đai có sửa đổi và
bổ sung đã được ra đời nhằm có thể đưa ra được những quy định cụ thể mới
về quan hệ sở hữu và sử dụng đất đai trong giai đoạn mới với sự phát triển
nhanh của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới. Theo như đánh giá của luật sư Lê Công Định thì: “Luật đất đai năm
Nhà nước. Nhà nước thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai thông
qua các biện pháp như: Trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất
thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất
đối với người đang sử dụng đất ổn định. Quy định quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất.
Việc phân biệt rõ quyền đại diện chủ sở hữu đất đai với quyền thống
nhất quản lý đất đai của Nhà nước có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
nhằm tăng cường trách nhiệm, vai trò của nhà nước cũng như nâng cao hiệu
quả của công tác quản lý nhà nước về đất đai trong giai đoạn hiện nay.
Một trong những hạn chế của các đạo luật đất đai được ban hành trước
đây là không phân định rõ quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở
hữu đất đai và quyền quản lý đất đai của Nhà nước. Hạn chế này đã góp
phần làm giảm hiệu lực quản lý đất đai của Nhà nước. Khắc phục nhược
25