Đảng bộ huyện Đại Từ (Thái Nguyên) lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng (từ 1997 đến 2008) - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, không thể tái sinh qua thời
gian địa chất. Đó là tư liệu sản xuất cho tất cả các ngành nghề công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ… trong đó, đối với nông nghiệp thì ruộng đất lại càng
khẳng định được vị trí đặc biệt của mình. Đất đai còn có vai trò là nơi cung
cấp cho con người khu vực sinh sống và phát triển đời sống văn hóa, kinh tế,
xã hội… tạo ra ranh giới sự phân bố các khu dân cư, các cụm công nghiệp,
kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của một quốc gia. Khẳng định độc lập,
chủ quyền trước tiên phải có ranh giới lãnh thổ rõ ràng trên tài nguyên đất.
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống nông nghiệp, trong đó tỷ lệ dân
cư lao động trong các ngành này chiếm tới 80 % so với các ngành nghề khác.
Với truyền thống “dĩ nông vi bản” ruộng đất cùng với con trâu, cái cày là tư
liệu sản xuất vô cùng quan trọng không thể thay thế.
Dưới chế độ phong kiến, người nông dân tuy là lực lượng lao động chiếm
số đông trong xã hội nhưng lại không có tư liệu sản xuất, bị bần cùng hóa và
đẩy vào vị thế của người làm thuê. Khi thực dân Pháp xâm lược, cùng lúc
nhân dân chịu cảnh “một cổ hai tròng”, sưu cao thuế nặng. Mong muốn của
họ là có một mảnh đất để làm ăn sinh sống, an cư lạc nghiệp. Tháng 1/ 1930,
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ
giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp nhằm đánh đuổi thực dân Pháp và lật
đổ tàn tích phong kiến, mang lại cuộc sống mới cho người dân. Sau khi cách
mạng Tháng Tám/ 1945 thành công, nhiệm vụ phải xây dựng một nền kinh tế
kháng chiến có tính chất dân chủ nhân dân là hết sức quan trọng. Đảng và
Chính phủ rất chú trọng đến sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân.
Để đẩy mạnh sản xuất, Nhà nước đã thi hành những chính sách giảm tô, giảm
tức, tạm cấp ruộng đất vắng chủ và chia lại ruộng đất công cho hợp lý… Điều
đó đã tạo niềm tin trong quần chúng, cổ vũ tinh thần chiến đấu để quân và dân
ta làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954.
1
Tháng 12/ 1953, Trung ương Đảng quyết định chọn 6 xã: Hùng Sơn, An

huyện cần xây dựng chủ trương gắn liền với thực tế, giảm nhẹ tính lý thuyết,
tăng hiệu quả thực tiễn.
Việc thực hiện các chính sách liên quan đến ruộng đất của Đảng bộ
huyện Đại Từ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất và đời sống
nhân dân toàn huyện. Đó là quá trình thể hiện sự quan tâm không chỉ của
lãnh đạo địa phương mà còn của Đảng và Nhà nước đến công cuộc phát
triển nông nghiệp- nông dân và nông thôn trong huyện. Là một vấn đề
nghiên cứu rất cần thiết, tuy nhiên lại có rất ít những nhận xét, đánh giá về
các chính sách hoặc có cũng chỉ là những báo cáo, thống kê số liệu qua
từng năm. Như vậy, đây là vấn đề có tính bức thiết và thực tiễn rất lớn. Nó
giúp các nhà hoạch định chính sách thấy được vai trò của ruộng đất trong
hoạt động sản xuất tại địa phương. Từ đó có phương hướng lãnh đạo cụ
thể, linh hoạt, sáng tạo nhằm phát triển nền kinh tế đạt hiệu quả cao, phát
huy tối đa thuận lợi và hạn chế những tồn tại trong quá trình sản xuất nông
nghiệp. Đây là những chính sách phù hợp với sự lãnh đạo chung của toàn
tỉnh và góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội huyện Đại Từ.
Vấn đề ruộng đất và quá trình Đảng bộ huyện Đại Từ lãnh đạo thực hiện
chính sách ruộng đất của Đảng đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học
hay tài liệu chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ, chi tiết và hệ thống.
Để thấy được sự cần thiết trong công tác lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng
đất của toàn tỉnh nói chung và huyện Đại Từ nói riêng. Chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Đảng bộ huyện Đại Từ (Thái Nguyên) lãnh đạo thực hiện
chính sách ruộng đất của Đảng (từ 1997 đến 2008)” làm đề tài khoá luận
của mình.
3
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu, đánh giá của các nhà khoa học, những
bài báo, tạp chí viết riêng về vấn đề ruộng đất.
Về lịch sử ruộng đất thời kỳ phong kiến đã được rất nhiều tác giả lớn đề
cập tới, có giá trị khoa học cao. Từ đó thấy được những hình thức và chế độ

sách ruộng đất của Đảng (từ 1997 đến 2008)”, chưa có công trình nghiên
cứu hoàn chỉnh nào dưới góc độ lịch sử để thấy được sự cần thiết của vấn đề
trong thời kỳ mới. Các tài liệu liên quan: Lịch sử Đảng bộ huyện Đại Từ, Tập
1 (1930- 1945), 1991, Tập 2 (1955- 1995), 2000; Báo cáo Quy hoạch sử dụng
đất đai huyện Đại Từ- Tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2000- 2010, Khoa quản lý
đất đai- Trường Đại học Nông Nghiệp I, 2000. Bên cạnh đó là các phương
hướng, mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn qua các Hội nghị khoá XV,
XVI, XVII của Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh và Các Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ huyện Đại Từ lần XIX, XX, XXI. Các văn kiện này đã đưa ra nhiệm vụ cụ
thể cho sự phát triển của toàn tỉnh và đưa ra chính sách lãnh đạo cụ thể cho
huyện Đại Từ trong giai đoạn 1997- 2008.
Với số lượng tài liệu trên đã góp phần làm rõ tình hình ruộng đất nông
nghiệp, nông thôn và nông dân ở nước ta trong suốt một quá trình lịch sử lâu
dài. Cùng với đó là các chính sách phát triển và quan tâm của Đảng, Nhà nước
tới tình hình sản xuất nông nghiệp trong cả nước. Tuy chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về quá trình lãnh đạo thực hiện chính
sách ruộng đất của Đảng bộ huyện Đại Từ nhưng với nguồn tài liệu trước đây
đã giúp tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu vấn đề mà thực tiễn đặt ra.
3. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
CỦA ĐỀ TÀI
* Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về quá trình Đảng bộ huyện Đại Từ (Thái Nguyên)
lãnh đạo nhân dân thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng trong giai
đoạn 1997- 2008
5
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các chính sách về ruộng đất của Đảng từ 1997- 2008, thông qua
các Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XIX, X. Việc thực hiện và triển khai trên
toàn tỉnh Thái Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh tại các kỳ Đại hội
Đảng bộ khóa XV, XVI, XVII

- Đề tài còn được kế thừa những kinh nghiệm quý báu từ những đề tài
nghiên cứu, luận văn trước đây.
* Phương pháp nghiên cứu
-Với các nguồn tài liệu, chúng tôi đã sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp
với phương pháp logic để làm nổi bật được vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước, của tỉnh và huyện Đại Từ đến tình hình kinh tế nông nghiệp- nông thôn
trong sự phát triển kinh tế chung tại địa phương trong một thời gian dài.
- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh để thấy được bước phát triển qua
từng thời kỳ lịch sử; đặc biệt là phương pháp phân tích số liệu thống kê và các
báo cáo tổng kết được quan tâm.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Qua việc tìm hiểu các chính sách về ruộng đất tại huyện Đại Từ, đề tài
nghiên cứu đã làm rõ được những thay đổi cơ bản trong sự lãnh đạo của đảng
bộ huyện trong giai đoạn mới từ sau khi có Quyết định tách tỉnh 1997 đến
2008 trên các phương diện: công tác quản lý, phương thức khai thác, sử dụng.
- Đồng thời, đề tài góp phần đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong
quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất. Qua đó nêu ra những bài học kinh
nghiệm để quá trình khai thác ruộng đất trong nông nghiệp đạt kết quả cao
nhất, thúc đẩy sản xuất phát triển, hạn chế những khó khăn bất cập còn tồn tại.
7
6. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung gồm 3 chương
Chương 1. Khái quát về huyện Đại Từ
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
1.3 Tình hình ruộng đất và phương thức khai thác, sử dụng ruộng
đất ở Đại Từ trước năm 1997
Chương 2. Đảng bộ huyện Đại Từ (Thái Nguyên) lãnh đạo thực
hiện chính sách ruộng đất (từ 1997 đến 2008)

Từ cuối thế kỷ XVI đến những năm bẩy mươi của thế kỷ XVII, xứ Thái
Nguyên là nơi thường xuyên xảy ra những cuộc giao tranh giữa hai tập đoàn
phong kiến Trịnh- Mạc. Thời nhà Nguyễn, chia nước thành trấn, Đại Từ vẫn
thuộc phủ Phú Bình trấn Thái Nguyên. Năm 1831, Minh Mạng đổi trấn thành
tỉnh và năm 1835 cắt một số châu thuộc phủ Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên) lập
phủ Tòng Hoá. Huyện Đại Từ và châu Văn Lãng (phía Bắc Đại Từ hiện nay)
thuộc phủ này. Ngày 1/ 8/ 1922, Đại Từ và Văn Lãng hợp lại thành một, gọi là
huyện Đại Từ cho đến ngày nay. Trước cách mạng tháng Tám, Đại Từ cùng
với Định Hoá, Sơn Dương là vị trí trung tâm của chiến khu Nguyễn Hụê (bao
gồm phần đất phía tây sông Cầu lan sang Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái),
có thời gian huyện Đại Từ mang tên là châu Giải Phóng nằm trong chiến khu.
Với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 57.618,0 ha trong đó đất nông
nghiệp chiếm 26,87%, đất lâm nghiệp chiếm 45,13%, còn lại là đất phi nông
10
nghiệp chiếm 28%, Đại Từ nằm trong toạ độ từ 21
0
30’ đến 21
0
50’ độ vĩ Bắc,
từ 105
0
32’ đến 105
0
42’ độ kinh Đông. Huyện được tiếp giáp với các huyện
trong tỉnh với các hướng sau: Phía Tây giáp Tuyên Quang và Vĩnh Phúc, phía
Đông giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên, phía Bắc giáp huyện
Định Hoá, phía Nam giáp huyện Phổ Yên.
Với vị trí này, Đại Từ có khả năng phát huy mọi thế mạnh của vùng,
việc trao đổi hàng hoá, buôn bán giữa các địa phương diễn ra thuận lợi hơn.
Cùng với sự quan tâm của Nhà nước và địa phương, các tuyến đường giao

5,59
<8
0
8- 15
0
15- 25
0
> 25
0
16.123,42
6.599,62
14.066,09
21.000,91
27,90
11,42
24,34
36,34
Với địa hình chủ yếu là đồi núi, huyện có thế mạnh về phát triển lâm
nghiệp, cùng với vùng thung lũng nhỏ bên cạnh dãy Tam Đảo phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp. Chính điều kiện đó đã giúp huyện Đại Từ là vùng có
ngành sản xuất và chế biến chè hết sức nổi tiếng. Hiện nay với việc đầu tư
vốn, khoa học kỹ thuật, các loại giống mới, chè Đại Từ đang dần trở thành
thương hiệu nổi tiếng trên thị trường.
Khí hậu huyện Đại Từ được hình thành do đặc điểm khu vực tạo nên
bởi các cánh cung lớn Tây bắc và Việt bắc gần như đồng quy về tỉnh Thái
Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng. Dạng địa hình này tạo thuận lợi
11
cho sự xâm nhập khí lạnh từ phương Bắc vào sâu suốt lãnh thổ qua các huyện
miền núi của tỉnh vào khu vực huyện Đại Từ. Đồng thời cũng chịu ảnh hưởng
của gió mùa Đông Nam thổi tới. Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện

Ba, Vạn Thọ..; đất lầy chiếm 0,69%, phân bố rải rác trong các thung lũng
sông, tập trung ở các xã: Vạn Yên, Phú Lạc, Tiên Hội…; đất đá bọt chiếm
0,54% diện tích tập trung ở khu vực xã Phục Linh; đặc biệt là đất xám feralit
chiếm tỉ lệ lớn trong diện tích, được phân bố rộng khắp trên địa bàn huyện.
12
Thảm thực vật tự nhiên khá phong phú, rừng tự nhiên còn nhiều, vùng
đất trống đồi núi trọc chủ yếu là sim, mua, cây bụi. Ngoài ra, có rừng trồng
theo chương trình 135. Huyện Đại Từ, có điều kiện về khí hậu, đất đai và địa
hình phù hợp cho sự phát triển những nhóm cây lương thực, hoa màu, cây ăn
quả và cây công nghiệp lâu năm.
Cây lương thực chủ yếu ở huyện Đại Từ là cây lúa nước, thích hợp và
phát triển ở những vùng đất bằng trên các loại đất phù sa, đất mới phát triển,
đất glây trung tính ít chua. Sau lúa là cây ngô và khoai lang. Cây công nghiệp
chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng của tỉnh, gồm các loại cây: chè,
lạc, thuốc lá, đậu tương, mía… Trong đó, cây chè ở Đại Từ đã có từ rất lâu
đời. Thời Pháp thuộc đã có những đồn điền nhỏ trồng chè như đồi chè Phủ
Khiêm (Bình Thuận), đồi chè Dốc Hoán (Hà Thượng). Cây chè thực sự trở
thành hàng hóa ở Đại Từ vào năm 1959 khi nông trường Bắc Sơn được thành
lập. Từ đó nhân dân đã tích cực khai khẩn đất hoang và trồng được nhiều
vùng chè mới có tính kinh tế cao. Ngoài cây chè, còn có cây thực phẩm: bao
gồm rau xanh các loại, phát triển ở các xã phía nam của huyện, có giá trị kinh
tế phải nói đến: cà chua, khoai tây, cà rốt, xu hào… Điều kiện tự nhiên của
Đại Từ thích hợp với một số cây ăn quả: vải, nhãn, cam, quýt, táo, trám…
Đại Từ là khu vực có nhiều mỏ khoáng sản. Toàn huyện có 16/ 31 xã,
thị trấn xuất hiện mỏ và điểm quặng khoáng sản. Than có ở Yên Lãng, Hà
Thượng, Phục Linh, Na Mao, Minh Tiến, An Khánh, Cát Nê. Trên địa bàn
huyện có 3 mỏ than lớn là Làng Cẩm thuộc Hà Thượng (than mỡ, 1,6 triệu
tấn, chất lượng tốt, có thể khai thác 17- 20 năm). Mỏ than Núi Hồng thuộc
Yên Lãng, mỏ Bắc Làng Cẩm. Cả 3 mỏ than này đạt khối lượng khai thác
hàng năm đạt từ 100.000- 200.000 tấn. Ngoài ra còn có vùng thiếc Hà

và cả vùng đồng bằng với dộ dốc dưới 8
o
. Diện tích đất đồi núi chiếm
tới 80% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện. Đất ở huyện Đại Từ được chia
làm nhiều loại đất khác nhau, phân bố không đồng đều trên toàn huyện. Mặt
khác, trữ lượng khoáng sản trong tài nguyên đất cao (than, thiếc, chì, kẽm…).
Do đó, Đại Từ có nhiều tiềm năng phát triển cả về nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp và công nghiệp khai thác khoáng sản. Cùng với đó, các hoạt động
thương mại, dịch vụ, tài chính tín dụng cũng được phát triển mạnh.
Về sản xuất nông- lâm nghiệp: diện tích gieo trồng và sản lượng các loại
cây lương thực: lúa, ngô, cây màu… đều tăng lên hàng năm. Năm 2004 cây
lúa có diện tích gieo cấy đạt 12.108,6 ha, sản lượng đạt 62.413 tấn. Cây ngô,
14
gieo trồng được 1.737,5 ha, năng suất bình quân 40 tạ/ ha, sản lượng đạt
6.961,2 ha. Cây chè được coi là thế mạnh của huyện. Chương trình trồng mới,
thâm canh và cải tạo chè tiếp tục được quan tâm thực hiện có hiệu quả. Các đề
án, chương trình phát triển: kinh tế hợp tác xã, thủy sản, kinh tế trang trại
được triển khai và thực hiện ở các xã, thị trấn trong toàn huyện.
Về sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản đã có
nhiều chuyển biến tích cực. Hoạt động sản xuất kinh doanh được duy trì hiệu
quả. Các ngành nghề được tạo điều kiện để phát triển trên cơ sở khai thác tốt
các tiềm năng theo lợi thế từng vùng, tăng cường đầu tư về vốn, công nghệ và
thị trường. Trong đó, tập trung phát triển một số ngành trọng tâm: khai thác,
sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến chè, gia công cơ khí…
Công tác xây dựng cơ bản đã đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết
yếu và ưu tiên những vùng khó khăn. Phát huy hiệu quả các nguồn vốn đầu tư
từ các chương trình, dự án hỗ trợ… những năm qua kết cấu hạ tầng cơ sở tiếp
tục được củng cố. Đặc biệt quan tâm đến đầu tư xây dựng ở các lĩnh vực như:
giáo dục, y tế, văn hoá xã hội… Năm 2003, đã xây dựng được 30 phòng học,
3 nhà hội đồng với tổng số tiền đầu tư lên 2,1 tỷ đồng.

nhiều dân tộc khác nhau như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Thái, Mường, Dao, Sán
Chỉ, Sán Dìu… trong đó đông nhất vẫn là dân tộc Kinh. “Người Kinh ở đây
rất lâu đời. Từ thế kỷ 15 đã có dòng họ Lưu ở Vân Yên, về sau do việc khai
thác đồn điền và hầm mỏ của người Pháp và người bản xứ, do chiến tranh, do
nhiều yếu tố khác và gần đây nhất do cuộc vận động xây dựng vùng kinh tế
mới, cư dân ở hầu hết các tỉnh phía Bắc đã có mặt ở Đại Từ để cung nhân dân
địa phương xây dựng quê hương. Đông nhất là đồng bào có quê gốc ở Thái
Bình và Hà Nam Ninh” [15, 16]. Bên cạnh người Kinh chiếm số lượng lớn thì
dân tộc Tày cũng có dân số đông và vai trò trong đời sống kinh tế- xã hội
“Người Tày đã có mặt lâu đời ở các xã phía Bắc. Hiện nay, nhiều xã ở phía
Nam tuy không có dân tộc Tày cư trú lâu đời nhưng vẫn tìm thấy tên làng
như: làng Ruồng (Luông), Nà Ca, La Thông… chứng tỏ đã có một thời xa xưa
đồng bào Tày đã có mặt ở đây” [15,17].
Như vậy, với nhiều dân tộc cùng sinh sống, hoạt động sản xuất kinh tế-
văn hóa, huyện Đại Từ có nhiều nét văn hoá pha trộn và có sự đặc sắc riêng
làm cho phong tục, tập quán, văn nghệ dân gian rất phong phú và đa dạng.
16
Huyện đã có nhiều chính sách phù hợp để giúp đời sống nhân dân được nâng
cao, mở mang dân trí tại các vùng sâu, vùng xa, thực hiện chương trình: điện,
đường, trường, trạm… “Hiện nay, ở Đại Từ xã nào cũng có trạm xá, có y sĩ
phụ trách. Toàn huyện có 1 bệnh viện 100 giường, với 67 cán bộ trong đó có
16 bác sĩ và dược sĩ cao cấp. Để phục vụ nhân dân ở xa, huyện đã đặt hai trạm
khám bệnh đa khoa ở Phú Thịnh và Ký Phú với 5 cán bộ, có 1 bác sĩ. Đội vệ
sinh phòng dịch của huyện có 22 cán bộ, trong đó có 3 bác sĩ. Trạm sinh đẻ có
kế hoạch có 8 cán bộ, trong đó có 1 bác sĩ. Ngoài ra, còn có các trạm xá, bệnh
xá của các cơ quan xí nghiệp đóng trên địa bàn. Tất cả tạo nên một mạng lưới
y tế đủ sức chăm lo sức khoẻ cho nhân dân trong huyện” [16, 18- 19].
Trên cơ sở phát triển kinh tế, Đảng bộ huyện Đại Từ động viên toàn
Đảng, toàn nhân dân trong huyện chăm lo phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo
dục, y tế và giả quyết các vấn đề xã hội. Đảng bộ coi đây là những nhiệm vụ

hoá trong buôn bán thương mại giữa các địa phương với nhau. Ngoài ra,
huyện còn có nhiều tiềm năng và thế mạnh về đất, khoáng sản… Hiện nay,
với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng sự đầu tư của chính quyền, Đại Từ
đã có những sự thay đổi vượt bậc, các dự án xây dựng, tuyến đường giao
thông được mở rộng và nâng cấp khiến cho mọi hoạt động kinh tế của nhân
dân trong huyện trở nên thuận lợi. Với tinh thần đấu tranh, bảo vệ và xây
dựng quê hương, cho đến ngày nay huyện Đại Từ đang phát huy truyền thống
đó để viết thêm những trang sử mới vẻ vang, phát triển để trở thành một địa
phương phát triển. Trong công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá của toàn
tỉnh Thái Nguyên, Đại Từ đã góp một phần quan trọng trong sự thay đổi
chung, những bước tiến đó giúp huyện ngày càng khẳng định vị trí của mình
và sánh vai cùng với các địa phương khác trong tỉnh.
18
1.3. Tình hình ruộng đất và phương thức khai thác, sử dụng ruộng
đất ở Đại Từ trước năm 1997
1.3.1 Tình hình sở hữu ruộng đất.
Dưới thời kỳ Pháp thuộc, ruộng đất thuộc sở hữu của thực dân và phong
kiến. Người nông dân chiếm một số lượng lớn trong thành phần xã hội nhưng
tư liệu sản xuất lại bị chiếm đoạt và trở thành người làm thuê ngay trên đồng
ruộng của mình. Tại Đại Từ, ngoài số lớn ruộng đất của địa chủ người Việt thì
những phần đất phì nhiêu khác tập trung trong tay địa chủ người Pháp, chúng
tìm mọi biện pháp cướp để cướp đoạt diện tích ruộng đất ít ỏi của nhân dân để
lập các đồn điền trồng lúa, cây công nghiệp, chăn nuôi… với quy mô lớn “Chỉ
tính riêng đồn điền của Gari (Garigue) ở Tân Thái đã chiếm 363 mẫu trong
tổng số 950 mẫu toàn xã; đồn điền của Olét (xã Vạn Thọ) chiếm 200 mẫu.
Nhà thờ Yên Hùng (Hùng Sơn) cũng chiếm trên 190 mẫu ruộng tốt” [15, 130],
“Riêng ở Đại Từ có đồn điền của Đờ- mông- pơ- da sau chuyển cho Gari, đồn
điền của Đờ- mông- pơ- da có tới 3694 ha ở nhiều địa điểm trong tỉnh, riêng ở
Đại Từ đã chiếm cả một vùng rộng lớn ở xã Bình Thuận và Vạn Thọ bây giờ.
Đồn điền Bản Ngoại của Phạm Bá Nhu chiếm 125 ha” [15, 27]. Với mọi thủ

m
.7
s
.09T
2 An Mỹ 129.3.08 1.3.13 68.8.13 199.6.04
3 Trần Phú 2.8.04 137.3.10 66.9.09 207.1.08
4 Độc Lập 1.3.08 62.5.05 51.5.02 115.4.00
5 Tân Thái 110.2.03 555.14 115.8.02
6 Hùng Sơn 25.9.01 103.2.11 103.7.07 232.9.04
Tổng cộng 173.4.06 504.2.05 385.0.01 1035.6.12
Năm 1955, một hình thức sở hữu mới đã xuất hiện ở Đại Từ, đó là từ
các tổ đổi công tại huyện đã xây dựng thành 3 hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp, đây là những hợp tác xã đầu tiên của toàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
đó. Vào giai đoạn đầu các hợp tác xã gặp những khó khăn nhất định do trình
độ quản lý yếu kém, việc phân phối ruộng đất, nông cụ sản xuất và sản phẩm
còn nhiều bất cập, xuất hiện tình trạng tham ô, thiếu công bằng. Bên cạnh đó
là hiện tượng dong công, phóng điểm đã làm những hoạt động của hợp tác xã
ngày càng suy yếu, nhiều gia đình xã viên đã xin ra khỏi hợp tác xã hoặc xin
ruộng hợp tác xã cấy không hết vụ chiêm hay đi vỡ hoang để làm ăn riêng.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách
khuyến khích phát triển kinh tế, mở rộng sản xuất nhằm mang lại cuộc sống
mới cho người nông dân. Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988) về đổi mới
kinh tế nông nghiệp - gọi là “Khoán 10” là một điển hình. Theo như tình hình
tại huyện Đại Từ thì người nông dân được hưởng từ 60 – 70% sản phẩm do
mình làm ra, điều này đã khuyến khích, động viên nông dân phấn khởi, yên
tâm sản xuất và gắn bó với đồng ruộng. Lúc này, sở hữu ruộng đất nằm trong
tay người nông dân là chủ yếu với cơ chế khoán để sử dụng từ 10- 15 năm,
cùng với đó là trâu bò, nông cụ sản xuất.
20
Như vậy, với chính sách của Đảng trong giai đoạn mới nhân dân huyện

13 vạn nhân dân các dân tộc trong huyện. Với hơn 11 ngàn hecta của 2 vụ lúa
mỗi năm, năm 1986 Đại Từ đạt tổng sản lượng lương thực 32.181 tấn. Đến
năm 1988, toàn huyện đã thu được 36.262,9 tấn (tăng hơn 4000 tấn so với
năm 1987). Cơ chế khoán mới được mở ra đã khơi dậy bầu không khí dân chủ
trong cuộc sống của nhân dân ở các dân tộc Đại Từ. Cũng như trồng trọt, do
có cơ chế khuyến khích sản xuất nên ngành chăn nuôi của huyện cũng có
bước phát triển khá. Đàn trâu bò từ 17.286 con (năm 1986), tăng lên 21.302
con (năm 1988), đàn lợn đạt 37.388 con (bằng 97.2% kế hoạch).
Trong 10 năm (1986- 1995) thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đảng
lần VI đề ra, được sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Bắc Thái qua các Nghị quyết Đại hội
Tỉnh Đảng bộ khoá 4, 5, 6, Đại Từ đã đạt được nhiều thành tựu trên các mặt
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Với tiềm năng thế mạnh kinh tế ngày càng
được khai thác, mở mang và phát triển, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
sản xuất nông nghiệp của huyện đã có những bước tiến đáng kể. Từ một huyện
miền núi, ít có cánh đồng màu mỡ, thường xuyên bị lũ lụt, hạn hán, Đại Từ đã
phấn đấu giành thắng lợi trên cả 3 mặt: diện tích, năng suất, sản lượng năm sau
cao hơn năm trước.
Với cơ chế “Khoán 10”, ở Đại Từ, hộ gia đình được xác định là đơn vị kinh
tế tự chủ, quá trình sản xuất (bao gồm cả lương thực và cây công nghiệp) được khép
kín trong từng hộ. Nông dân đã có thu nhập cao do hộ được hưởng toàn bộ thành
quả lao động, chi phí gián tiếp sản xuất thấp. Cùng với đổi mới cơ chế quản lý, từ
năm 1991 trở đi, Đảng bộ Đại Từ coi trọng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới giàu mạnh,
văn minh. Trong sản xuất lương thực, cùng với việc đưa 80% giống lúa mới cao sản
vào đồng ruộng; diện tích ngô đông ở huyện Đại Từ cũng tăng lên, chiếm 25% diện
tích gieo trồng; năng suất đạt bình quân 21 tạ ha, có xã (Cù Vân) đạt 30 tạ ha.
Nhằm xây dựng nông thôn trong thời kỳ đổi mới, Đại Từ đặc biệt quan tâm
đến kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội như: thuỷ lợi, điện, chuyển giao tiến bộ vào trồng
trọt và chăn nuôi. Trong thời gian từ năm 1990- 1995, Đại Từ xây dựng các hồ chứa
nước Khuôn Nanh (Yên Lãng), Phú Xuyên, Phú Cường, Phú Thịnh, đập ngăn nước

của huyện Đại Từ đã thu được những thắng lợi thực sự to lớn.
23
* Tiểu kết chương 1
Trải qua một thời gian dài, từ khi chịu ách thống trị của thực dân Pháp
đến khi đất nước giành độc lập, tình hình đất nước đã có nhiều thay đổi nhất là
trong lĩnh vực ruộng đất, nông nghiệp. Đại Từ là một huyện miền núi thuộc
tỉnh Thái Nguyên, đất đai chủ yếu phát triển nông – lâm nghiệp cũng đã có sự
chuyển biến trong tình hình ruộng đất và phương thức sử dụng. Khi đất nước
đổi mới, ruộng đất được đến với người nông dân thì nông thôn Việt Nam mới
có bộ mặt khởi sắc, mọi người hăng hái sản xuất trên đồng đất của mình, áp
dụng những biện pháp khoa học hiện đại nhất để tăng năng suất, mở rộng diện
tích… Với những kết quả tích cực mà huyện đã đạt được trong giai đoạn
1986- 1995: những mục tiêu trong nông- lâm- công nghiệp gặt hái thành tựu
lớn; các chính sách kinh tế- xã hội được thực hiện và quan tâm; đời sống nhân
dân cải thiện và ổn định. Chính quyền Đại Từ đã nhận thấy những khả năng
phát triển và có nhiều chính sách khuyến khích sản xuất trong huyện, đặc biệt
là trong giai đoạn 1997- 2008. Đây được coi như bước đi đúng đắn trong việc
đầu tư, phát triển nông nghiệp - nông thôn tại địa phương.
24
CHƯƠNG 2. ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ (THÁI NGUYÊN) LÃNH
ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT (TỪ 1997 ĐẾN 2008)
2.1. Một số chủ trương của Đảng, Nhà nước và các chính sách Pháp
luật về ruộng đất.
Ngay từ rất sớm, dưới các triều đại phong kiến đã ý thức được tầm quan
trọng của việc sản xuất nông nghiệp và bảo vệ nguồn tư liệu đất đai quý giá. Dựa
trên những tiền định này, bất cứ một Nhà nước phong kiến nào được hình thành
cũng đều chú ý và đầu tư cho vấn đề phát triển nông nghiệp. Sau Cách mạng tháng
Tám 1945, ngay khi giành được chính quyền, không chỉ xây dựng - củng cố chính
trị, an ninh quốc phòng trong cả nước mà Đảng và Chính phủ đã có những chính
sách phù hợp phát triển nông nghiệp- nông thôn, nhiều sắc lệnh được ban hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status