Đảng bộ huyện lương sơn (hòa bình) lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014 - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐOÀN THÙY DUNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN (HÒA BÌNH)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐOÀN THÙY DUNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN (HÒA BÌNH)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2014

Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Viết Nghĩa

Hà Nội - 2016


Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 79
Chƣơng 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ........................... 81
3.1. Một số nhận xét ................................................................................... 81
3.1.1. Về ưu điểm ..................................................................................... 81
3.1.2. Về hạn chế ...................................................................................... 84
3.2. Một số kinh nghiệm ............................................................................ 86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 96


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Trần Viết Nghĩa.
Các tài liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo
tính khách quan, khoa học, mọi kết quả đều dựa trên quá trình khảo sát và thực
địa trên thực tế. Các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tác giả

Đoàn Thùy Dung


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đồng bào các dân tộc đóng góp vai trò cực kỳ quan trọng trong tiền trình
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Không thể có những
thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Tống, Mông, Nguyên, Minh,
Thanh thời phong kiến, hay chống Pháp, Nhật và Mỹ trong thời đại Hồ Chí
Minh, nếu không có sự đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc Việt Nam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt

nghiệm cần thiết nhằm thực hiện có hiệu quả hơn nữa chính sách dân tộc
trong các giai đoạn tiếp sau. Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn đó, tôi
quyết định chọn vấn đề “Đảng bộ huyện Lương Sơn (Hòa Bình) lãnh đạo
thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014” làm đề tài luận
văn cao học, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian gần đây đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công
tác dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng của các nhà nghiên
cứu. Mục đích của các nghiên cứu này trước hết là làm rõ các chủ trương,
đường lối của Đảng về chính sách dân tộc, sự lãnh đạo thực hiện hiệu quả các
chính sách dân tộc đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và an ninh
quốc phòng, đóng góp ý kiến giúp Đảng hoàn thiện chính sách dân tộc.
Những nghiên cứu về chính sách dân tộc được chia thành các nhóm như sau:
- Nhóm thứ nhất: Những nghiên cứu về chính sách của Đảng và nhà
nước về chính sách dân tộc của Đảng. Một số công trình đặc sắc phải kể tới
như:

2


+ “Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam hiện
nay (2015, Nxb Chính trị quốc gia) của tác giả Nguyễn Lâm Thành, cuốn sách
đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
thức đối với vùng dân tộc thiểu số phía Bắc hiện nay trên cơ sở các khung lý
thuyết mới về chính sách công. Cuốn sách đã hệ thống hóa những nội dung lý
luận về chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số; phân tích, đánh giá các
chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số phía Bắc gắn với
thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn đề quản lý nhà nước có liên quan; chỉ
ra những khó khăn, hạn chế, bất cập hiện nay của chính sách và xác định
những vấn đề cần giải quyết; đề xuất giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện

cơ sở; giải pháp đối với chính sách môi trường.
Những cuốn sách này đã đi sâu vào hệ thống, phân tích, đánh giá các
chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước. Qua đó cung cấp các tư liệu quan
trọng cho các cấp, các ngành cũng như người dân nắm bắt và nhận thức đúng
được chủ trương và đường lối của Đảng trong việc ban hành và thực hiện
chính sách dân tộc. Nhằm giúp cho những chính sách đi sâu, đi rộng hơn vào
cuộc sống, có ý nghĩa to lớn trong việc xây dưng khối đại đoàn kết dân tộc.
- Nhóm thứ hai: Những nghiên cứu về tình hình phát triển trên các mặt
của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đáng chú ý là:
+ Bộ sách “Các dân tộc ở Việt Nam” (2015, Nxb Chính trị quốc gia),
gồm 4 tập của Viện dân tộc học. Bộ sách góp phần tổng kết tình hình nghiên
cứu; xem xét sự phát triển và biến đổi về kinh tế - xã hội của các tộc người;
xác định những vấn đề đã, đang và sẽ đặt ra về phát triển đối với các tộc
người ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
của đất nước. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức vấn đề tộc người ở nước
ta trong khoảng gần 30 năm; tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách
4


dân tộc của Việt Nam trong giai đoạn mới. Bộ sách còn một số hạn chế do
nguồn tài liệu chủ yếu là thứ cấp, có những dân tộc có nhiều tài liệu nghiên
cứu và có những dân tộc có ít tài liệu nghiên cứu hơn. Các nhận định, đánh
giá về sự phát triển, biến đổi kinh tế - xã hội cũng như vấn đề đặt ra trong
phát triển của một số tộc người có thể chỉ mang ý nghĩa gợi mở.
+ “Xây dựng lực lượng nòng cốt làm công tác dân vận trong cộng đồng các
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” (2014, Nxb Chính trị quốc gia) của
tác giả Nguyễn Thế Tư. Cuốn sách đã làm rõ được cơ sở lý luận và nêu bật
vai trò của xây dựng lực lượng nòng cốt làm công tác dân vận trong cộng
đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đi sâu phân tích thực trạng cũng như
giải pháp nhằm xây dựng lực lượng nòng cốt công tác dân vận tại đây.

giúp họ giảm nghèo và làm giàu; tôn vinh, động viên và khích lệ những tập
thể, cá nhân, những việc làm tốt, điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất
và bảo vệ Tổ quốc; phát huy những phong tục tập quán và truyền thống văn
hóa phong phú, đa dạng và tốt đẹp của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đặc
biệt, hỗ trợ người uy tín hiểu và nhận thức đầy đủ các chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên mọi mặt; đồng thời các bài
viết có tác dụng đấu tranh chống lại sự chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc;
vận động đồng bào hiểu và loại bỏ các tập tục lạc hậu và mê tín.
+ “Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu
cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2012, Nxb Chính trị
quốc gia) của tác giả Nguyễn Đăng Thành. Cuốn sách trình bày những luận
cứ lý thuyết và thực tiễn nhằm để nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn vấn đề
phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, tác giả còn đề
xuất hệ quan điểm, giải pháp toàn diện cho hoạch định chính sách phát triển
nguồn nhân lực dân tộc thiểu số phục vụ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước nói chung, tại các vùng dân tộc thiểu số nói riêng.
6


Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu cụ thể về đời sống vật chất
cũng như tinh thần của từng dân tộc cụ thể. Những cuốn sách này đã đưa ra
cái nhìn tổng quan về vị trí địa lý, đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội, sự phân
bố của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thông qua đó cũng chỉ ra được
những tồn tại và nguyên nhân của những khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần
của các dân tộc. Các tác giả đã nêu ra được một số giải pháp có ý nghĩa thực
tiễn. Đây là một trong những nguồn tư liệu quý nhằm giúp các nhà lãnh đạo
hoạch định và có những bước thực hiện các chính sách dân tộc phù hợp với
từng vùng cụ thể.
- Nhóm thứ ba: Một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ có liên quan đến
vấn đề dân tộc.

thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình).
Ngoài ba nhóm tài liệu kể trên, còn phải kể đến các bài đăng trên các tạp
chí lịch sử uy tín như tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tạp chí Nghiên cứu Tôn
giáo, tạp chí Dân tộc học.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập
một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
huyện Lương Sơn (Hòa Bình) về chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Lương Sơn (Hòa Bình)
đối với việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng trong những năm 2005 –
2014.

8


- Tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn (Hòa Bình).
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa tư liệu về việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ
huyện Lương Sơn.
- Làm rõ được điều kiện tự nhiên, xã hội của huyện Lương Sơn.
- Làm rõ chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.
- Làm rõ việc lãnh đạo thực hiện những nội dung cơ bản trong chính
sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tƣợng nghiên cứu:
- Sự lãnh đạo thực hiện dân tộc của Đảng bộ huyện Lương Sơn (Hòa
Bình) trong giai đoạn 2005 – 2014.
* Phạm vi nghiên cứu

là ở vùng dân tộc thiểu số cho phù hợp.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt động nghiên cứu
và giảng dạy về chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:

10


Chương 1. Đảng bộ huyện Lương Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
trong giai đoạn 2005 – 2014.
Chương 2: Đảng bộ huyện Lương Sơn đẩy mạnh thực hiện chính sách dân tộc
trong giai đoạn 2010 – 2014.
Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm.

11


Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2010
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Lƣơng Sơn
Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hòa Bình
và miền Tây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km, địa giới liền
kề với khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn (Hà Nội),
Đại học quốc gia, làng văn hóa các dân tộc. Huyện nằm ở tọa độ địa lí: từ
105025’14” – 105041’25” Kinh độ Đông; 20036’30” – 20057’22”.
Huyện Lương Sơn nằm ở phần phía Nam của dãy núi Ba Vì (còn gọi là

trồng, vật nuôi, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp. Hệ thống sông
suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sinh hoạt
và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi
trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác:
Tài nguyên nước: Nước ngầm ở Lương Sơn có trữ lượng khá lớn, chất
lượng nước phần lớn chưa bị ô nhiễm, lại được phân bố khắp các vùng trên
địa bàn huyện.
Tài nguyên nước mặt gồm nước sông, suối và nước mưa, phân bố không
đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc huyện và một số hồ đập nhỏ phân bố
rải rác toàn huyện.

13


Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.733,19 ha chiếm
49,68% diện tích tự nhiên. Rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong
phú với nhiều loại gỗ quý. Nhưng do tác động của con người, rừng đã mất đi
quá nhiều và thay thế chúng là rừng thứ sinh.
Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện. Nhờ quan tâm phát
triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng đã góp phần đem lại thu nhập
cao cho người dân và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu
nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực.
Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ
lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim.
Tài nguyên du lịch: Với vị trí thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội và địa hình
xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp với hệ thống sông, suối,
hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng… đã tạo cảnh quan thiên nhiên
và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ
dưỡng, sân golf.

đồng bào dân tộc Mường. Ngày 17/4/1959 căn cứ vào địa lý, tình hình cư dân
và nhu cầu về xây dựng kinh tế, quốc phòng, thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị
quyết số 153 chia huyện Lương Sơn thành hai huyện Lương Sơn và Kim Bôi.
Ngày 3/1/1971 huyện đã bàn giao 8 xã (Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng,
Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh, Cao Dương, Thanh Nông) có diện tích
4.559,44 ha và dân số 14.852 người về huyện Kim Bôi, giải thể xã Hùng Sơn
và Thị trấn nông trường Cửu Long để thành lập thị trấn Lương Sơn theo quyết
đinh của Hội đồng Bộ trưởng (Quyết định số 71/BT, số 13/BT), từ đây địa
giới hành chính của huyện được ổn định gồm 17 xã và 1 thị trấn [1].

15


Căn cứ Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH ngày 29/5/2008 của Quốc hội về
việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên
quan. Từ ngày 1/8/2008 huyện Lương Sơn bàn giao 4 xã thuộc vùng Bắc
(Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân) về thành phố Hà Nội, huyện
còn lại 13 xã và 1 thị trấn.
Thực hiện Nghị quyết số 31/NQ-Cp ngày 14/7/2009 của Chính phủ về
việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện và thành phố Hòa Bình, tỉnh
Hòa Bình, huyện Lương Sơn được nhận thêm 7 xã của huyện Kim Bôi gồm
các xã: Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp
Thanh, Cao Dương và chuyển xã Yên Quang về huyện Kỳ Sơn [64].
Diện tích, dân số và giáo dục
Huyện Lương Sơn có diện tích tự nhiên là 37.707,79 ha. Dân số toàn
huyện là trên 97 nghìn người (số liệu năm 2014). Từ xa xưa Lương Sơn là
địa bàn sinh sống của người Mường. Người Mường có mặt khắp các xã,
chiếm trên 65% dân số toàn huyện. Người Kinh sống xen lẫn với người
Mường và chiếm khoảng 30% dân số toàn huyện, còn lại là người Dao và các
dân tộc khác chiểm tỷ lệ nhỏ [32, tr 2].

của Hòa Bình trong chiến lược phát triển Thủ đô.
Với những lợi thế về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và dân số, sự quan
tâm chỉ đạo của tỉnh Hòa Bình, trong những năm qua huyện Lương Sơn đã
thu hút được 156 dự án trong và ngoài nước đến đầu tư vào địa bàn, tạo nhiều
việc làm cho người lao động, góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho địa
phương và thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển mạnh theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, từng bước chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng tích cực nâng cao tỷ trọng Công nghiệp - Tiểu thủ
công nghiệp, tiếp đến là Thương mại - Du lịch - Dịch vụ và giảm dần tỷ trọng
17


Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tiến tới xây dựng huyện Lương Sơn sớm trở thành
hạt nhân vùng động lực kinh tế của tỉnh Hòa Bình [32, tr 7].
Lương Sơn được Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh chọn là
huyện “động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh” và nhận được sự
quan tâm đặc biệt của tỉnh. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình, Đảng bộ và nhân dân huyện Lương Sơn đã vượt qua nhiều thử
thách khó khăn, từng bước xây dựng huyện thành một trung tâm kinh tế chính trị - văn hóa – xã hội của tỉnh. Đồng thời, phát huy lợi thế về vị trí địa
lý, đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa – xã hội giữa miền ngược và miền xuôi.
Trong nhiều năm qua, các xã trong huyện đã duy trì nền kinh tế đa dạng với
nhiều ngành nghề: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, du lịch – dịch vụ. Nhờ đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền vận động,
người dân Lương Sơn đã nhanh chóng bắt kịp với sự phát triển của nền kinh
tế thị trường.
1.2 Vài nét về chính sách dân tộc của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
* Chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Việt Nam
Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc. Trong
tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc luôn luôn sát cánh bên nhau
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và

đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm
chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất
và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại
chỗ. Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những
biểu hiện của dân tộc hẹp hòi” [22, tr 35].

19


Từ những định hướng quan trọng đó, bước vào thập niên 90 của thế kỉ
XX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã vạch ra những nội dung cơ bản về
chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc và làm rõ thêm:
“Đoàn kết, bình đẳng giúp đỡ lần nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc
sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi
dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Có chính sách phát
triển kinh tế hàng hóa ở vùng dân tộc thiểu số cho phù hợp với điều kiện và
đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai
thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách
đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục
tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người [23, tr 77].
Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến rất phức tạp, nhận thức đúng
đắn, về vị trí, vai trò và trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc trong toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân đang là một yêu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách, nghị
quyết Đại hội VIII (1996) và Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng (2001) tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của công tác
dân tộc trong thời kỳ mời là : “Thực hiện bình đẳng, đoàn kết tương trợ các
dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây
dựng luật dân tộc [24, tr 125]. “…xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội,
phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status