ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------
PHẠM THỊ HUYỀN
ĐẢNG BỘ HUYỆN TỪ LIÊM (HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------
PHẠM THỊ HUYỀN
ĐẢNG BỘ HUYỆN TỪ LIÊM (HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hữu Luận
Hội đồng nhân dân
HĐND
Lao động – Thương binh và xã hội
LĐ – TB&XH
Ủy ban nhân dân
UBND
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hữu Luận.
Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác, đảm bảo
tính khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Thị Huyền
2.2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Từ Liêm đẩy mạnh
thực hiện chính sách xã hội từ năm 2006 đến năm 2010 ................... 62
Chƣơng 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ĐÚC RÚT TỪ QUÁ TRÌNH
ĐẢNG BỘ HUYỆN TỪ LIÊM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI (2001 – 2010) ...................................................................................... 88
3.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ huyện Từ Liêm lãnh đạo thực hiện chính
sách xã hội từ năm 2001 đến năm 2010 ......................................................... 88
3.1.1 Nhận xét về thành tựu ........................................................................ 88
3.1.2. Nhận xét về hạn chế .......................................................................... 94
3.2 Một số kinh nghiệm .................................................................................... 97
3.2.1 Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của chính sách xã hội trong tổng
thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương ...................... 97
3.2.2 Phát huy và kết hợp mọi nguồn lực trong thực hiện chính sách xã hội
...................................................................................................................... 100
3.2.3 Thường xuyên quan tâm công tác tổ chức và xây dựng đội ngũ cán
bộ trực tiếp thực hiện chính sách xã hội có tâm huyết ở địa bàn nhằm đáp
ứng tốt yêu cầu công tác xã hội ................................................................ 104
3.2.4. Thực hiện các chính sách xã hội phải đồng bộ, phối hợp chặt chẽ với
nhau và phải trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện và đặc điểm
của địa phương ........................................................................................... 107
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 112
PHỤ LỤC ...............................................................................................................
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành chính sách chung của
một chính đảng, nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến đời
những thuận lợi cơ bản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Huyện,
mặt khác cũng đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết nhất là trên lĩnh
vực xã hội như: lao động và việc làm, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ
nạn xã hội, ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Để tiến cùng với
sự phát triển của đất nước và đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội,
huyện Từ Liêm đã nhận thức rõ việc thực hiện tốt CSXH là một trong
những điểm mấu chốt, góp phần bảo đảm cho sự phát triển bền vững của
nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển và giữ vững ổn định chính trị - xã
hội. Việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện CSXH không chỉ là nhiệm vụ lâu dài
xuyên suốt mà còn là nhiệm vụ cần kíp đòi hỏi các cơ quan, ban ngành cần
quan tâm giải quyết.
Trước yêu cầu thực hiện CSXH hiện nay, việc nghiên cứu sự lãnh
đạo của Đảng bộ Huyện Từ Liêm về thực hiện CSXH, từ đó rút ra những
kinh nghiệm góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn của Huyện đang đặt
ra là vấn đề cần thiết.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “ Đảng bộ Huyện Từ Liêm
(Hà Nội) lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 2001 đến năm
2010” để làm luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
CSXH và thực hiện CSXH là khách thể nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học. Cho tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về CSXH dưới
các góc độ và cách tiếp cận khác nhau.
2
- Nhóm thứ nhất: nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về
CSXH nói chung và quan điểm của Hồ Chí Minh về CSXH nói riêng, tiêu
biểu là các công trình: Hồ Chí Minh – Về chính sách xã hội của Trung tâm
nghiệp; Xã hội học và Chính sách xã hội của PGS, TS Bùi Đình Thanh
(chủ biên), Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2004. Nội dung cuốn
sách trình bày những quan điểm lý luận và phương pháp luận về xã hội
học, nhân học, chiến lược xã hội, những phương pháp vận dụng lý luận vào
thực tiễn hoạch định CSXH ở nước ta.
Các ấn phẩm trên đã thể hiện những vấn đề lý luận cơ bản về CSXH;
về vị trí, vai trò của CSXH và mối quan hệ giữa CSXH với phát triển kinh
tế - xã hội, ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh; về luận cứ và giải pháp
nhằm đổi mới CSXH trong thời kỳ đổi mới.
- Nhóm thứ hai: nhóm các nghiên cứu về chủ trương, CSXH của
Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình triển khai thực hiện, với các công
trình tiêu biểu như: Chính sách xã hội và đổi mới cơ chế quản lý việc thực
hiện của PGS, PTS Trần Đình Hoan (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1996. Nội dung cuốn sách, từ việc đánh giá khái quát thực trạng một
số vấn đề xã hội và CSXH, tác giả nêu lên quan điểm cơ bản của một số
CSXH đã được thể chế hóa và từng bước đưa vào cuộc sống như: phát triển
nguồn nhân lực và giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm xã
hội, trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công với nước; Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới (1986 –
2011), PGS.TS Đinh Xuân Lý, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2011. Nội
dung cuốn sách nêu lên cơ sở hình thành chủ trương, CSXH của Đảng
trong thời kỳ đổi mới và kết quả thực hiện từ năm 1986 đến nay, đánh giá
và một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng về việc thực hiện CSXH; Xóa
đói giảm nghèo ở Từ Liêm – Hà Nội, Hoàng Văn Cường, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội, 2004. Nội dung cuốn sách tìm hiểu về quá trình vươn lên
4
xóa bỏ đói nghèo, xây dựng nông thôn mới ở huyện Từ Liêm – Hà Nội,
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Từ Liêm nhận thức, vận dụng chủ
trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam; của Đảng bộ Thành phố
Hà Nội trong lãnh đạo thực hiện CSXH ở địa bàn từ năm 2001 đến năm
2010, từ đó nêu lên những nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm có ý
nghĩa tham khảo cho việc lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở huyện Từ
Liêm hiện nay.
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ huyện Từ Liêm
nhận thức, vận dụng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam và những chủ trương CSXH của Đảng bộ Thành phố Hà Nội vào lãnh
đạo thực hiện CSXH ở địa phương từ năm 2001 đến năm 2010.
- Phân tích chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện các CSXH của Đảng
bộ huyện Từ Liêm từ năm 2001 đến năm 2010.
- Nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ
Huyện lãnh đạo thực hiện các CSXH từ năm 2001 đến năm 2010.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Từ Liêm lãnh đạo thực hiện
chính sách xã hội từ năm 2001 đến năm 2010
* Phạm vi nghiên cứu đề tài:
- Về nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo (bao gồm chủ trương, chính
sách và chỉ đạo tổ chức thực hiện) của Đảng bộ huyện Từ Liêm đối với
việc thực hiện các CSXH, tập trung vào bốn chính sách cơ bản là: lao động
và việc làm, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, ưu đãi với
người có công với cách mạng.
6
Chƣơng 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN
TỪ LIÊM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM
2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Yêu cầu khách quan thực hiện chính sách xã hội ở huyện Từ
Liêm từ năm 2001 đến năm 2005
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa của huyện Từ
Liêm
*Địa – tự nhiên
Huyện Từ Liêm nằm ở cửa ngõ phía Tây của Thủ đô, trong tọa độ
1060 kinh đông và 21010 vĩ độ bắc. Phía Bắc giáp huyện Đông Anh (bên tả
ngạn sông Hồng); phía Đông giáp quận Cầu Giấy, Tây Hồ; phía Tây giáp
huyện Hoài Đức, Đan Phượng; phía Nam giáp quận Thanh Xuân, thị xã Hà
Đông. Từ thị trấn Cầu Diễn – trung tâm của Từ Liêm, theo đường Thăng
Long (đường vành đai 3 của Hà Nội) ngược Đông Anh sẽ tới sân bay quốc
tế Nội Bài. Từ Cầu Diễn xuôi phía Nam là thị xã Hà Đông. Từ Cầu Diễn
ngược lên phía Tây theo đường 32 là thị xã Sơn Tây. Ở vị trí đó, Từ Liêm
có khả năng giao lưu rộng rãi và thuận tiện trên tất cả các mặt kinh tế, văn
hóa và khoa học kỹ thuật, là tiền đề cho việc đẩy mạnh và mở rộng phát
triển cả kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên là một vùng đang đô thị hóa
nhanh và tiếp giáp với các quận Cầu Giấy và Tây Hồ, Từ Liêm cũng rất dễ
trở thành một tụ điểm của những tệ nạn xã hội vốn hay tập trung khu trú ở
những vùng giáp ranh giữa nội và ngoại thành.
Về đất đai, Từ Liêm là vùng đất khá bằng phẳng và màu mỡ. Vùng
đất trong đê sông Hồng vốn là một vùng đất trũng, song nhờ công sức cải
tạo của nhân dân đã nâng cao, cải tạo đất cho phù hợp để chuyển sang
trồng các loại hoa màu có giá trị kinh tế cao. Vùng đất ngoài đê được bồi tụ
Theo Nghị định số 69/CP ngày 28-10-1995 của Thủ tướng Chính phủ.
2 3
, Theo Nghị định số 74 – NĐ/CP ngày 22-11-1996 của Thủ tướng Chính phủ
9
Mễ Trì, Mỹ Đình, Phú Diễn, Minh Khai; huyện có diện tích đất tự nhiên là
trên 75 km2 với trên 50 vạn dân.
Từ khi thành lập đến nay, huyện Từ Liêm đã trải qua nhiều lần thay
đổi địa giới hành chính. Sự thay đổi này gây không ít khó khăn cho Huyện
trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Từ Liêm đã mất đi một phần lớn diện
tích lãnh thổ thuộc khu vực đô thị là địa bàn công nghiệp, thương mại, dịch
vụ - những hoạt động sôi động nhất. Hơn nữa trong giai đoạn mới, quá
trình nhập cư của một bộ phận dân cư từ nơi khác đến làm cho tính chất
dân cư của huyện ngày càng đa dạng và phức tạp hơn, nhiều vấn đề cấp
thiết được đặt ra như: xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tệ nạn xã
hội…đòi hỏi huyện phải có những chủ trương, biện pháp cơ bản để giải
quyết kịp thời góp phần tạo nên sự phát triển ổn định trên địa bàn Huyện.
* Về kinh tế
Từ Liêm là vùng đất có truyền thống sản xuất, cung cấp nhiều nông
sản thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp cao cấp cho Thủ đô Hà Nội.
Với đôi bàn tay khéo léo và sáng tạo, người dân Từ Liêm đã tạo ra những
sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng. Nói đến rau, quả
không thể không nhắc đến: su hào, bắp cải, cà chua, dưa hấu Tây Tựu, Phú
Diễn; ngoài cam Canh (Xuân Phương) đã được ghi vào sử sách nghìn xưa,
nay có thêm bưởi Phú Diễn, Minh Khai, hồng xiêm Xuân Đỉnh làm giàu
Liêm vẫn chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu kinh tế của một vùng nông nghiệp,
các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển còn manh mún và
chưa đủ mạnh. Việc định hướng sản xuất theo yêu cầu thị trường cũng như
khả năng đầu tư công nghệ, máy móc thiết bị và đào tạo nâng cao trình độ
cho đội ngũ lao động để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao còn rất
hạn chế. Một số làng nghề chất lượng sản phẩm không cao, chủng loại
11
chưa phong phú nên bị cạnh tranh gay gắt có sản phẩm mất thị trường. Cơ
sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
* Dân số và lao động
Theo “Báo cáo tổng kết kết quả thực hiện Tổng điều tra Dân số và
nhà ở năm 2009 huyện Từ Liêm” của BCĐ tổng điều tra dân số và nhà ở
của UBND huyện, tính đến ngày 1/4/2009 tổng số dân thường trú trên địa
bàn huyện là 371.247 người, tăng gấp 1,9 lần so với năm 1999. Như vậy,
bình quân mỗi năm tăng 18.506 người (gần bằng số dân bình quân chung
của 1 xã), chủ yếu là do tăng dân số cơ học. Từ Liêm là địa bàn đang trong
quá trình đô thị hóa mạnh với quy mô dân số lớn nhất Hà Nội, dân số tăng
nhanh với mật độ chung toàn huyện là 4.929 người/km2 (cao hơn mật độ
chung của toàn Thành phố 2,6 lần), tập trung đông ở các xã, thị trấn có điều
kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội phát triển cao. Số dân đang trong độ tuổi
lao động chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân số, chiếm 71,8%.
Lực lượng lao động của Từ Liêm tuy đông về số lượng nhưng về
chất lượng còn rất hạn chế. Lực lượng lao động chủ yếu tập trung trong
nông nghiệp. Đây thực sự là một khó khăn rất lớn khi quá trình đô thị hóa
diễn ra với tốc độ cao. Diện tích đất nông nghiệp bị mất đi nhanh chóng,
trong khi phần đông lao động nông nghiệp không thể có đủ trình độ để
thích ứng với các ngành nghề, các khu vực hoạt động kinh tế xã hội mới
hiểu một cách chung nhất là: CSXH của Đảng và Nhà nước ta là hệ thống
các quan điểm, chủ trương, biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề xã hội,
đem lại lợi ích cho mọi giai cấp và tầng lớp trong xã hội, phù hợp với đạo
lý nhân văn của dân tộc, nhằm góp phần thực hiện thành công các mục tiêu
kinh tế, chính trị - xã hội. Để hiểu thực chất về CSXH phải đặt nó ở điều
kiện hoàn cảnh cụ thể trong đời sống xã hội con người Việt Nam của mỗi
vùng, miền, dân tộc khác nhau.
13
Vận dụng chủ trương đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986
cùng với cả nước, huyện Từ Liêm đã bắt tay vào tiến hành công cuộc đổi
mới toàn diện. Công cuộc đổi mới không chỉ được tiến hành trên lĩnh vực
kinh tế mà các vấn đề về xã hội cũng được Đảng bộ và nhân dân Từ Liêm
rất quan tâm thực hiện. Từ năm 1986 đến năm 2000 Huyện ủy Từ Liêm đã
có nhiều chủ trương, biện pháp trên tinh thần quán triệt và cụ thể hóa
những chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước cũng như
của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về thực hiện CSXH ở địa phương. Song
song với việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang xây
dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, một số mặt CSXH
được quan tâm và trở thành việc làm thường xuyên, gắn chặt hoạt động
lãnh đạo của các tổ chức đảng, chỉ đạo của chính quyền cấp huyện đến các
xã, thị trấn.
Huyện ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chương
trình 25(05/7/1993) của Thành ủy, cụ thể hóa thành Chương trình 03 “Giải
quyết lao động, việc làm và một số vấn đề xã hội giai đoạn 1996 – 2000”
(Chương trình 03 ban hành ngày 12/11/1996), đề ra yêu cầu tập trung giải
quyết những vấn đề lớn gây nhiều bức xúc như: giải quyết việc làm, phòng
chống ngăn chặn và khắc phục các tệ nạn xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực
thực hiện chính sách giảm nghèo chưa có hướng đi lâu dài, chưa tạo được
sự chuyển biến tích cực trong sự phát triển của đời sống nhân dân. Sự phân
hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng. Đời sống một bộ phận đối tượng
được hưởng chế độ chính sách còn khó khăn. Các biện pháp thực hiện thiếu
đồng bộ, nhận thức của cán bộ và nhân dân chưa đầy đủ, nguy cơ tái nghèo
rất cao.
Phong trào chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người mất sức lao
động, người bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở
Việt Nam và những trường hợp học sinh, sinh viên là con thương binh,
15
bệnh binh, gia đình liệt sỹ được chăm sóc rất tích cực. Huyện quan tâm chỉ
đạo thực hiện Pháp lệnh Người có công, phong trào đền ơn đáp nghĩa, thu
hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, duy trì phụng dưỡng các “Bà
mẹ Việt Nam anh hùng”. Con em các gia đình chính sách được tạo điều
kiện và ưu tiên học nghề, sắp xếp bố trí việc làm. Bên cạnh những kết quả
đạt được, công tác ưu đãi người có công còn có những hạn chế như việc
ban hành các Thông tư, hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người có
công còn chưa đồng bộ và kịp thời, gây khó khăn cho cơ sở trong công tác
giải quyết chế độ đối với người có công.
Công tác phòng chống tệ nạn xã hội được đẩy mạnh, đặc biệt là
phòng chống HIV/AIDS được tuyên truyền sâu rộng trong toàn dân. Các
cấp, các ngành, các đoàn thể thường xuyên phối hợp tuyên truyền, giáo
dục, đấu tranh phá các ổ nhóm buôn bán, sử dụng ma túy, các tụ điểm mại
dâm. Năm 1998, Huyện chủ trương chữa trị nhằm tái cộng đồng cho các đối
tượng nghiện ma túy, là đơn vị đầu tiên được chọn tổ chức thí điểm cai nghiện
cắt cơn tại trạm y tế xã, thực hiện có hiệu quả. Tuy nhiên, công tác hỗ trợ tạo
việc làm cho người nghiện sau cai ở cộng đồng chưa được chính quyền và các
trường hòa bình đã tạo điều kiện cho Đảng và Nhà nước có điều kiện chăm
lo thực hiện các CSXH thường xuyên hơn. Nhiều cơ chế chính sách đã ban
hành đi vào cuộc sống, tạo môi trường và động lực phát triển cho kinh tế và
thực hiện các CSXH. Tuy nhiên những yếu kém vốn có của nền kinh tế,
những thiên tai lớn liên tiếp, những diễn biến phức tạp của tình hình thế
giới và khu vực đặc biệt là những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
- kinh tế diễn ra ở khu vực Đông Nam Á, châu Á những năm 1997 – 2000
ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội.
Thủ đô Hà Nội sau 15 năm đổi mới (1986 – 2001) cũng đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, sự ổn định chính trị tiếp tục được củng cố, nền
kinh tế cả nước có bước phát triển mới, tiềm lực kinh tế và kết cấu hạ tầng
17
của Thành phố được tăng cường đáng kể, sự quan tâm lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước, kinh nghiệm lãnh đạo quản lý của Đảng bộ Thành phố được
nâng lên tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt CSXH. Tuy nhiên Hà Nội
cũng đứng trước những khó khăn, thách thức mới như: so với Thủ đô nhiều
nước trong khu vực, Hà Nội vẫn là một thủ đô nghèo; hạ tầng kinh tế - xã
hội còn thấp; trình độ quản lý Nhà nước còn nhiều mặt hạn chế so với yêu
cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nhiều vấn đề xã hội bức xúc
và một số tệ nạn chậm được khắc phục.
Những khó khăn và thuận lợi trên sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
đến cả nước nói chung và huyện Từ Liêm nói riêng trong công tác CSXH.
Do vậy, bước sang giai đoạn mới, những yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra
đối với Đảng bộ huyện Từ Liêm trong công tác CSXH là:
Thứ nhất, cần tận dụng thời cơ thuận lợi, vượt qua những khó khăn
thách thức góp phần phấn đấu thực hiện thắng lợi CSXH của Đảng, của
Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong những năm 2001-2005. Theo quy hoạch
mạng còn chưa xứng đáng và có nhiều bất cập; nhiều gia đình người có
công vẫn ở tình trạng nghèo, nhiều thương binh, bệnh binh chưa kiếm được
việc làm phù hợp với tình trạng thương tật và sức khỏe của họ.
Từ thực trạng trên, đặt ra yêu cầu bức bách cho Đảng bộ huyện Từ
Liêm – một huyện ở địa bàn có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát
triển thủ đô cần phải phát huy những thành tựu đã đạt được trong lãnh đạo
thực hiện CSXH, khắc phục những mặt hạn chế, tồn tại như giải quyết để
không còn hộ đói, giảm hộ nghèo; tạo việc làm cho người lao động. Thực
hiện các biện pháp giúp đỡ các gia đình chính sách, giúp họ từng bước cải
thiện và nâng cao đời sống.
19