ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM VĂN ĐƢƠNG
ĐẢNG BỘ QUẬN HOÀNG MAI (HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2016
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM VĂN ĐƢƠNG
ĐẢNG BỘ QUẬN HOÀNG MAI (HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2014
Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Viết Nghĩa
tôi trong quá trình sưu tầm và hệ thống tư liệu cần thiết cho luận văn.
Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực, song trình độ có hạn, luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được ý kiến của quý thầy
cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Văn Đương
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ QUẬN
HOÀNG MAI VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 2004
ĐẾN NĂM 2010 ............................................................................................... 9
1.1. Đặc điểm quận Hoàng Mai và yêu cầu khách quan thực hiện
CSXH ở quận Hoàng Mai từ năm 2004 đến năm 2010 ............................ 9
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa- xã hội quận Hoàng Mai ........ 9
1.1.2. Thực trạng thực hiện CSXH trên địa bàn và yêu cầu khách quan về
thực hiện CSXH của quận Hoàng Mai ..................................................... 14
1.2. Đảng bộ quận Hoàng Mai quán triệt và vận dụng CSXH của Đảng
và thành phố Hà Nội vào chỉ đạo thực hiện CSXH ở địa phƣơng từ
năm 2004 đến năm 2010 ............................................................................ 19
1.2.1. Những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về CSXH
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ............................................................... 19
1.2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện CSXH của Đảng bộ quận
Hoàng Mai từ năm 2004 đến năm 2010 ................................................... 30
BẢN CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CSXH
: Chính sách xã hội
HĐND
: Hội đồng nhân dân
MTTQ
: Mặt trận Tổ quốc
UBND
: Uỷ ban nhân dân
5
6
MỞ ĐẦU
góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong Quận. Đạt
được những thành tựu kể trên ngoài việc Đảng bộ quận Hoàng Mai tập trung
chỉ đạo phát triển trên tất cả các lĩnh vực thì Đảng bộ, cán bộ, nhân dân trong
Quận cũng hết sức coi trọng việc thực hiện các chính sách xã hội. Đảng bộ
quận luôn quan tâm tạo điều kiện gắn chính sách xã hội với các chính sách
chung ở địa phương. Từ những việc làm đó, Đảng bộ quận Hoàng Mai luôn là
đơn vị đi đầu trong việc thực hiện các chính sách xã hội của thành phố Hà Nội
trong những năm gần đây.
Hoàng Mai là một quận mới, có tốc độ đô thị hóa nhanh, nằm ở cửa
ngõ phía Đông Nam thủ đô Hà Nội, là điểm qua lại, điểm trung chuyển của
nhiều phương tiện giao thông, vận tải, hàng hóa và con người ra vào trung
tâm thủ đô nên Hoàng Mai có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã
hội. Cùng với đó, cũng đặt ra nhiền vấn đề cần quan tâm giải quyết, nhất là
trên lĩnh vực xã hội như: chính sách lao động và việc làm, chính sách ưu đãi
người có công với cách mạng, công tác phòng chống tệ nạn xã hội, chính sách
giảm nghèo. Để cùng bước tiến với sự phát triển của đất nước và hoàn thành
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà thành phố Hà Nội và quận Hoàng
Mai đề ra, Đảng bộ Hoàng Mai luôn nhận thức rõ việc thực hiện tốt chính
sách xã hội là một trong những điểm trọng tâm góp phần hoàn thành mục tiêu
và đảm bảo cho sự phát triển bền vững của kinh tế địa phương cũng như kinh
tế của thành phố, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Nhận thức
được vai trò và tầm quan trọng của chính sách xã hội, Đảng bộ quận Hoàng
Mai xác định thực hiện CSXH không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà là nhiệm
vụ lâu dài xuyên suốt, là nhiệm vụ cần kíp mang tính cấp thiết trong giai đoạn
hiện nay – giai đoạn mà thủ đô Hà Nội cũng như đất nước đang phát triển
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
2
biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Nội dung cuốn sách đề
cập đến khái niệm “con người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ
Chí Minh về CSXH; Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam do
các tác giả Bùi Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Đỗ Nhật Tân (chủ
biên). Nội dung cuốn sách làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của
CSXH ở nông thôn, phân tích nguyên nhân, thành tựu và thiếu sót, đưa ra các
quan điểm và giải pháp đối với các CSXH chủ yếu như vấn đề việc làm, vấn
đề phân hóa giàu nghèo và công bằng xã hội, vấn đề đảm bảo an sinh xã hội,
dân số; Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp của Phạm Xuân Nam,
nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Nội dung cuốn sách nêu lên
một số vấn đề lý luận và phương pháp luận về CSXH, mối quan hệ của CSXH
với sự chuyển đổi cơ cấu xã hội trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
một số giải pháp và CSXH đối với các vấn đề về dân số, lao động và việc
làm; Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90 của tác
giả Bùi Thế Cường, nhà xuất bản Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002. Cuốn
sách đề cập một số khía cạnh cơ bản của CSXH và công tác xã hội, những
nghiên cứu trường hợp người có tuổi và hệ thống an sinh xã hội, lương, biên
chế và phúc lợi xã hội doanh nghiệp; Xã hội học và Chính sách xã hội của
Bùi Đình Thanh (chủ biên), Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2004.
Nội dung cuốn sách trình bày những quan điểm lý luận và phương pháp luận
về xã hội học, nhân học, chiến lược xã hội, những phương pháp vận dụng lý
luận và thực tiễn hoạch định CSXH ở nước ta.
Nhóm các ấn phẩm trên đã thể hiện những vấn đề lý luận cơ bản về
CSXH của Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình triển khai thực hiện, với các
công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Chính sách xã hội và cơ chế quản lý việc
thực hiện của Trần Đình Hoan (chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1996. Nội dung cuốn sách, từ việc đánh giá khái quát thực trạng một số
vấn đề xã hội và CSXH, tác giả nêu lên quan điểm cơ bản của một số CSXH
4
5
chính sách xã hội từ năm 2004 đến năm 2014. Vì thế, đề tài này là một vấn
đề mới, không trùng lặp với các công trình nêu trên.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ quá trình Đảng bộ quận Hoàng Mai nhận thức, vận dụng chủ
trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam; của Đảng bộ thành phố Hà
Nội trong lãnh đạo thực hiện CSXH ở địa bàn từ năm 2004 đến năm 2014.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ quận Hoàng Mai
nhận thức, vận dụng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
và những chủ trương CSXH của Đảng bộ thành phố Hà Nội vào chỉ đạo thực
hiện CSXH ở địa phương từ năm 2004 đến năm 2014.
- Phân tích chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện CSXH của Đảng bộ
quận Hoàng Mai từ năm 2004 đến năm 2014.
- Nhận xét và đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ
quận Hoàng Mai lãnh đạo thực hiện các CSXH từ năm 2004 đến 2014.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ quận Hoàng Mai chỉ đạo thực hiện chính
sách xã hội từ năm 2004 đến năm 2014.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo (gồm chủ trương, chính sách và
sự chỉ đạo thực hiện) của Đảng bộ quận Hoàng Mai đối với việc thực hiện các
CSXH, tập trung vào bốn chính sách cơ bản là: lao động và việc làm; giảm
nghèo; phòng chống tệ nạn xã hội và ưu đãi người có công với cách mạn.
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong thời gian từ 2004 đến
năm 2014.
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ quận Hoàng Mai về
thực hiện chính sách xã hội từ năm 2004 đến năm 2010.
Chương 2: Đảng bộ quận Hoàng Mai lãnh đạo thực hiện chính sách xã
hội từ năm 2010 đến năm 2014.
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ quận
Hoàng Mai lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 2004 đến năm 2014.
8
Chƣơng 1:
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
QUẬN HOÀNG MAI VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2010
1.1. Đặc điểm quận Hoàng Mai và yêu cầu khách quan thực hiện
CSXH ở quận Hoàng Mai từ năm 2004 đến năm 2010
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa- xã hội quận Hoàng Mai
Địa – tự nhiên
Vùng Hoàng Mai có tên Nôm là Kẻ Mơ và tên chữ là Cổ Mai, vì Mai
là tiếng Hán của Mơ, do trước kia, nơi đây người dân sinh sống chủ yếu
bằng nghề trồng cây mai. Lại có rất nhiều các giống mai được trồng nên sau
này có các địa danh như: Tương Mai, Thanh Mai, Hồng Mai, Bạch Mai,
Hoàng Mai...
Theo quyết định số 132/2003/ND-CP ngày 6 tháng 11 năm 2003 của
Thủ tướng Chính phủ, Hoàng Mai trở thành một quận nội thành của thành
phố Hà Nội, là một vùng đất nằm ở phía đông Nam thành phố Hà Nội: phía
Bắc giáp quận Thanh Xuân, Hai Bà Trưng, phía Tây và Nam giáp huyện
Thanh Trì, phía Đông giáp sông Hồng - quận Long Biên. Trải rộng theo chiểu
chính của quận Hoàng Mai gồm 14 phường: Hoàng Liệt, Yên Sở, Vĩnh Hưng,
Định Công, Đại Kim, Thịnh Liệt, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú, Mai Động,
Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát và Hoàng Văn Thụ. Tổng diện tích tự nhiên
của quận Hoàng Mai tương đối rộng lớn lên đến 40,32 km2 với trên 363 nghìn
người [8, tr 27].
Khi mới thành lập quận Hoàng Mai với đa số người dân địa phương
đều sản xuất nông nghiệp hoặc có thành phần xuất thân từ nông nghiệp nên
quá trình hoạt động của bộ máy lãnh đạo những ngày đầu thành lập quận cũng
hết sức khó khăn. Hoàng Mai lại là cửa ngõ thủ đô Hà Nội, lại là quận mới
10
nên quá trình nhập cư của một bộ phận dân cư từ nơi khác đến, làm cho tính
chất cư dân trên địa bàn Quận ngày càng đa dạng và phức tạp, nhiều vấn đề
như: lao động, giải quyết việc làm; chính sách ưu đãi người có công với cách
mạng, phòng chống tệ nạn xã hội; chính sách giảm nghèo, đòi hỏi quận phải
có những chủ trương, giải pháp kịp thời đảm bảo cho sự phát triển bền vững
trên địa bàn quận.
Về kinh tế
Hoàng Mai trước đây là vùng đất có truyền thống sản xuất nông
nghiệp, cung cấp nhiều nông phẩm chất lượng cao cho vùng nội thành Hà
Nội. Với nhiều làng nghề ẩm thực như: làng nghề bánh cuốn Thanh Trì
(phường Thanh Trì), rượu Hoàng Mai, làng bún Tứ Kỳ, bún ốc Pháp Vân
(phường Hoàng Liệt), đậu phụ Mơ (phường Mai Động) và các làng nghề
trồng hoa, rau sạch; phường Yên Sở có lợi thế diện tích mặt nước rộng lớn
phát triển làng cá Yên Sở.
Với những nghề truyền thống đó, có thể nói Hoàng Mai là địa phương
có truyền thống sản xuất nông nghiệp. Từ cuối năm 2003 Hoàng Mai trở
thành một quận nội thành của thành phố Hà Nội nên có điều kiện thuận lợi để
Dân số tuy đông nhưng chất lượng lao động chưa cao do tư duy, nhận
thức của nền sản xuất nông nghiệp để lại. Đây là những khó khăn trong quá
trình chỉ đạo các tầng lớp thực hiện những chủ trương của Quận về đô thị hóa,
giải phóng mặt bằng… Tốc độ đô thị hóa trên địa bàn Hoàng Mai đang diễn
ra mạnh mẽ và nhanh chóng, diện tích đất nông nghiệp ngày một thu hẹp sẽ
kéo theo các vấn đề liên quan đến lao động việc làm và tệ nạn xã hội gia tăng.
Truyền thống văn hóa
Hoàng Mai là vùng đất có lịch sử lâu đời gắn bó với Thăng Long – Hà
Nội, có nhiều cư dân tứ xứ về làm ăn, sinh sống qua nhiều triều đại. Quận
Hoàng Mai ngày nay, có nhiều làng nghề ẩm thực với các món ăn ngon nổi
12
tiếng đất Hà Thành, như làng nghề bánh cuốn Thanh Trì, rượu Hoàng Mai,
bún Tứ Kỳ, bún ốc Pháp Vân. Các phường Hoàng Liệt, Vĩnh Hưng, Lĩnh
Nam có nghề trồng hoa, trồng rau sạch; làng cá Yên Sở v.v…Danh nhân văn
hóa thế giới Nguyễn Trãi đã viết trong sách Dư địa chí: Hoàng Mai có rượu
tiến vua. Rượu làng Mơ ngon nổi tiếng trong vùng, “ Rượu làng Mơ/ Cờ Mộ
Trạch” hay “Rượu làng Mơ/ Thơ Kẻ Lủ” [29, tr 2]. Hoàng Mai còn có nhiều
nghề truyền thống: nghề làm quạt ở làng Lủ, nghề dát bạc ở làng Giáp Lục,
nghề kim hoàn ở Định Công. Tại Định Công hiện có đền thờ ba anh em họ
Trần là Tổ của nghề kim hoàn Việt Nam.
Quận Hoàng Mai cũng có nhiều di tích lịch sử văn hóa quan trọng
không chỉ với Thăng Long – Hà Nội, mà còn đối với cả nước. Ở làng Mai
Động có đình thờ Tam Trinh, vị tướng, nhà giáo và còn truyền dạy nghề đấu
vật cho thanh niên địa phương. Vào những năm 40-43 tướng Tam Trinh và
nghĩa quân đã cùng Hai Bà Trưng đánh đuổi tướng giặc đô hộ Tô Định tàn
bạo. Ở vùng quanh đầm Đại Từ, cả 7 làng (thuộc phường Đại Kim, Hoàng
Liệt) đều có đền thờ Bỏ Ninh Vương, học trò Thủy Thần của Chu Văn An,
phía Bắc. Nguyễn Trọng Hợp người xã Kim Lũ, huyện Hoàng Mai; đỗ Tiến
Sĩ khoa Ất Mão (1865), làm quan đến chức Tổng đốc Định An, Tổng đốc
Sơn-Hưng-Tuyên, Khâm sai Bắc kỳ, quyền Kinh Lược Sứ, thượng thư Bộ
Lại, Bộ binh, Hiệp biện Đại học sĩ, sung Cơ mật viện đại thần.
Các thế hệ cư dân Hoàng Mai đã cùng nhau sáng tạo, bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa, gìn giữ các di tích tiêu biểu với giá trị kiến trúc, văn
hóa độc đáo trên địa bàn. Trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ quận Hoàng
Mai luôn đánh giá đúng vai trò của các chính sách xã hội để đảm bảo tốt hơn
cho sự bảo tồn, tôn tạo và phát triểm văn hoá.
1.1.2. Thực trạng thực hiện CSXH trên địa bàn và yêu cầu khách
quan về thực hiện CSXH của quận Hoàng Mai
Thực trạng
Quan niệm về chính sách xã hội có nhiều cách hiểu và diễn tả khác
nhau, nhưng có thể hiểu một cách chung và khái quát nhất về CSXH như sau:
14
CSXH của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hệ thống các quan điểm, chủ
trương, biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, đem lại lợi ích cho các
giai cấp và tầng lớp trong xã hội, phù hợp với đạo lý nhân văn của dân tộc,
nhằm góp phần thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế - xã hội. Để hiểu
thực chất về CSXH phải đặt nó ở điều kiện thực tiễn cụ thể trong đời sống xã
hội ở mỗi vùng miền, dân tộc khác nhau.
Hoàng Mai là quận mới, được thành lập cuối năm 2013 và đi vào hoạt
động chính thức từ 1/1/2004. Trước đó địa bàn quận Hoàng Mai thuộc hai
đơn vị gồm 9 xã thuộc huyện Thanh Trì và 5 phường thuộc quận Hai Bà
Trưng. Là hai phần diện tích thuộc hai đơn vị hành chính khác nhau nên việc
chỉ đạo thực hiện công tác chính sách xã hội trên địa bàn Hoàng Mai trước khi
thành lập quận không có sự thống nhất, mà được chỉ đạo bởi hai Đảng bộ. Vì
thế, khi quận Hoàng Mai thành lập gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ
Sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng có vai trò nổi bật của khoa học,
công nghệ và kinh tế tri thức trên thế giới là một xu thế khách quan, lôi cuốn
ngày càng nhiều nước tham gia. Xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc
tế mở ra nhiều cơ hội thu hút đầu tư, mở rộng thị trường, nâng cao công nghệ,
thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo nhiều việc làm cho các quốc gia trong đó có
Việt Nam. Tuy nhiên, mặt trái của toàn cầu hóa cũng đặt ra những khó khăn
thách thức cho mỗi quốc gia dân tộc, đó là sự cạnh tranh thị trường kinh tế,
khoảng cách phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn. Bên cạnh đó, những biến
động nhanh chóng, khó lường của tình hình thế giới như suy thoái kinh tế,
chính trị, xung đột cục bộ và dịch bệnh, thiên tai đã ảnh hưởng không nhỏ đến
sự phát triển kinh tế cũng như thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội của đất
nước và mỗi địa phương.
Trong nước, sau gần 20 năm đổi mới (1986-2004) đã đạt được những
thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế xã hội phát triển, tình hình
chính trị ổn định, an ninh trật tự được đảm bảo. Những thành tựu đó đã tạo
điều kiện thuận lợi cho Đảng, nhà nước có điều kiện chăm lo thực hiện các
16
vấn đề về chính sách xã hội thường xuyên hơn. Nhiều cơ chế chính sách đã
được ban hành đi vào cuộc sống, tạo môi trường và động lực phát triển kinh tế
và thực hiện các chính sách xã hội. Tuy nhiên, những yếu kém của cách thức
quản lý và điều hành nền kinh tế, cùng với các vấn đề khách quan như: thiên
tai, địch họa liên tiếp xảy ra. Đặc biệt là những tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính – kinh tế diễn ra ở khu vực Đông Nam Á, châu Á những năm
1997-2000 đã ảnh hướng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Thủ đô Hà Nội, sau gần 20 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, vai trò của thủ đô Hà Nội tiếp tục được khẳng định. Nền kinh tế
cả nước có bước phát triển mới, tiềm lực kinh tế và kết cấu hạ tầng của thành
phố được tăng cường đáng kể, sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và nhà nước,