Vai trò lãnh đạo của đảng bộ huyện sìn hồ tỉnh lai châu trong thực hiện chính sách xã hội từ năm 1986 đến nay - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÒ THỊ AN

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÒ THỊ AN

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Xh2b

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Cao Thị Hạnh

SƠN LA, NĂM 2016




Nhà xuất bản

PGS.TS

Phó giáo sư tiến sĩ

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TS

Tiến sĩ

TW

Trung ương

UBND

Uỷ ban nhân dân

BHYT

Bảo hiểm y tế


Xóa đói giảm nghèo

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

KHHGĐ

kế hoạch hóa gia đình

BQLQ

Ban quản lý quỹ

DTNT

Dân tộc nội trú

GVCN

Giáo viên chủ nhiệm

ĐVTN

Đoàn viên thanh niên


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1

huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (1996-2006) .......................................................... 43
2.2.1. Công tác lãnh đạo ...................................................................................... 43
2.2.2. Kết quả thực hiện, nguyên nhân và hạn chế ............................................. 44
2.3. Quá trình lãnh đạo và kết quả thực hiện các chính sách xã hội của Đảng bộ
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu từ năm 2006 đến nay ............................................ 52
2.3.1. Công tác lãnh đạo ...................................................................................... 52
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 66
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI .............................................................................................................. 67
3.1. Một số bài học kinh nghiệm ......................................................................... 67
3.1.1. Thực hiện tốt việc quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước ....................................................................................... 67
3.1.2. Quan tâm đúng mức đến nông nghiệp ...................................................... 68
3.1.3. Thường xuyên củng cố, xây dựng, phát huy truyền thống đại đoàn kết dân
tộc, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng. .................... 68
3.1.4. Coi trọng công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đề cao
vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. .................................... 69
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Sìn Hồ tỉnh Lai Châu thực hiện chính sách xã hội.............................................. 69
3.2.1. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để cán bộ, đảng viên và
nhân dân các dân tộc ............................................................................................ 70
3.2.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng và đảng viên, tăng cường
hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền ...................................................... 72
3.2.3. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của của Ủy ban MTTQ và các
đoàn thể chính trị ................................................................................................. 74
3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý, điều hành thực hiện chính
sách xã hội ........................................................................................................... 76


tốt chính sách xã hội là một trong những bảo đảm quan trọng về quyền con
người ở nước ta. Bởi, quyền con người luôn gắn bó mật thiết với các quyền cơ
bản của dân tộc, với quyền công dân; phụ thuộc vào các điều kiện phát triển
kinh tế - xã hội, lịch sử, văn hóa, dân tộc. Đảng ta xác định: Chăm lo cho con
người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả mọi người; tôn trọng và thực
hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết tham gia.
1


Thực hiện chính sách xã hội chính là quá trình cụ thể hóa quyền con người đã
được ghi nhận và bảo vệ trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước cũng như
các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Thông qua chính sách xã hội mà quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ,
hoàn thiện hơn, góp phần tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”[17, tr 12]. Như vậy, việc nghiên cứu “chính sách xã hội” của Đảng và
Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Huyện Sìn Hồ, tuy là một thị trấn thuộc tỉnh Lai Châu nhưng hệ thống cơ
sở hạ tầng còn thấp, các thiết chế cho việc thực hiện các chính sách xã hội còn
chưa cao. Mặt bằng dân trí thấp, không đồng đều, đời sống kinh tế - xã hội còn
gặp nhiều khó khăn, với nhiều thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc thiểu số,
trong quá trình phát triển các dân tộc đã đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển,
sử dụng có hiệu quả các nguồn hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước phấn góp phần thực
hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu, lý giải một cách có hệ thống, đánh giá thực trạng
việc thực hiện chính sách xã hội, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực
hiện tốt chính sách xã hội, việc thực hiện các chính sách xã hội ở huyện Sìn Hồ
vừa có ý nghĩa lý luận và là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các chính sách xã hội và thực
tiễn triển khai tổ chức thực hiện các phong trào ở các cơ sở của Đảng bộ huyên

sung, hoàn thiện; đối tượng hưởng chính sách được mở rộng, mức hỗ trợ được
nâng lên; đầu tư của Nhà nước ngày càng tăng. Nhờ vậy, các lĩnh vực xã hội đã
đạt được những thành tựu quan trọng, nhất là tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo,
ưu đãi người có công, giáo dục đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn. Đời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo,
dân tộc ít người, người có hoàn cảnh khó khăn được cải thiện rõ rệt, góp phần
củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội.
Từ những định hướng của Đảng, hoạt động nghiên cứu, xây dựng các chính
sách xã hội diễn ra rộng khắp cả nước, ngày càng vào chiều sâu thu hút sự quan
tâm, chú ý của nhiều đọc giả khoa học với các công trình nghiên cứu tiêu biểu:
“Nguồn lực con người” của PGS, TS Phạm Ngọc Anh, “chính sách xã hội
trong nền kinh tế thị trường” của TS Nguyễn Đình Thành (7/2009), đã nêu lên
3


một số quan niệm về kinh tế thị trường, chính sách xã hội và sự can thiệp của
chính sách xã hội trong nền kinh tế thị trường.“Lồng ghép vấn đề an sinh xã hội
trong giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam” của
Trần Ngọc Anh (3/1014). Nêu lên một số quan điểm về an sinh xã hội trong
Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, những thành tựu đã đạt
được và lồng ghép vấn đề an sinh xã hội trong giảng dạy môn học.
Đặc biệt liên quan đến công tác xã hội có tác phẩm: “ Xã hội, chính sách xã
hội” (tháng 3/2016) của Báo giải phóng Sài Gòn, hỗ trợ các chính sách xã hội cho
nhân dân miền Trung. “Chính sách xã hội trong công tác xã hội”của Trần Đình
Tuấn (2010), thực hành công tác xã hội trong các lĩnh vực của chính sách xã hội.
“Những xu hướng ảnh ảnh hưởng đến chính sách xã hội trong cơ chế thị trường và
sự lựa chọn đúng đắn” của Vũ Ngọc Lân (05/2009), “ Ngân hàng chính sách xã
hội huyện Vân Đồn Đồng hành cùng hộ nghèo” của Hiểu Trân (5/2015), Ngân
hàng đã thực hiện các chính sách xã hội giúp người dân giảm nghèo.
Vấn đề chính sách xã hội cũng thu hút được nhiều tác giả chọn làm đề tài

- Làm sáng tỏ nội dung, bản chất cách mạng, khoa học về quan điểm, chủ
trương trong thực hiện chính sách xã hội của Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai
Châu từ năm 1986 đến nay.
- Góp phần tổng kết các kết quả thực hiện chính sách xã hội trên địa bàn
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về chính sách xã hội.
- Chủ trương, chính sách của Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu về
chính sách xã hội.
- Tổng kết thực trạng, những thành tựu và hạn chế, khó khăn trong quá
trình thực hiện các chính sách xã hội từ 1986 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp và bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu
quả vai trò lãnh đạo Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu thực hiện chính sách
xã hội trong giai đoạn tới.

5


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm hệ thống quan điểm, chủ
chương, chính sách xã hội của Đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sìn
Hồ, tỉnh Lai Châu và quá trình tổ chức thực hiện chính sách xã hội trên địa bàn
huyện từ năm 1986 đến nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
về các chính sách xã hội từ năm 1986 đến nay.
- Quá trình Đảng bộ huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu lãnh đạo thực hiện chính
sách xã hội trên địa bàn huyện từ năm 1986 đến nay.


7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẢNG BỘ HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU LÃNH
ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Quan niệm chung về chính sách, chính sách xã hội
Quan niệm về chính sách
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:
Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính
sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể
nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính
chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…
Quan niệm khác về chính sách: Chính sách là thuật ngữ được sử dụng
rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các
nghiên cứu cho thấy khái niệm chính sách được thể hiện khác nhau, ví dụ:
"Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất
định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra" hoặc
"Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính
phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội".
Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà
lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi
thẩm quyền của mình.
Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như:
Chính sách đối ngoại của Nhà nước: chủ trương, chính sách mang tính đối
ngoại của quốc gia;
Chính sách kinh tế: chính sách của nhà nước đối với phát triển các ngành
kinh tế;

Trước hết chính sách xã hội đó là một lĩnh vực tri thức XHH:
Nghiên cứu hệ thống các quá trình xã hội, mà trong xã hội quá trình đó
diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội.
Nó quyết định hoạt động sống của con người trong các quá trình đó (xét
theo khả năng tác động quản lý).
Chính sách xã hội là một sự hòa quyện giữa khoa học và thực tiễn.
9


Chính sách xã hội là một sự phân tích phức hợp.
Dự báo về các quan hệ các quá trình xã hội.
Sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm quản lý các
quá trình và quan hệ xã hội ấy.
Theo quan điểm của GS.Winkler (nguyên viện trưởng viện XHH Chính
sách xây dựng CHDC Đức cũ):
Chính sách xã hội là sự tổng hợp các biện pháp và phương pháp của Đảng
của giai cấp công nhân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các Liên hiệp công
đoàn của Đảng phái và các tổ chức chính trị khác nhằm tiếp tục các quan hệ xã
hội … Phục vụ những nhu cầu lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân
tập thể, trí thức và những người lao động khác [25, tr 73].
Theo quan điểm của Winker thì:
Chính sách xã hội thực chất là tổng hợp những phương pháp, biện pháp.
Chính sách xã hội đề cập đến sự phát triển các quan hệ xã hội.
Với tư cách là những quan hệ giữa những giai cấp, tầng lớp và nhóm xã
hội trong quá trình xích lại gần nhau.
Quan hệ giữa các quá trình xã hội giữa quan hệ chung nhất với quan hệ
đặc thù (quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội). Qua quá trình hoạt
động các mối quan hệ xã hội diễn ra không cô lập với các mối quan hệ kinh tế,
quan hệ chính trị quan hệ văn hóa…
Vì vậy chính sách xã hội và các chính sách khác nhau như chính sách kinh tế,

Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, tìm cách tác động vào
các hệ thống quan hệ xã hội (quan hệ các giai cấp, các tầng lớp xã hội, quan hệ
các nhóm xã hội khác nhau) tác động vào hoàn cảnh sống của con người và của
các nhóm xã hội, (bao gồm điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt) nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm và thiết lập được công bằng xã hội trong điều
kiện xã hội nhất định
Bản chất của chính sách xã hội:
Chính sách xã hội được hình thành từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và đã
được phát triển, biến đổi qua nhiều thời kỳ khác nhau trong lịch sử.
Ở mỗi quốc gia khác nhau, trong mỗi giai đoạn khác nhau, có những hình
thức và loại chính xã hội khác nhau, cũng như có những quan niệm và định
nghĩa khác nhau về chính sách xã hội. Ở nước ta, chính sách xã hội được hiểu là
11


hệ thống công cụ tác động vào con người, vào các tổ chức đoàn thể xã hội nhằm
điều hòa các hành vi, lợi ích của các nhóm xã hội, góp phần thực hiện công
bằng, bình đằng, tiến bộ xã hội, phát triển toàn diện con người, đảm bảo sự phát
triển bền vững.
Xuất phát từ quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực,
vừa là trung tâm của mọi sự quan tâm xã hội, vừa là chủ thể sang tạo mọi giá trị
vật chất và tinh thần cho xã hội, chính sách xã hội cần phải tác động một cách
toàn diện vào tất cả các mặt của đời sống con người, nhằm phát huy mạnh mẽ
nhân tố con người. Theo Mác: “Trong tính hiện thực của mình, bản chất con
người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”. Do đó, chính sách xã hội cần phải
tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư
tưởng, giáo dục nhằm phát triển cân đối, toàn diện cho mỗi cá nhân cũng như
toàn xã hội. Dù biểu hiện dưới nhiều hình thức văn bản, nội dung khác nhau,
song về bản chất, chính sách xã hội luôn hướng vào những hoạt động nhằm điều
hòa các mâu thuẫn, xung đột, giảm bớt các bất công, căng thẳng xã hội, góp

về dân số, gia đình, bảo vệ sức khoẻ, bảo hộ lao động, tổ chức nghỉ ngơi giải trí,
khắc phục các tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội.
Hai là, góp phần vào việc xây dựng nền tảng vững chắc xã hội với các
chính sách về nhà ở, bảo vệ môi trường sinh thái, sự phát triển văn hóa, giáo dục
khoa học, nghệ thuật...bảo đảm phát triển bền vững của xã hội.
Ba là, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước, tạo thêm nhiều việc
làm cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, đào tạo lại và đào tạo mới
người lao động để tiếp thu kỹ thuật, công nghệ hiện đại và không ngừng nâng
cao năng suất lao động.
Bốn là, tạo đều kiện cho xã hội ngày càng có nhiều khả năng và biết tiêu
thụ những sản phẩm vật chất, tinh thần một cách đúng đắn, tiết kiệm, phù hợp
với trình độ phát triển sức sản xuất của đất nước và những chuẩn mực đạo đức
pháp lý của chế độ xã hội mới.
Năm là, tạo lập, hình thành mô hình lối sống mới theo hướng phát triển
toàn diện của cá nhân kết hợp hài hoà với sự phát triển của công đồng trên cơ sở
kế thừa những giá trị truyền thống đẹp của dân tộc, đồng thời xây dựng những
giá trị mới phù hợp với bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại.
13


1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội.
Trước sự đổi mới của Đất nước, việc nghiên cứu và làm rõ hơn tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề chính sách xã hội là một trong những việc làm cần thiết
cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm giải đáp cho những vấn đề đời sống nhân
dân mà thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội hiện nay đang đặt ra.
Nhìn lại chặng đường Bác đã đi, việc Bác đã làm, ta thấy rằng ngay từ
thời kỳ đầu hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã đưa ra những ý tưởng xác lập
hệ thống phúc lợi xã hội quốc gia sau này. Ngay khi chiến tranh thế giới thứ
nhất kết thúc, Người đã thay mặt nhân dân ta gửi tới Hội nghị Véc-xây bản “Yêu
sách của nhân dân An Nam”, nhằm tố cáo chính sách cai trị của thực dân Pháp

việc lớn như xây dựng một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn
luôn quan tâm đến đời sống hằng ngày của nhân dân. Tức là, Đảng ta phải luôn
luôn nhớ rằng: “Điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta
hiện nay là nhằm cải thiện đời sống của nhân dân...”. Nhưng chủ trương phải
gắn liền với thực hành, vì đời sống rất cụ thể, mức sống rất cụ thể. Bằng chính
cuộc sống, mức sống của mình, nhân dân cảm nhận trực tiếp và chính xác lời nói
và việc làm của Đảng, Nhà nước có thật vì lợi ích của họ hay không.
Không chỉ phát động phong trào cứu trợ xã hội, Hồ Chí Minh còn tạo dựng
từng bước cả một hệ thống chính sách cứu trợ xã hội cụ thể, phù hợp đối với các
nhóm xã hội. Chẳng hạn đối với người già, người đau ốm, trẻ em, phụ nữ thai
sản, Người chỉ thị: “Về xã hội, thiết lập nhà dưỡng lão, nhà trẻ, mở nhiều nhà
thương, cứu tế những người thất nghiệp, cấm chỉ bán dâm, lập nhà hộ sinh”
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội trong trong điều kiện
hiện nay, Đảng ta đã xác định: Những vấn đề xã hội bao gồm các lĩnh vực liên
quan đến sự phát triển của con người và xã hội như: Dân số và nguồn nhân lực,
lao động và việc làm, thu nhập và mức sống, giáo dục và y tế, đạo đức và văn
hóa, những đảm bảo về an ninh và an toàn xã hội của đời sống cá nhân và cộng
đồng. Và điều này đã được cụ thể hóa trong nhận thức và hành động của Đảng ta
trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua. Từ việc xác định trình độ phát triển kinh tế
là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, những mục tiêu xã hội lại là
mục đích của các hoạt động kinh tế, phải làm tốt việc kết hợp hài hoà giữa tăng
trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội. Cụ thể là: Mục tiêu của chính sách xã
15


hội phải thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế để nhằm phát huy sức mạnh
của yếu tố con người và vì con người. Kết hợp hài hoà giữa kinh tế với phát
triển văn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống
vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và
tiền đề để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động

hết sức chăm nom đến đới sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ
có lỗi, nếu dân ốm Đảng và chính phủ có lỗi, nếu dân dốt Đảng và Chính phủ có
lỗi. Rõ ràng ở đây chính sách xã hội không còn là một sự ban ơn, càng không
phải là thủ đoạn chính trị mị dân, mà là trách nhiệm hàng đầu của Đảng cầm
quyền và Nhà nước trong chế độ mới.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, trong những thập niên qua, Đảng và
Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách xã hội quan trọng hướng tới quần
chúng nhân dân lao động. Những chính sách xã hội đó đã có tác dụng khơi dậy
và phát huy những nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân, làm nên
nhiều kỳ tích anh hùng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.
1.1.3. Quan điểm của Đảng về chính sách xã hội
Tại Đại hội VI, lần đầu tiên Đảng nâng các vấn đề xã hội lên tầm chính
sách xã hội, đặt rõ tầm quan trọng của chính sách xã hội đối với chính sách kinh
tế và chính sách ở các lĩnh vực khác. Đại hội cho rằng, trình độ phát triển kinh tế
là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội nhưng những mục tiêu xã
hội là mục đích của các hoạt động kinh tế. Ngay trong khuôn khổ các hoạt
động kinh tế, chính sách xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm…Do đó, cần có các chính sách xã hội cơ bản, lâu dài, phù
hợp với yêu cầu và khả năng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ.
Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế
ở chỗ đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người. Phát triển kinh tế là
cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, đồng thời thực hiện tốt các
chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Trong giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (tại
Đại hội VIII của Đảng) chủ trương, hệ thống chính sách xã hội phải được hoạch
định theo những quan điểm sau đây: [17, tr 217]
17



18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status