Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở tỉnh thái nguyên từ năm 1945 đến năm 1957 - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------

NGUYỄN THỊ YẾN

ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH
THÁI NGUYÊNTỪ NĂM 1945 ĐẾN
NĂM 1957

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI, 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------

NGUYỄN THỊ YẾN

ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH
THÁI NGUYÊNTỪ NĂM 1945 ĐẾN
NĂM 1957
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TH.S Trần Thị Thu Hà

tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1957” là một công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Những số liệu và kết quả trong đề tài là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa
từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác.

Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Yến


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu..................................... 4
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu ......................................................... 5
5. Đóng góp của đề tài ............................................................................................. 6
6. Bố cục của khóa luận ........................................................................................... 6
Chương 1. TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ................................................................ 7
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THÁI NGUYÊN ....................................................... 7
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ...................................................................................... 7
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ......................................................................... 10
1.2. TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC CÁCH
MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ....................................................................... 11
1.2.1. Quá trình chiếm đoạt ruộng đất của thực dân Pháp và sự thành lập
các đồn điền ........................................................................................................ 11
1.2.2 Chiếm hữu ruộng đất của địa chủ người Việt ........................................... 14
1.2.3. Chiếm hữu ruộng đất của tầng lớp phú nông ........................................... 16
1.2.4. Sở hữu ruộng đất của các tầng lớp nông dân ........................................... 16
1.2.5. Ruộng đất công của làng xã .................................................................................. 17

3.1.2. Hạn chế ..................................................................................................... 54
3.2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐẢNG RÚT RA TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ
NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1957 ................................................................................ 60
3.2.1. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề ruộng đất, mối quan hệ
giữa cách mạng ruộng đất và cách mạng giải phóng dân tộc, sáng tạo, độc
lập, tự chủ về đường lối ...................................................................................... 60


3.2.2. Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, giữ đúng nguyên tắc
của Đảng khi giải quyết vấn đề ruộng đất .......................................................... 62
3.2.3. Thực sự tin tưởng và tôn trọng vai trò lãnh đạo của chi bộ Đảng và
chính quyền cơ sở khi giải quyết vấn đề ruộng đất, nông dân, nông thôn ......... 63
3.2.4. Đánh giá đúng tình hình ruộng đất và giai cấp ở từng địa phương để
đưa ra chính sách ruộng đất đúng đắn, phù hợp phải đảm bảo sự ổn định
về tình hình chính trị, xã hội ở nông thôn .......................................................... 63
3.2.5. Thực hiện chính sách ruộng đất phải tuân theo pháp luật, phải bảo
vệ những nhân tố phát triển sản xuất, tôn trọng quyền dân chủ của nhân
dân ...................................................................................................................... 64
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 69
PHỤ LỤC…………………………………………………………………….......... 89


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng, là tài sản quý giá của cư dân nông
nghiệp và là chìa khóa để mở cánh cửa phương Đông. Ở Việt Nam nơi mà đa số cư
dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước vì vậy ruộng đất càng trở nên quan
trọng và quý giá.

phương trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Như vậy, xuất phát từ những lí do trên em chọn đề tài:“Đảng lãnh đạo thực
hiện chính sách ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1957” để làm
đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, vấn đề ruộng đất đã được trình bày trong nhiều tác phẩm
của các nhà lãnh đạo Đảng ta và các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội.
Cuốn sách “Vấn đề dân cày”, xuất bản năm 1937 của đồng chí Trường Chinh
và Võ Nguyên Giáp. Tác phẩm vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường
lối của Đảng và thực tiễn khảo sát đời sống nông thôn, các tác giả đặt vấn đề nghiên
cứu thực trạng nông thôn Việt Nam dưới ách áp bức thực dân và phong kiến, đề cập
đến vấn đề ruộng đất và dân cày đồng thời phê phán quan điểm sai lầm đối với dân
cày và vạch rõ vị trí của người dân cày trong cách mạng Việt Nam. Cuốn sách lên
tiếng tố cáo chính sách phản động của đế quốc phong kiến về ruộng đất, tô thuế, nạn
vay lãi nặng và nêu lên yêu sách của dân cày Đông Dương trước Mặt trận nhân dân
Pháp.
Về lịch sử chế độ ruộng đất thời kỳ cổ trung đại và cận đại có các chuyên
khảo của các tác giả như: Phan Huy Lê: “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
thời Lê Sơ”, NXB Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1959. Tác giả đã thể hiện rất rõ mọi mặt
kinh tế, chính trị, xã hội thời Lê sơ, qua đó với những chính sách ruộng đất dưới
triều đại này là minh chứng cho vai trò của Nhà nước phong kiến Việt Nam đối với
người nông dân Việt Nam.
Về vấn đề ruộng đất trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, trước hết phải
kể đến tác phẩm: “Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt

2


Nam”, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1965 của đồng chí Lê Duẩn đánh giá cao vai trò của



trình nghiên cứu sau này về vấn đề ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên.
Bổ sung thêm cho đề tài nghiên cứu này là cuốn sách “Quá trình thực hiện
quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân ở tỉnh Thái Nguyên từ 1945 đến năm 1957 ”
của T.S Nguyễn Duy Tiến. Gần đây nhất là đề tài “Sở hữu và sử dụng ruộng đất ở
tỉnh Thái Nguyên (1988-2005) của Phí Văn Liệu năm 2009, đề tài đã tìm hiểu thực
trạng về tình hình sở hữu và sử dụng ruộng đất ở tỉnhThái Nguyên, đồng thời nêu
lên được một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng quyền sở hữu ruộng
đất cho nông dân Thái Nguyên.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã phác họa được toàn cảnh
về vấn đề ruộng đất ở nước ta và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ thời phong kiến
đến hiện nay. Mỗi công trình lại khai thác vấn đề ở những khía cạnh khác nhau,
đây là những cơ sở giúp em về nguồn tư liệu, phương pháp, phương hướng để đi
sâu tìm hiểu đề tài của mình là: “Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở
tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1957”.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu
 Khái quát tình hình ruộng đất ở Thái Nguyên trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945.
 Tìm hiểu những chủ trương, chính sách của Đảng ta lãnh đạo cải cách từng
phần quá trình thực hiện ở Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1948.
 Tìm hiểu những chủ trương, chính sách của Đảng lãnh đạo thực hiện thí
điểm triệt để giảm tô ở Thái Nguyên từ năm 1948 đến năm 1953.
 Tìm hiểu những chủ trương, chính sách của Đảng lãnh đạo thực hiện thí
điểm cải cách ruộng đất và hoàn thành cải cách ruộng đất ở Thái Nguyên từ năm
1953 đến năm 1957.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu



 Tài liệu lưu trữ: Các Báo cáo về tình hình ruộng đất, Niên giám thống kê,
Tổng kiểm kê đất đai hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I, III,
Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Thái Nguyên, Chi
cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, Sở Tài nguyên và môi trường Thái Nguyên. Đây là
những tư liệu gốc đáng tin cậy.
 Tài liệu điền dã: Để tìm hiểu thực tế các vấn đề có liên quan đến ruộng đất
trong thời kỳ này cũng như để nắm được một số vấn đề mà các tài liệu lưu trữ
không nói rõ, hoặc các tư liệu mâu thuẫn, em đã về quê hương mình là huyện Phú
Bình, gặp gỡ một số cụ già cao tuổi, nhân chứng lịch sử để vừa bổ sung, vừa thẩm
định các tài liệu lưu trữ.
 Khóa luận còn kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
văn từ trước đến nay.

5


4.2. Phương pháp nghiên cứu
 Khóa luận đã sử dụng phương pháp nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh.
 Khóa luận sử dụng phương pháp lịch sử và lôgíc trong đó phương pháp
lịch sử là chủ yếu. Ngoài ra có phương pháp thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh
lịch sử.
5. Đóng góp của đề tài
Khóa luận làm rõ các phương diện:


Tình hình ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên, góp phần phác họa lên bức

tranh về tình hình ruộng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ sau năm 1945 đến
năm 1957.

đệm nối các tỉnh trung du miền núi phía Bắc với đồng bằng sông Hồng. Với một vị
trí như vậy, Thái Nguyên xứng đáng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị
của vùng Đông Bắc.
Thái Nguyên có hai đoạn quốc lộ chạy qua, quốc lộ số 3 chạy theo hướng
Bắc Nam, từ cầu Đa Phúc đến Phú Lương lên tỉnh Bắc Kạn. Bên cạnh đó, Thái
Nguyên có hai tuyến đường sắt: Hà Nội - Quan Triều - Núi Hồng và tuyến đường
sắt Lưu Xá (Thái Nguyên) - Uông Bí (Quảng Ninh), cùng nhiều tuyến đường giao
thông nội tỉnh và liên tỉnh đã tạo ra sự giao lưu thuận tiện giữa Thái Nguyên với các
tỉnh đồng bằng và miền núi phía Bắc, Thái Nguyên trở thành phên dậu thứ hai về
phương Bắc [28,tr.238].
Lịch sử địa danh Thái Nguyên xuất hiện từ đầu thời Lý, khi đó Thái Nguyên là
một châu tương đương với cấp lộ. Đến thời nhà Trần, vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ
thời Lý thành 12 lộ. Thái Nguyên thuộc Như Nguyệt giang lộ. Đến năm 1226, nhà
Trần lại đổi thành trấn Thái Nguyên bao gồm phần đất của tỉnh Thái Nguyên, Bắc
Cạn và một phần của tỉnh Cao Bằng ngày nay.
Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, năm 1428 vương triều Lê được
thành lập. Bấy giờ, vua Lê Thái Tổ chia cả nước thành 5 đạo gồm: Tây Đạo, Bắc
Đạo, Đông Đạo, Nam Đạo và Hải Tây Đạo trong đó, Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo.
Bấy giờ, vùng đất Thái Nguyên ngày nay được đổi thành Thái Nguyên Thừa tuyên.
Đến năm 1469, Thái Nguyên thừa tuyên được đổi thành Ninh Sóc thừa tuyên. Cho

7


đến năm 1483, Thái Nguyên ngày nay đổi thành xứ Thái Nguyên với 3 phủ, 7
huyện, 6 châu [17,tr.147].
Đến thời thuộc Pháp, sau khi hoàn thành công cuộc bình định ở tỉnh Thái
Nguyên, ngày 20/10/1890, thực dân Pháp tiến hành cắt huyện Bình Xuyên (thuộc
phủ Phú Bình) rồi sáp nhập và tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc Vĩnh Phúc). Các huyện
còn lại của phủ Phú Bình và phủ Tòng Hoá tách khỏi tỉnh Thái Nguyên để góp phần

tỉnh Thái Nguyên sẽ có thế mạnh và tiềm năng lớn để phát triển kinh tế nông - lâm
nghiệp.
Về khí hậu, tỉnh Thái Nguyên nằm trong khu vực có tính chất khí hậu gió
mùa với hai mùa rõ rệt: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh,
mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Tài nguyên đất đai của tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng về nhiều loại đất
nhưng chủ yếu là đất Ferarit, đất đá vôi và đất ruộng. Khu vực đất đồi rất thích hợp
với việc trồng cây công nghiệp như: cà phê, chè. Vùng đồi còn thuận tiện cho việc
chăn nuôi đại gia súc như: trâu, bò, dê, … Với tiềm năng đất như vậy đã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc thành lập các đồn điền trồng các loại cây công nghiệp.
Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành
đai sinh khoáng Thái Bình Dương, cho nên trong lòng đất có nguồn tài nguyên
khoáng sản phong phú về chủng loại và trữ lượng như: than, vàng, sắt, thiếc,
titan,…Ở Thái Nguyên, các mỏ sắt, vàng, chì, kẽm có từ rất lâu đời, đã được nhiều
nhà khai khoáng trong và ngoài nước chú ý đến.
Về tài nguyên nước, tỉnh Thái Nguyên có nguồn tài nguyên nước tương đối
dồi dào. Do Thái Nguyên có điều kiện địa hình, địa thế dốc, phân cách mạnh, mặt
khác hiện nay diễn ra một thực tế là thảm thực vật rừng che phủ thấp, cho nên vào
mùa mưa dòng chảy tăng mạnh, thường gây ra lũ lụt lớn. Ngược lại, khi mùa khô
đến, dòng chảy lại rất cạn kiệt nên thường gây ra tình trạng thiếu nước, hạn hán,
nhất là thuộc địa phận các huyện: Võ Nhai, Định Hoá, Đồng Hỷ,…
Như vậy, với những điều kiện tự nhiên thuận lợi trên đây đã khẳng định Thái
Nguyên là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển nền
nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp. Trong nền nông nghiệp của tỉnh Thái
Nguyên thế mạnh nhất vẫn là cây công nghiệp trên vùng đồi như: chè, cà
phê,…Trong đó, cây chè là một loại cây rất thích hợp với thổ nhưỡng Thái Nguyên,

9



Số khẩu

1930

588

2.001

1935

1.410

5.502

10


1936

1.695

6.473

1937

2.386

6.887

7-1938

1.2. TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC CÁCH
MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
1.2.1. Quá trình chiếm đoạt ruộng đất của thực dân Pháp và sự thành lập các
đồn điền
Thái Nguyên là một trong những tỉnh có rất nhiều tiềm năng, lợi thế. Đây là

11


một vùng có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và phòng thủ
quân sự. “Đây là một tỉnh nông nghiệp, đây cũng là tỉnh giàu khoáng sản, đây lại là
một tỉnh lâm nghiệp… Khi cuộc khủng hoảng kinh tế chung hiện nay đã qua đi, thì
cái tỉnh đẹp đẽ này, nơi có nhiều chỗ có phong cảnh giống như vùng Nooc- măngdi của chúng ta nhất định sẽ thịnh vượng lên một cách không lường trước được. Vì
nó có vô vàn phương tiện thuận lợi để trao vào tay những con người dũng cảm
không ngần ngại truớc khó khăn gian khổ” [20,tr.59-60]. Nhận thấy rõ vị trí chiến
lược quan trọng của tỉnh Thái Nguyên, vào năm 1887 thời điểm thực dân Pháp chưa
hoàn thành công cuộc bình định Thái Nguyên thì chúng đã cấp giấy phép cho các
điền chủ người Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân để lập ra các đồn điền. Các
điền chủ người Pháp đã dùng nhiều thủ đoạn khác nhau để tước đoạt ruộng đất của
nông dân tỉnh Thái Nguyên. Việc tước đoạt ruộng đất đối với nông dân của các điền
chủ được thực dân Pháp ủng hộ, khuyến khích. Nghị định ngày 1/5/1900 cho phép
Khâm sứ Trung Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Thống đốc Nam Kỳ có quyền cấp cho mỗi
người 300 ha trở xuống, còn Toàn quyền Đông Dương có quyền cấp ít nhất từ 300
ha trở lên [35,tr.298]. Biện pháp này của các điền chủ người Pháp không khác gì
cảnh “rào đất cướp ruộng” của tư sản Anh trong thời kỳ tích luỹ tư bản nguyên
thuỷ. Do đó, ngay trong những năm đầu tiên, đã có một loạt đồn điền của Pháp
được thành lập. Số liệu đồn điền được thể hiện rõ qua biểu 2.
Biểu 2: Các đồn điền đầu tiên của người Pháp ở Thái Nguyên. [29,tr.119]
STT


Decoumailes

6/1898

3.650

Đồng Hỷ

4

Reynaud

7/1898

14.605

Phổ Yên

5

Commains

1/1903

209

Đồng Hỷ

6



Diện tích

Năm thành

(ha)

Số hộ

lập

1

Nguyễn Trọng Thuật

Đồng Hỷ

808

20

4-1926

2

Becsna Hiếu

Đồng Hỷ

700


Nguyễn Đức Mai

Đồng Hỷ

300

?

1-1937

6

Phạm Bá Oánh

Định Hóa

125

35

11-1911

Tổng số

7.993

Nhìn chung, hoạt động kinh doanh trong các đồn điền của người Pháp chủ
yếu là theo lối tư bản chủ nghĩa. Còn hoạt động kinh doanh trong các điền chủ của
người Việt vẫn theo lối truyền thống “phát canh thu tô”. Việc đóng tô thuế của


632

Đã cấp hẳn

461

1.452

Đang xét cấp hẳn

92

632

Tổng số

1.144

4.795

Ghi chú: Mẫu Bắc Bộ viết tắt: m (mẫu)= 10 sào =150 thước= 3.600m2
Sào Bắc Bộ viết tắt: s(sào)= 15 thước = 360 m2
Thước Bắc Bộ viết tắt: th(thước) = 24m2.
1.2.2 Chiếm hữu ruộng đất của địa chủ người Việt
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở Việt Nam địa chủ chiếm khoảng 5%
dân số nhưng có trong tay tới hơn 50% diện tích ruộng đất canh tác. Cũng như trong
phạm vi cả nước, giai cấp địa chủ Thái Nguyên đều được sự giúp đỡ của chính
quyền thực dân để ra sức cướp đoạt ruộng đất của nông dân bằng mọi thủ đoạn khác
nhau, thậm chí địa chủ còn dùng cả vũ lực. Chỉ tính riêng 24 địa chủ lớn đã chiếm


1.317m8s06th

34

3m3s09th

14


Cũng dựa vào “Báo cáo điều tra 5 xã điển hình và 28 xã (thuộc 6
huyện)” đã thấy rõ được hình thức bóc lột của giai cấp địa chủ ở Thái Nguyên.
Trong đó, hình thức bóc lột theo kiểu phát canh thu tô kết hợp với thuê mướn nhân
công là hình thức bóc lột chủ yếu của các địa chủ ở đây. Để thấy rõ được điều này
đưa ra những số liệu ở biểu 6.
Biểu 6: Tỷ lệ số địa chủ phát canh thu tô và thuê mướn nhân công [14,tr.25]
5 xã điển hình

Hình thức bóc lột

28 xã của 6 huyện

Số địa chủ

Tỷ lệ

Số địa chủ

Tỷ lệ


100

Phát canh thu tô
Thuê mướn nhân công
là chính kết hợp thu tô
Kết hợp 2 hình thức và
cho vay lãi
Cộng

Từ Biểu 6 cho thấy, hình thức thuê mướn nhân công là chính kết hợp với thu tô
là hình thức bóc lột chủ yếu của địa chủ ở Thái nguyên. Ngoài hình thức thuê mướn
nhân công và thu tô, các chủ ruộng còn làm giàu bằng cách cho vay nặng lãi theo kiểu
lãi mẹ đẻ lãi con. Từ sau Cách mạng Tháng tám năm 1945, ruộng đất chiếm hữu của
địa chủ cũng có sự chuyển biến lớn. Biểu 7 thấy rõ được sự chuyển biến này.
Biểu 7: Chiếm hữu ruộng đất của địa chủ và sự chuyển dịch ruộng đất trước
cái cách ruộng đất. [6,tr.12]
Hộ

Diện tích

Diện tích

%

chiếm hữu

chuyển dịch

diện tích


6 xã thí điểm

Khẩu

Hộ

%

Khẩu

%

97

3,66

352

5,39

3,1

2908 4,55

4271s0m7th

(Ghi chú: Tỷ lệ % hộ, khẩu so với hộ, khẩu ở các xã; tỷ lệ % ruộng đất so với
tỷ lệ ruộng đất chiếm hữu)

15


333m4s13th

8,53

1m8s06th

Qua bảng số liệu trên ta thấy rõ, diện tích chiếm hữu ruộng đất của phú nông
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là không lớn chưa được 10% con số này nhỏ hơn
nhiều so với diện tích chiếm hữu ruộng đất của địa chủ.
1.2.4. Sở hữu ruộng đất của các tầng lớp nông dân
Nước ta là một nước nông nghiệp, cho nên nông dân chiếm một số lượng khá
lớn. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, số lượng nông dân của Việt Nam chiếm tới
hơn 90% dân số. Mặc dù giai cấp nông dân chiếm số lượng lớn nhưng họ lại có
trong tay diện tích ruộng đất khá ít ỏi, cá biệt còn có một số bộ phận trong giai cấp
nông dân “không có một tấc đất cắm dùi”, nguồn sống của họ chỉ là đi làm thuê,
làm mướn, đi ở cho gia đình địa chủ.
Thái Nguyên là một tỉnh có thế mạnh về nông nghiệp, lâm nghiệp, nhưng diện
tích ruộng đất trong tay giai cấp nông dân trước năm 1945 là tương đối ít. Khẳng định
được điều này căn cứ vào số liệu điều tra 5 xã điển hình.

16


Biểu 9: Sở hữu ruộng đất của trung nông, bần nông và cố nông
(năm 1945). [6,tr.10]
Thời gian

Sở hữu ruộng đất của


lập bộ máy cai trị riêng và rất hà khắc. Chủ đồn điền coi tá điền làm thuê chẳng
khác gì nô lệ của họ như: đồn điền Chã, đồn điền Thác Nhái (Phổ Yên) …
[24,tr.49].
Bằng những phương thức và thủ đoạn như trên, địa chủ và chủ đồn điền đã
bóc lột nông dân một cách tàn nhẫn đến tận xương tuỷ, đẩy nông dân vào cảnh
đường cùng ngõ tận. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho mâu thuẫn giai cấp
giữa nông dân tá điền với địa chủ và chủ đồn điền ngày càng trở nên sâu sắc.
1.2.5. Ruộng đất công của làng xã
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp nên tại hầu hết các làng xã cổ truyền
của người Việt tính đến thời điểm trước khi Đảng ta tiến hành cải cách ruộng đất
(1953), vẫn còn tồn tại bộ phận ruộng đất công. Tỉnh Thái Nguyên không năm
ngoài tình trạng chung đó. Số liệu ruộng đất công ở Thái Nguyên tính đến thời điểm
trước Cải cách ruộng đất được thể hịên ở biểu 10.

17


Biểu 10: Diện tích ruộng đất công tại 75 xã trước cải cách ruộng đất. [30,tr.1]
Số xã

Diện tích
549m7s06th

6 xã thí điểm cải cách ruộng đất
47 xã cải cách ruộng đất đợt I

13.154m2s11th

22 xã cải cách ruộng đất đợt II




Trích đoạn Thực hiện chính sách ruộng đất phải tuân theo pháp luật, phải bảo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status