LUẬN VĂN:
Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp và
thực hiện chính sách ruộng đất trong kháng
chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời. Nhân dân ta vừa được hưởng độc lập, tự do ít ngày thì các thế lực
đế quốc tràn vào nước ta, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng, xây dựng chính
quyền bù nhìn, đưa nước ta trở lại chế độ thuộc địa trước đây. Đáp ứng lời kêu gọi
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc đã nhất tề đứng lên bảo vệ thành
quả cách mạng với tất cả các điều kiện có trong tay.
Với quyết tâm chiếm nước ta một lần nữa, thực dân Pháp đã dùng những
thủ đoạn, âm mưu thâm độc: "Dùng người Việt trị người Việt", "lấy chiến tranh
nuôi chiến tranh". Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành cuộc
kháng chiến: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Sau 9
năm kháng chiến, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đánh bại các thế lực
xâm lược, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giải phóng hoàn toàn miền Bắc,
từ đó tạo cơ sở cho miền Bắc đi lên xây dựng CNXH, trở thành căn cứ địa cho cả
nước, chi viện sức người, sức của cho việc giải phóng miền Nam thống nhất Tổ
quốc sau này.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ giành
được thắng lợi là do Đảng đã có đường lối kháng chiến đúng đắn, trong đó có lĩnh
vực phát triển kinh tế nông nghiệp và thực hiện chính sách ruộng đất, đó chính là
"Đảng ta luôn luôn nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, chống tư tưởng trông chờ và ỉ
lại viện trợ của bên ngoài, cổ vũ nhân dân ra sức xây dựng hậu phương, phát triển
kinh tế kháng chiến, đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, để cung cấp cho nhu cầu
to lớn của tiền tuyến" [32, tr.498-499]; từ đó đã huy động được sức mạnh yêu
Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ
Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975), thắng lợi và bài học,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương,
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo tập 1 (1920-1954), Nxb Sự thật, Hà Nội,
1981. Lê Mậu Hãn (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III (1945-1954),
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998. Trình Mưu (chủ biên), Lịch sử kháng chiến chống
thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV (1945-1954), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003...
Hai là, các tác phẩm đề cập một cách cụ thể ở các mức độ khác nhau về
quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và thực hiện chính sách ruộng đất trong
kháng chiến như: Đào Văn Tập (chủ biên): 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990),
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990. Viện Kinh tế: Kinh tế Việt Nam từ Cách
mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi 1945-1954, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1966. Đặng Phong: Lịch sử kinh tế Việt Nam, 1945-2000, tập 1: 1945-1954,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000. Thế Đạt, Nền nông nghiệp Việt Nam từ sau
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1983, Nguyễn Sinh
Cúc: Nông nghiệp Việt Nam 1945-1995, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995. Bùi Huy
Đáp - Nguyễn Điền: Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi mới, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Trần Phương (chủ biên): Cách mạng ruộng đất ở Việt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968...
Ngoài ra còn một số bài viết của các tác giả trên các tạp chí, như: Văn Tạo,
"Chúng ta kế thừa di sản nào, từ bỏ di sản nào trong nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (1), 1990, tr.1-51. Văn Tạo, "Cải cách ruộng đất thành quả và sai lầm", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (2), 1993, tr.1-10...
Tổng hợp lại, các công trình nêu trên đã tập trung làm rõ các vấn đề sau:
- Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kinh tế nông nghiệp và tình hình
ruộng đất của Việt Nam có những điều kiện thuận lợi và khó khăn như: đất nước
giành được độc lập, Đảng trở thành lực lượng lãnh đạo chính quyền, nhân dân lao
đó vào trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích, làm rõ bối cảnh quốc tế và trong nước chi phối đến việc giải
quyết nhiệm vụ phát triển kinh tế nông nghiệp và thực hiện chính sách ruộng đất
trong kháng chiến. Làm rõ tình hình kinh tế nông nghiệp và tình hình ruộng đất
sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
- Phân tích, đánh giá quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp phát triển kinh tế
nông nghiệp và thực hiện chính sách ruộng đất trong kháng chiến. Từ đó nêu bật
những thắng lợi mà Đảng và nhân dân ta phấn đấu đạt được, góp phần thúc đẩy
cuộc kháng chiến mau chóng đi đến thắng lợi.
- Rút ra những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp và thực hiện chính sách ruộng đất từ tháng 9-1945 đến tháng 7-1954.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp
và thực hiện chính sách ruộng đất trong kháng chiến chống thực dân Pháp (19451954).
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng
phát triển kinh tế nông nghiệp và thực hiện chính sách ruộng đất từ tháng 9-1945
đến tháng 7-1954.
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, trình bày các chủ trương và
quá trình chỉ đạo của Đảng thực hiện khôi phục, phát triển kinh tế nông nghiệp và
thực hiện chính sách ruộng đất trong kháng chiến. Bằng những con số và sự kiện
điển hình để minh họa làm rõ quá trình thực hiện đường lối của Đảng góp phần
vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận lý luận của chủ
kinh nghiệm lịch sử của Đảng trong lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp và
thực hiện chính sách ruộng đất, từ đó góp phần thực hiện đường lối đổi mới hiện
nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
chia làm 2 chương, 6 tiết.
Chương 1
Đảng lãnh đạo xây dựng kinh tế nông nghiệp
và thực hiện chính sách ruộng đất trong những năm đầu cuộc kháng chiến
(1945-1950)
1.1. Tình hình nông nghiệp và ruộng đất nước ta sau cách mạng tháng
tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba
Đình - Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc
bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu á đã ra đời.
Bước vào thời kỳ mới của đất nước, sản xuất nông nghiệp và tình hình
ruộng đất chịu tác động của những yếu tố sau:
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một bước ngoặt lớn trong
lịch sử dân tộc. Cách mạng đã đập tan sự thống trị của thực dân Pháp và phát xít
Nhật hàng trăm năm, hàng nghìn năm dưới chế độ quân chủ phong kiến, đưa dân
tộc Việt Nam vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH, nhân
dân ta từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình.
Sự thay đổi có tính bước ngoặt vĩ đại đó đã thổi bùng niềm tin tưởng, phấn khởi vô
hạn trong các tầng lớp nhân dân cả nước, từ đó động viên họ đóng góp hết sức
mình vào công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng.
Cách mạng Tháng Tám thành công đã đưa Đảng ta từ một đảng hoạt động
nghiệp. Các chính sách đầu tư của thực dân Pháp nêu trên, mặc dù không mong
muốn cho thuộc địa phát triển, nhưng phần nào nó làm chuyển biến trong sản xuất
nông nghiệp nước ta so với thời phong kiến, chúng ta có thể kế thừa và phát huy
các yếu tố tích cực để phát triển nông nghiệp sau Cách mạng Tháng Tám.
Đặc điểm nổi bật nhất sau Cách mạng Tháng Tám là một nền nông
nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh kéo dài tàn phá nghiêm trọng, nạn thôn tính
ruộng đất của thực dân, phong kiến.
Trước khi thực dân Pháp xâm lược xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX là
một xã hội phong kiến đang khủng hoảng suy tàn. Phương thức sản xuất phong kiến
đã trở nên lạc hậu và không còn tác dụng kích thích tính tích cực lao động sản xuất
của người nông dân. Điều này được thể hiện rõ qua sự bùng nổ của hàng trăm cuộc
khởi nghĩa nông dân chỉ trong một thời gian ngắn. Sau khi xâm chiếm được nước ta,
thực dân Pháp với bản chất, đặc điểm là "chủ nghĩa đế quốc cho vay nặng lãi" đã
không xóa bỏ phương thức sản xuất phong kiến đã lỗi thời lạc hậu, mà vẫn tiếp tục
duy trì và tạo điều kiện cho nó phát triển, để dễ dàng khai thác thuộc địa và thu lợi
nhuận siêu ngạch cao. Mặt khác, thực dân Pháp đã du nhập hạn chế phương thức sản
xuất tư bản, cưỡng bức "theo kiểu thực dân" vào nước ta, tư bản Pháp tập trung đầu tư
vào Việt Nam ở các lĩnh vực có lợi nhất mà không có khả năng cạnh tranh với kinh tế
và công nghiệp của chính quốc.
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, nên người Pháp rất chú ý đến việc
khai thác, tận thu các sản phẩm từ sản xuất nông nghiệp. Vì thế, người dân Việt
Nam sản xuất ra lúa, gạo để xuất khẩu, nhưng dưới chế độ thuộc địa vẫn chết đói.
Thực chất của việc đầu tư về mặt kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp của thực dân
Pháp không phải nhằm để cho nông nghiệp Việt Nam phát triển, mà việc đầu tư có
tính chất "bắt buộc" đó của chính quyền thực dân nhằm vào việc khai thác thuộc
địa phục vụ cho nền kinh tế của chính quốc.
Trong nông nghiệp, thực dân Pháp chủ yếu đầu tư phát triển cây cao su,
một số đồn điền trồng lúa, chính sách đầu tư của thực dân Pháp chủ yếu với mục
phạm vi cả nước, thực dân Pháp chiếm 9,5%, ruộng đất công và bán công 11,9%,
ruộng đất nhà thờ 1,2%, các thành phần khác (trung nông và một ít bần nông) chỉ
có 36% ruộng đất [73, tr.17]. Nếu tính cả ruộng đất mà bọn chủ tư bản Pháp hoàn
toàn chi phối thì có đến 2/3 tổng số ruộng đất trong nước nằm trong tay chúng.
Người nông dân Việt Nam mà chủ yếu là trung nông và một số ít bần nông chỉ
chiếm khoảng 1/3 tổng diện tích ruộng đất canh tác, còn số cố nông, một số bần
nông, một phần nhỏ trong tầng lớp trung nông thì không có ruộng đất, hoặc rất
thiếu ruộng đất để cày cấy. Trong khi đó về nhân khẩu thì số bần, cố nông và trung
nông nói trên chiếm trên 95% số dân trong cả nước lúc bấy giờ.
Quá trình cướp đoạt ruộng đất và bần cùng hóa nông dân tiếp tục được
diễn ra khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, càng đẩy cao mâu thuẫn cơ bản
vốn có trong lòng xã hội nước ta. Mong mỏi lớn nhất của người nông dân là độc
lập dân tộc và ruộng đất, điều này đặt cho giai cấp lãnh đạo cách mạng phải đáp
ứng, giải quyết nếu muốn tập hợp được nông dân - một lực lượng cách mạng to
lớn, đông đảo.
Trong thời gian dài xâm chiếm Việt Nam nói riêng và cả Đông Dương nói
chung, thực dân Pháp đã bóc lột nhân dân bản xứ thậm tệ bằng thuế khóa nặng nề,
bằng đầu cơ giá cả, bằng độc quyền xuất nhập cảng, bằng lạm phát tiền tệ, bằng
cho vay với tỷ suất lãi cao, bằng thuê mướn nhân công rẻ mạt... Đặc biệt hình thức
bóc lột bằng chính sách mộ phu làm đồn điền ở Việt Nam và ở các thuộc địa khác
của Pháp là một hình thức mua bán nô lệ thời Trung cổ. Từ năm 1939, nước ta đã
bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc chiến tranh thế giới thứ II. Thực dân Pháp và tiếp
sau đó là phát xít Nhật đã thực hiện ở nước ta một nền "kinh tế chỉ huy". Nông
nghiệp và các ngành kinh tế khác trước đây phục vụ cho chính sách vơ vét thuộc
địa, thì lúc này phải gánh thêm nhiệm vụ phục vụ chiến tranh của "mẫu quốc".
Nhằm thực hiện chính sách vơ vét thuộc địa và dồn gánh nặng chiến tranh lên vai
nhân dân ta, chính quyền thực dân, phát xít đã không từ thủ đoạn nào như: tăng
thuế, đầu cơ, tích trữ. Đặc biệt là nạn thu mua thóc tạ của phát xít Nhật với mức
giá thấp hơn rất nhiều so với thực tế, giá cao nhất là bằng 8-9%, có khi chỉ bằng 23%, trong khi nạn đói đang hoành hành đã đẩy đời sống nhân dân ta hết sức điêu
đứng. Năm 1944, ở Bắc Bộ lúc này giá gạo đã lên tới 700-800$ Đông Dương/tạ,
Ngay khi giành được chính quyền, nạn lụt xảy ra làm cho 9 tỉnh Bắc Bộ
vỡ đê, sau lũ lụt là hạn hán. Lụt và hạn hán đã làm tiêu tan hết số thóc giống đã
gieo trồng. Sản lượng lúa mùa trung bình của Bắc Bộ thời đó vào khoảng
1.088.000 tấn, thì vụ mùa năm 1945 chỉ còn 500.000 tấn, tức là giảm đi quá nửa.
Nước lụt đã làm ngập 350.000 ha trong tổng số 830.000 ha ở Bắc Bộ, tức là
khoảng 40% diện tích lúa mùa đã cấy ở Bắc bộ. Vụ mùa năm 1945 Bắc Bộ chỉ thu
được 500.000 tấn chỉ đủ ăn cho đến tháng 1 năm 1946, từ cuối tháng 2 năm 1946
dự trữ sẽ hết và nạn đói lại bắt đầu [64, tr.119]. Những số liệu trên cho thấy nạn
đói năm 1946 sẽ đến rất sớm và trầm trọng không kém nạn đói năm 1945, nếu như
chính quyền cách mạng không có những biện pháp khắc phục khẩn cấp. Hậu quả
từ chính sách cai trị, chiến tranh, lũ lụt, hạn hán, công nghiệp, thủ công nghiệp bị
phá sản, làm hàng vạn công nhân không có việc làm, hàng hóa khan hiếm, giá cả
tăng vọt. Đời sống của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là công nhân và nông dân gặp
rất nhiều khó khăn.
Về tài chính, kho bạc của chính quyền cách mạng trống rỗng, trong kho
bạc Trung ương của Pháp chỉ còn 1.230.720 đồng bạc Đông Dương, trong đó có
tới 586.000 đồng là tiền sách. Trụ sở ngân hàng Đông Dương ta chưa chiếm được,
tiền Việt Nam chưa có. Trong khi đó tư bản Pháp tuyên bố hủy bỏ loại tiền có
mệnh giá 500 đồng. Quân Tưởng vào miền Bắc tung ra đồng Quan kim, Quốc tệ
mất giá trị buộc chúng ta phải lưu hành, khiến cho thị trường tài chính của ta thêm
rối loạn. Như vậy, do tình hình khó khăn của các lĩnh vực công nghiệp, thủ công
nghiệp, tài chính, ngân hàng sau Cách mạng ThángTám đã làm ảnh hưởng đến quá
trình khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp, thực hiện các chính sách ruộng
đất. Việc đầu tư về mặt kỹ thuật, công cụ lao động, vốn... bị hạn chế.
Tình hình chính trị hết sức phức tạp sau khi chính quyền được thành lập,
các tổ chức đảng phái phản động, thân Nhật, Pháp, Bảo Hoàng chỉ chờ lực lượng
Đồng Minh vào để trỗi dậy lật đổ chính quyền cách mạng. Chế độ phong kiến đã
bị lật nhào, nhưng một số quan lại địa chủ cường hào tìm mọi cách bất hợp tác với
giành được độc lập là tổng hợp của nhiều yếu tố. Trong đó nổi bật lên là những
điều kiện khó khăn bất lợi chồng chất của tình hình nông nghiệp và ruộng đất.
Những khó khăn đó là tổng hợp của nhiều nguyên nhân; có cả những nguyên nhân
từ lịch sử quá khứ trước Cách mạng Tháng Tám - một nền nông nghiệp lạc hậu
dưới chế độ thuộc địa, và cả những nguyên nhân từ các yêu cầu, đòi hỏi cấp bách
của chính quyền cách mạng non trẻ đang phải khôi phục kinh tế, ổn định đời sống
nhân dân, tích cực chuẩn bị các điều kiện để chống lại thực dân Pháp xâm lược sau
này.
1.2. ổn định đời sống nhân dân, bước đầu xây dựng kinh tế nông
nghiệp
Ngay trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên, Đảng đã nhận thức sâu sắc
đặc điểm xã hội Việt Nam, một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nông
nghiệp quyết định nền tảng kinh tế quốc gia. Kinh tế nông nghiệp sau khi cách
mạng thành công có một vị trí hết sức quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và
bảo vệ chính quyền, việc ổn định khôi phục và xây dựng kinh tế nông nghiệp trở
nên cấp bách, đòi hỏi năng lực lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước cách mạng.
Chính quyền cách mạng mới thành lập đứng trước hàng loạt những khó
khăn về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, tựu chung lại là ba thứ giặc (giặc đói,
giặc dốt và giặc ngoại xâm) cần phải giải quyết. Ngay sau khi Trung ương Đảng và
Chính phủ lâm thời về thủ đô Hà Nội, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã vạch ra
những phương hướng và biện pháp đầu tiên về xây dựng chế độ mới và đối phó với
các lực lượng đế quốc và phản động tiến vào nước ta.
Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời ngày 3 tháng
9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong đó nhiệm vụ chống giặc đói được đặt lên hàng
đầu. Để chống đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: "Chính phủ là phát động một
chiến dịch tăng gia sản xuất. Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương
thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên.
là kinh tế nông nghiệp, phải tổ chức các biện pháp để cứu đói nhân dân, bởi vì,
giai cấp cách mạng chỉ có thể thực hiện các nhiệm vụ khác khi đã đáp ứng được
"cái ăn" ở mức độ cần thiết cho giai cấp mình và quần chúng cách mạng.
Cách mạng tháng Tám đã làm một cuộc đổi đời thực sự cho mọi tầng lớp
nhân dân, đặc biệt là hai giai cấp công nhân và nông dân, một lực lượng chiếm đa
số trong dân cư nước ta. "Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng
hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì" [23, tr.16]. Vì vậy, để đem
lại hạnh phúc tự do thực sự cho nhân dân và tạo ra nguồn lực, niềm tin, để từ đó
huy động tất cả lực lượng yêu nước trong nước chống lại các thế lực đế quốc đòi
hỏi Đảng và Chính phủ phải có các chủ trương, biện pháp hữu hiệu để chống nạn
đói, ổn định đời sống nhân dân, khôi phục sản xuất. Trước khi có thể khôi phục và
phát triển sản xuất thì biện pháp cấp bách lúc này là vận động đồng bào thực hành
tiết kiệm, phát động truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách. Trong
thư gửi đồng bào toàn quốc "nhường cơm sẻ áo" năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết: "Từ tháng giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bắc bộ ta đã có hai triệu người
chết đói.
Kế đó lại bị nước lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ.
Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không
khỏi động lòng.
Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: cứ
10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để
cứu dân nghèo.
Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa
năm sau, khỏi đến nỗi chết đói" [56, tr.31].
Người chỉ rõ:
Khi có chiến tranh thì phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng
trong nước để chống giặc. Muốn chống giặc đói cũng phải huy động và tổ
chức tất cả lực lượng của toàn quốc đồng bào... Cuộc chống nạn đói cũng
Cứu tế. ủy ban này có toàn quyền hành động để nghiên cứu và thi hành những
phương pháp cần thiết để tăng gia sản xuất, tiếp tế và cứu tế cho nhân dân cả nước.
Để chống lãng phí và thất thoát lương thực, Chính phủ cấm ngặt việc xuất
khẩu lương thực với bất cứ hình thức nào. Đồng thời cấm dùng lương thực để nấu
rượu và sản xuất các loại bánh ngọt.
Để điều hòa thóc gạo giữa vùng này sang vùng khác được dễ dàng, Chính
phủ cách mạng lâm thời ra Sắc lệnh số 7-SL ngày 5 tháng 9 năm 1945 thủ tiêu các
luật lệ do Pháp, Nhật ban hành nhằm hạn chế việc vận chuyển thóc gạo trong nước,
nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tàng trữ thóc gạo, nâng giá lương thực. Một ủy ban
đặc trách được phái vào Nam Bộ điều tra và tổ chức vận chuyển gạo ra Bắc. Việc
chuyên trở gạo từ các tỉnh ở Nam Bộ và Trung Bộ ra Bắc Bộ được thực hiện khẩn
trương. "Chỉ tính 3 tháng cuối năm 1945 đã có đến 700 tấn gạo được chuyển ra
Bắc Bộ, kịp đưa đến các địa phương để cứu đói" [38, tr.29].
Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, phong trào "nhường cơm, sẻ áo"
lập "hũ gạo cứu đói" đã thực sự trở thành một phong trào quần chúng bao trùm
trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn. ở Thái Bình, Ban kinh tế tỉnh đã cứu đói
cho đồng bào bị đói 301 tấn gạo, 510 tấn thóc, 50 tấn ngô.Hàng ngày có từ 500
đến 600 người tới trại Dục Anh nhận khẩu phần lương thực do chính quyền cấp
phát, hàng nghìn người đến trại tế bần ở thị xã nhận cấp khẩu phần. Chính quyền
cùng Mặt trận Việt Minh tổ chức lực lượng đi phá kho thóc của Nhật còn lại ở một
số nơi để cứu đói... Quán cơm lao động được mở ở thị xã và các xã ven thị xã để
bán cho người thiếu ăn hoặc phát không cho người đứt bữa [39, tr.153]. Tại Liên
khu IV, phong trào "nhường cơm sẻ áo", "hũ gạo cứu đói", "ngày Đồng Tâm diễn
ra sôi nổi. Thanh Hóa đã quyên góp được 1.076 tấn gạo. ở nhiều nơi, số gạo thu
được không những đã trang trải nhu cầu tại chỗ mà còn thừa để giúp đồng bào Bắc
Bộ đang gặp khó khăn (hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã giúp đồng bào Bắc bộ 477
tấn gạo. Thanh Hóa giúp các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh hàng trăm tấn gạo) [60,
tr.77].
chủ trương về việc xóa bỏ các thứ thuế hà khắc, vô lý thời Pháp thuộc. Chính phủ
đã ban hành các Sắc lệnh: Sắc lệnh số 11 ngày 7 tháng 9 năm 1945 bãi bỏ thuế
thân là thứ thuế "trái ngược với tinh thần chính thể cộng hòa dân chủ". Sắc lệnh
ngày 27 tháng 9 năm 1945 bãi bỏ thuế môn bài chính tăng dưới 50 đồng và miễn
hẳn số bách phân phụ thu đối với các hạng môn bài trên. Sắc lệnh số 15 ngày 30
tháng 1 năm 1946 bãi bỏ thuế xe tay, thuế xe đạp. Bộ Nội vụ ra Nghị định số 19
ngày 26 tháng 10 năm 1945 bãi miễn hẳn thuế điền thổ đối với những nơi bị lụt và
giảm 20% thuế này trong cả nước. Do hoàn cảnh chiến tranh, Chính phủ ra Sắc
lệnh số 65 ngày 10 tháng 5 năm 1946 đình chỉ đối với thu thuế ở Nam Bộ và Nam
Trung Bộ.
Cùng với việc bãi bỏ các thứ thuế vô lý, hà khắc, Chính phủ cách mạng
ban hành việc thu những thứ thuế cần thiết để xây dựng đất nước, thuế điền thổ
được Nhà nước thu với mức thấp có phân biệt theo các hạng ruộng đất, như ruộng
hạng nhất mỗi mẫu là 12 đồng/năm; ruộng hạng nhì là 10 đồng/năm; ruộng hạng
ba là 8 đồng/năm. Đất hạng nhì mỗi mẫu là 8 đồng/năm; đất hạng ba là 3
đồng/năm; đất hạng tư là 1 đồng/năm và đất hạng năm là 0,1 đồng/năm. Như vậy,
chế độ thuế điền thổ mới thể hiện tinh thần cách mạng là chiếu cố các tầng lớp
nhân dân lao động thường có ruộng đất xấu, các tầng lớp giàu có thì chiếm ruộng
đất tốt hơn nên phải nộp thuế cao hơn. Điều này đã tạo ra sức sống mới, kích thích
kinh tế nông nghiệp phục hồi và phát triển, tạo ra niềm hăng say phấn khởi cho
nông dân đặc biệt là tầng lớp nông dân có ít ruộng đất.
Ngày 10 tháng 4 năm 1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 48 ban hành "đảm
phụ quốc phòng" nhằm vận động nhân dân đóng góp để tham gia vào sự nghiệp
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Chính sách của Chính phủ ra đời trong bối cảnh đặc
biệt của đất nước, đã được quần chúng nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, kể cả
những người được quy định miễn đóng vẫn xung phong tình nguyện tham gia.
Trong hai năm 1945-1946, nhân dân tự nguyện đóng góp quỹ kháng chiến 60 triệu
đồng và 370 kg vàng [73, tr.21].
cày bừa giúp nhau, còn ruộng nhà nào nhà nấy vẫn tự quản lý và thu hoạch.
Ngày 4 tháng 4 năm 1946, Bộ canh nông đã có thông tư khuyến khích các
địa phương xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp. Trong thông tư này có định
nghĩa: "Hợp tác xã nông nghiệp là những tổ chức căn bản ở thôn quê để thực hiện
chương trình chấn hưng nông nghiệp, để bành trướng và thực hiện ở thôn quê
phong trào đời sống mới", "Hợp tác xã nông nghiệp còn là một lợi khí giúp nhân
dân ta tranh đấu bằng kinh tế chống áp bức của phái tư bản ngoại quốc" [76, tr.71].
Hợp tác xã được xây dựng theo quan điểm, đường lối nêu trên nhằm phục vụ cho phát
triển kinh tế nông nghiệp và hướng nông dân xây dựng nông thôn mới, còn là một tổ
chức để tập hợp sức mạnh quần chúng nông dân bảo vệ lợi ích chính đáng của mình,
chống lại các thế lực bóc lột, áp bức.
Những chủ trương và biện pháp tích cực của Đảng và Chính phủ nhằm
giải quyết nạn đói đã đem lại hiệu quả thiết thực cho việc ổn định đời sống nhân
dân, tạo niềm tin cho nhân dân vào chính quyền cách mạng, tạo điều kiện cho
phục hồi sản xuất nông nghiệp, vượt qua được thời khắc lịch sử khó khăn nhất của
chính quyền cách mạng. "Mặc dù có lụt lớn, diện tích lúa năm 1946 ở Bắc bộ vẫn
đạt 890.000 ha, sản lượng lúa đạt 1.155.000 tấn (tăng 323.000 tấn so với năm
1944). Diện tích ngô năm 1946 đạt 212.850 ha, sản lượng ngô đạt 217.030 tấn,
tăng 98.020 tấn so với năm 1939. Sản lượng khoai lang tăng 174.000 tấn so với
năm 1939" [62, tr.159]. Những kết quả trên không chỉ có giá trị thiết thực về mặt
kinh tế, xã hội mà còn có ý nghĩa chính trị hết sức to lớn. Đó chính là tính ưu việt
của nền sản xuất nông nghiệp trong chế độ mới, khả năng sản xuất của người nông
dân khi họ thực sự làm chủ vận mệnh mình. Chỉ trong một năm từ cách mạng
thành công, nạn đói khủng khiếp đã bị đẩy lùi, đó là một kỳ công của chế độ dân
chủ, của cách mạng, như khẳng định của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa trước toàn dân và thế giới.
Nguy cơ "giặc đói" đã được giảm dần, song để xóa bỏ nạn đói, điều cơ
bản là phát triển sản xuất. Điều đó càng cấp thiết hơn khi cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp bùng nổ.
lời kêu gọi "toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19-12-1946.
Tư tưởng, đường lối kháng chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch
ra từ ngày đầu của cuộc kháng chiến thể hiện tập trung trong Chỉ thị "Toàn dân
kháng chiến" của BCHTW Đảng ngày 12-12-1946, Lời kêu gọi "toàn quốc kháng
chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19-12-1946 và tác phẩm "Kháng chiến
nhất định thắng lợi" của Trường Chinh năm 1947.
Khẳng định cuộc kháng chiến của nhân dân ta là kế tục sự nghiệp Cách
mạng Tháng Tám bằng phương thức chiến tranh cách mạng. Nó nhằm mục đích
đánh thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất. Đây là một cuộc chiến
tranh cách mạng của dân tộc, chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh tiến bộ. Cuộc
kháng chiến này vừa mang tính dân tộc giải phóng và tính dân chủ mới, là một
cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh là
chính.
Chiến tranh là cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến. Đảng chủ
trương phải xây dựng và sử dụng sức mạnh tổng hợp và toàn diện về quân sự,
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội để chống lại cuộc chiến tranh tổng lực của kẻ thù.
Về kinh tế, nền kinh tế nước ta vốn nghèo nàn lạc hậu do chế độ cũ để lại,
lại bị địch tăng cường phá hoại bằng mọi thủ đoạn tàn bạo, lúc này nhu cầu kháng
chiến ngày càng lớn cho nên mặt trận kinh tế cũng không kém phần gay gắt.
Đặc điểm kinh tế kháng chiến, trong đó có kinh tế nông nghiệp trước khi
bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ và toàn diện với thực dân Pháp là hết sức
khó khăn. Hầu hết những vùng kháng chiến là những vùng nghèo, rừng núi, trung
du, một số vùng đồng bằng không rộng; tương đối rộng hơn cả là Liên khu IV,
nhưng đó cũng là vùng đất nghèo khổ từ bao đời nay. Nông nghiệp nằm trong tay
nông dân với hình thức gia đình sản xuất nhỏ, kinh tế mang nặng tính tự túc tự cấp.
Về mục đích của nền kinh tế, có hai mục đích cơ bản:
- Phục vụ đời sống dân cư và đồng thời chuẩn bị cơ sở cho phát triển sau
này.