Đảng bộ huyện phú bình thái nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ 2001 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ MINH THUẬN

ĐẢNG BỘ HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI, 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ MINH THUẬN

ĐẢNG BỘ HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.NGND. LÊ MẬU HÃN

HÀ NỘI, 2013

1.3.2 Đảng bộ huyện Phú Bình lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế
nông nghiệp trong tình hình mới ...................................................................32
1.3.4. Kết quả thực hiện ................................................................................42


CHƯƠNG 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN PHÚ BÌNH TĂNG CƯỜNG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO
HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN
2006 - 2010 .................................................................................................... 52
2.1. Yêu cầu đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng CNH,
HĐH............................................................................................................... 52
2.2. Đảng bộ huyện Phú Bình lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế
nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010................................................................. 54

2.2.1. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH,
HĐH của Đảng ..............................................................................................54
2.2.2. Vận dụng đường lối của Đảng, Đảng bộ huyện Phú Bình lãnh
đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH ..........61
2.2.3. Kết quả đạt được .................................................................................71
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM ........................................................................................... 80
3.1. Nhận xét, đánh giá chung ........................................................................ 80

3.1.1. Ưu điểm ...............................................................................................80
3.1.2 Hạn chế.................................................................................................87
3.2. Bài học kinh nghiệm................................................................................ 91
KẾT LUẬN ................................................................................................. 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 102



UBND

Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 1.1. Diện tích, sản lượng một số cây trồng nông nghiệp huyện Phú Bình
qua các năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005 (Đơn vị:tấn, ha) 47
Bảng 1.2. Số lượng và sản lượng gia súc, gia cầm huyện Phú Bình năm 2000,
2001, 2002, 2003, 2004, 2005. ...................................................... 49
Bảng 1.6: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005 .............. 50
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa qua các năm ....................... 72
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô qua các năm ...................... 72
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc qua các năm ....................... 72
Bảng 2.4. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương qua các năm ............ 73
Bảng 2.5. Tổng sản lượng cây trồng, vật nuôi của huyện qua các năm từ năm
2005 đến năm 2010 ....................................................................... 76


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Hình 1.1. Biểu đồ tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Phú Bình ................ 44
Hình 1.2: Biểu đồ sản lượng và diện tích đất trồng lúa ................................. 45
Hình 1.3: Biểu đồ sản lượng và diện tích đất trồng ngô ................................ 45
Hình 2.1. Biểu đồ sản lượng khoai lang qua các năm ................................... 74
Hình 3.1. Biểu đồ tổng số đàn gia cầm của huyện Phú Bình qua các năm
(2000, 2005, 2010) ........................................................................ 83

nguồn lao động và đất đai, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hóa, đặc biệt là trồng trọt, chăn nuôi. Trong quá trình phát triển kinh
tế từ năm 2001 đến năm 2010, dưới sự lãnh đạo của Trung ương, của Đảng bộ tỉnh
1


Thái Nguyên mà trực tiếp là của Đảng bộ huyện, nền kinh tế nông nghiệp của Phú
Bình phát triển khá toàn diện và đã đạt được nhiều thành tựu lớn. Ngành nông
nghiệp bước vào thời kỳ sản xuất hàng hóa, giá trị sản xuất nông nghiệp ngày càng
cao. Những thành tựu đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội của huyện Phú Bình nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc thực hiện đường lối
chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH ở địa phương vẫn đặt ra
nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết, điều chỉnh như: nhiều nguồn
lực chưa được khai thác hiệu quả; tiềm năng, thế mạnh của huyện chưa được phát
huy; quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH còn chậm, chưa
đồng bộ. Nguyên nhân của những kết quả, hạn chế nêu trên có phần xuất phát từ
kết quả vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng vào tình hình thực tế của huyện.
Mặt khác trong quá trình nghiên cứu quá trình Đảng bộ Phú Bình quán triệt
và vận dụng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà
nước vào phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 nhằm đánh
giá những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm để đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện trong thời gian
tới là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ huyện Phú Bình tỉnh Thái
Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010”
làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, trong lúc đất nước bước vào thời kì quá độ xây dựng chủ
nghĩa xã hội phát triển nền kinh tế thị trường thì vấn đề kinh tế được các nhà

vực này của Nguyễn Văn Bảy, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội, 2000. Các
luận án tiến sĩ này đề cập chủ yếu dưới góc độ kinh tế - chính trị trong đó xác
định về yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH và
một số nội dung, giải pháp nhằm phát huy các thành phần kinh tế trong nông
nghiệp, nông thôn để thúc đẩy phát triển, thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội gắn
với xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong thời kỳ mới.
Những công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến sự phát triển của kinh
tế nông nghiệp ở Thái Nguyên như:
Luận văn thạc sĩ lịch sử về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Thái
Nguyên của Bùi Thanh Tùng: CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Thái Nguyên
giai đoạn 1997-2007, Đại học Sư Phạm Thái Nguyên. Luận văn đã nghiên cứu

3


một cách khá đầy đủ và hệ thống về quá trình CNH, HĐH của tỉnh Thái Nguyên
từ năm 1997 đến năm 2007.
Luận văn Thạc sĩ “Tình hình kinh tế, xã hội của thị xã Sông Công tỉnh Thái
Nguyên thời kì đổi mới (từ năm 1986 đến năm 2005)” của Nhâm Quốc Hưng, Đại
học Sư Phạm Thái Nguyên, 2006. Ở đây kinh tế nông nghiệp được nghiên cứu
trong tổng thế kinh tế - xã hội nói chung.
Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (1965-2000) của Ban chấp
hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2005) đã nêu một cách khái quát những chủ
trương của Đảng bộ tỉnh và những thành tựu chính trong quá trình phát triển kinh
tế nông nghiệp trong những năm đầu tái lập tỉnh.
Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Bình (1930-2005), Huyện ủy Phú
Bình xuất bản, 2005 đã giới thiệu một cách khái quát về tình hình kinh tế, chính
tri, văn hóa, xã hội của huyện. Trong đó có cuốn sách đã nêu lên được những chủ
trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,
Đảng bộ huyện Phú Bình cùng với đó là quá trình vận dụng các chủ trương, quan

4. Nguồn tƣ liệu
Luận văn sử dụng chủ yếu các nguồn tư liệu sau:
Văn kiện, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Bình.
Các báo cáo hàng quý, hàng năm của các phòng, ban, ngành đặc biệt là của
Phòng nông nghiệp và phòng Thống kê huyện Phú Bình.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Ngoài
ra, đề tài sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, điền dã... để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
Đề tài đã trình bày một cách hệ thống, chân thực về quá trình lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Huyện Phú Bình từ năm 2001 đến năm 2010.
Đề tài khẳng định những thành tựu đạt được, nêu ra được những hạn chế,
khó khăn và rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp của huyện Phú Bình để vận dụng vào việc đề ra phương hướng phát
triển ngành nông nghiệp cho Huyện.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo vả phần phụ lục,
nội dung luận văn được chia thành 3 chương:

5


Chương 1. Đảng bộ huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp từ năm 2001đến năm 2005
Chương 2. Đảng bộ huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên tăng cường lãnh đạo
phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạo hóa giai
đoạn 2006 - 2010
Chương 3. Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm

tọa độ địa lý từ 210 23’ đến 210 35’ vĩ bắc, 1050 51’ đến 1060 02’ kinh đông. Phía
Bắc và Tây Bắc giáp với huyện Đồng Hỷ, phía Tây và Tây Nam giáp với huyện
Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp với huyện Yên Thế, phía
Nam giáp với huyện Hiệp Hòa (tỉnh Bắc Giang). Với vị trí địa lý thuận lợi: gần

7


trung tâm tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Thủ đô Hà Nội và các
khu công nghiệp lớn như Sông Công (Thái Nguyên), các khu công nghiệp của Hà
Nội nên việc giao lưu hàng hóa thuận lợi tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế của
huyện phát triển theo hướng công nghiệp hóa và đô thị hóa.
Về hành chính
Huyện Phú Bình có diện tích là 249,36 km vuông (theo số liệu thống kê
tháng 12/2004), 1 thị trấn là Hương Sơn và 20 xã với 315 xóm. Các xã bao gồm:
Bàn Đạt, Bảo Lý, Dương Thành, Đào Xá, Điềm Thụy, Đồng Liên, Hà Châu, Kha
Sơn, Lương Phú, Nga My, Nhã Lộng, Tân Đức, Tân Hòa, Tân Khánh, Tân
Thành, Thanh Ninh, Thượng Đình, Úc Kỳ và Xuân Phương. Trong đó có 7 xã
miền núi. Huyện được chia thành ba vùng:
Vùng 1, bao gồm các xã nằm phía Bắc và Đông Bắc của huyện bên tả
ngạn của sông Máng. Đây được gọi là vùng bán sơn địa, có diện tích tự nhiên là
13.833.840 ha trong đó có 6.189 ha là đất nông nghiệp, còn lại là đất lâm nghiệp.
Vùng 1 có 8 xã, trong đó 7 xã thuộc miền núi đều nằm ở đây. Mật độ dân là 346
người/ km2.
Vùng 2, vùng Trung tâm huyện bao gồm 8 xã và thị trấn huyện lị với
diện tích tự nhiên là 5.583.880 ha trong đó đất nông nghiệp là 4.003.890 ha, còn
lại là đất lâm nghiệp và đất chuyên dụng. Khu vực này dân số đông, nguồn lao
động khá dồi dào. Mật độ dân số ở khu vực này khá cao: 834 người/km2.
Vùng 3 là vùng phía Tây và Tây Nam của huyện, bao gồm có 6 xã với
diện tích tự nhiên là 4518,39 ha. Đất nông nghiệp là 3652 ha, còn lại là đất lâm

Đất phù sa sông Cầu được bồi tụ hàng năm có diện tích 1538,6 ha chiếm tỷ
lệ 6,3 % diện tích đất tự nhiên. Loại đất này được xếp vào loại đất canh tác tốt
nhất trong huyện, khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng tốt.
Đất trồng lúa trên sản phẩm dốc tụ được phân bố rải rác trên các sườn dốc,
các thung lũng lòng chảo với diện tích 5785,61 ha chiếm tỷ lệ 23,7% diện tích
đất tự nhiên. Loại đất này giữ nước và giữ ẩm tốt, phù hợp với sự phát triển của
cây lúa nước .
Đất bạc màu có diện tích 1618,5ha chiếm tỷ lệ 6,6 % diện tích đất tự nhiên.
Loại đất này có tỷ lệ cát thô khá cao, thấm nước theo chiều sâu mạnh, năng suất
cây trồng thấp.
Ngoài các loại đất kể trên Phú Bình còn có một số loại đất khác: Đất lầy
thụt, đất thung lũng chua. Các loại đất này chiếm tỷ lệ thấp trong tổng diện tích
đất tự nhiên của huyện.

9


Nhìn chung đất đai của huyện Phú Bình được đánh giá là có chất lượng
thấp, nghèo chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước và độ ẩm kém, độ mùn tổng số
thấp từ 0,5 đến 0,7%; độ PH từ 4 đến 5 độ. Với tài nguyên đất được đánh giá như
vậy, hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp là không cao. Tuy nhiên, với tiềm lực
đất đai như trên, nếu được quy hoạch và cải tạo tốt sẽ là nguồn tư liệu màu mỡ
cho sản xuất nông nghiệp của huyện.
Về sông ngòi
Huyện Phú Bình có 2 con sông (sông Cầu và sông Đào) và 3 dòng suối
chảy qua. Đoạn sông Cầu chảy từ đập Thác Huống (xã Đồng Liên) qua 9 xã rồi
chảy về huyện Phổ Yên dài 29km. Lòng sông Cầu rộng trung bình khoảng 120m,
lưu lượng nước trung bình vào mùa mưa từ 280 đến 610 m khối/giây. Sông Đào
(sông Máng) bắt nguồn từ đập Thác Huống chảy qua 9 xã, đổ về sông Thương
(Bắc Giang) có chiều dài 31 km. Sông Đào là con sông nằm trong hệ thống đại

cho sản xuất nông, lâm nghiệp. Nó đã góp phần đưa huyện Phú Bình trở thành
vựa thóc và cũng là nguồn cung cấp thực phẩm (trâu, bò, lợn, rau quả…) rất quan
trọng cho thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp phía Nam của tỉnh
Thái Nguyên. Tuy nhiên, bên cạnh đó, huyện Phú Bình còn tồn tại không ít
những khó khăn từ thiên nhiên, điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình
phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp của huyện.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Về kinh tế
Phú Bình là một huyện thuần nông, sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế
chủ yếu của huyện, trong đó sản xuất lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng tại chỗ là chính. Huyện Phú Bình có diện tích trồng cây lương thực cao
và được coi là một trong những vựa lúa của tỉnh Thái Nguyên. Diện tích đất dành
cho sản xuất kinh tế nông nghiệp là 13,845,93 ha trong số đó đất để trồng cây
hàng năm là 10,085,14ha; đất vườn tạp là 9296,55 ha; đất trồng cây lâu năm là
1060,43 ha. Ngoài ra, toàn huyện còn có 400,8 ha nuôi trồng thủy sản.
Nguồn tài nguyên đất khá phong phú của huyện phù hợp cho việc trồng
cây lúa nước, các loại cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đỗ, vừng,
cây thuốc lá...), cây ăn quả có giá trị kinh tế cao.
Nhân dân Phú Bình sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp. Diện
tích đất nông nghiệp là 13,845,93 ha trong đó có 10,085,14 ha đất trồng cây hàng
năm; 9,296,55 ha đất vườn tạp, 1,060,43 ha đất trồng cây lâu năm. Với tiềm năng
đất đai như vậy, nhân dân Phú Bình cần cù lao động, giàu kinh nghiệm sản xuất,
11


Phú Bình có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Ngoài ra Phú Bình
còn có 400,8 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản. Trong nông nghiệp, trồng trọt và
chăn nuôi vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Năm 2005, trong toàn huyện diện tích đất nông nghiệp là 13,622,79 ha,
diện tích đất lâm nghiệp là 6,229,93 ha; sản lượng lương thực có hạt đạt 66376 tấn;

Do điều kiện địa lý và giao thông thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa nên
việc buôn bán có vị trí đáng kể trong nền kinh tế của huyện. Hệ thống chợ lớn
nằm bên cạnh đường giao thông góp phần tích cực cho việc giao lưu hàng hóa
đối với các vùng xung quanh như chợ Đồn (xã Kha Sơn), chợ Hanh (xã Thượng
Đình), chợ Tân Đức ( xã Tân Đức), chợ Cầu (xã Xuân Phương). Ngoài cung cấp
lương thực, thực phẩm cho thị trường Thái Nguyên, Phú Bình còn cung cấp
lương thực và thực phẩm cho Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội.
Dân cư, xã hội
Dân cư huyện Phú Bình do nhiều bộ phận hợp thành. Bên cạnh bộ phận
lớn người dân bản địa sống lâu đời là bộ phận dân cư do chủ những của đồn điền
người Pháp và người Việt chiêu mộ vào làm thuê dưới thời Pháp thuộc. Thời kỳ
kháng chiến, còn một bộ phận dân cư là đồng bào các tỉnh ở vùng bị địch chiếm
đóng tản cư lên sau đó định cư lâu dài. Bộ phận khác là dân cư các địa phương
khác tự do đi đến địa bàn của huyện để sinh cơ, lập nghiệp.
Về thành phần tộc người: bao gồm dân cư của 14 tộc anh em sinh sống,
trong đó người Kinh chiếm đại đa số là 126,144 người, chiếm tỷ lệ 93,3%, đứng
vị trí thứ 2 là người Nùng với 4417 người chiếm tỷ lệ 3,27%, người Sán Dìu
2309 người chiếm 1,7%, người Tày 1503 người chiếm 1,1%, số còn lại là người
Hoa, người Thái, người Khơ Me, người Mường, người Hmông, người Dao,
người Sán Chay chiếm tỷ lệ 0,56 %. Như vậy, với nhiều tộc người cùng sinh
sống, hoạt động sản xuất kinh tế- văn hóa, huyện Phú Bình có nhiều nét văn hoá
pha trộn và có nét đặc sắc riêng làm cho phong tục, tập quán, văn nghệ dân gian
rất phong phú và đa dạng. Huyện đã có nhiều phương sách phù hợp để giúp đời
sống nhân dân được nâng cao, mở mang dân trí tại các vùng sâu, vùng xa, thực
hiện chương trình: điện, đường, trường, trạm…
Nhìn nhận một cách tổng quan, nguồn lao động của Phú Bình khá dồi dào
tuy nhiên chủ yếu là lao động giản đơn, sinh sống bằng nghề nông. Tỷ lệ lao
động được đào tạo nghề còn thấp, vấn đề tạo việc làm trên địa bàn huyện còn
nhiều hạn chế. Đối với lực lượng lao động trẻ, được đào tạo nghề thường thoát ly
khỏi địa bàn, đi tìm việc làm tại các huyện hoặc tỉnh khác. Những đặc điểm về

phản đế ở Kha Sơn chính là tổ chức tiền thân của Đảng bộ Phú Bình ngày nay.
Từ nhóm yêu nước này, năm 1941 Hội Nông dân phản đế, Hội Thanh niên phản
đế đầu tiên của huyện được thành lập ở xã Kha Sơn Hạ và nhanh chóng sau đó
lan rộng ra các nơi khác trong huyện (Kha Sơn Thượng, Mai Sơn). Năm 1943,
huyện Phú Bình cùng với huyện Phổ Yên và huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang) được
Trung Ương chọn làm An Toàn Khu II ( gọi tắt là ATKII). Tháng 7/1943 tại một
địa điểm bí mật trong rừng Giác (Kha Sơn Hạ), ông Ngô Thế Sơn (thay mặt Ban

14


cán sự Đảng ATK II) đã tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng Kha Sơn Hạ. Đến
tháng 02/1944, Chi bộ Đảng Kha Sơn Thượng được thành lập. Như vậy, trong
hai năm 1943, 1944 qua phong trào cách mạng của quần chúng, Ban cán sự Đảng
ATK II đã thành lập được 2 chị bộ Đảng ở Phú Bình. Hai chi bộ đảng này hoạt
động theo sự chỉ đạo của Ban cán sự ATKII và tổ chức Đảng của Bắc Giang.
Tháng 7/1945, sau một thời gian hoạt động, tích cực chuẩn bị, được sự đồng ý
của Xứ ủy Bắc Kỳ, Tỉnh ủy Bắc Giang triệu tập Hội nghị toàn thể đảng viên của
huyện Phú Bình, Ban cán sự Đảng bộ huyện Phú Bình được thành lập. Hội nghị
này được coi như là Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ nhất. Sự kiện này đã đánh
dấu bước tiến mới của phong trào cách mạng trong huyện, đồng thời cũng là
nhân tố quyết định và đảm bảo cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Phú
Bình giành thắng lợi. Sau khi ra đời, Ban cán sự Đảng bộ huyện Phú Bình đã
lãnh đạo nhân dân trong huyện khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945, góp
phần vào thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám trong cả nước.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ huyện Phú Bình, nhân dân trong huyện đã có nhiều đóng
góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nhiều địa danh
trong huyện đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận là di tích cách mạng như: Chùa
Mai Sơn, Đình Kha Sơn… Với những đóng góp to lớn trong kháng chiến chống

triển của nông nghiệp. Trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, mặc dù gặp
phải nhiều khó khăn nhưng kinh tế nông nghiệp của huyện nhìn chung vẫn phát
triển khá ổn định.
Trong những năm 1981-1985, Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981 1985), tiếp thu và vận dụng đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ V, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV vào điều kiện cụ thể của địa
phương, đặc biệt là việc triển khai thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về việc: Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người
lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp, Đảng bộ huyện Phú Bình lãnh đạo nhân
dân trong huyện giành được những kết quả nhất định trong phát triển kinh tế, nổi bật
là kinh tế nông nghiệp. Đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nông dân được cải
thiện, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững.
Tuy vậy, kinh tế nông nghiệp của Phú Bình vẫn còn đối mặt với nhiều khó
khăn, bất ổn: sản xuất không ổn định, vật tư thiết bị thiếu; giá cả thị trường tăng
nhanh do tiền lương thực tế ngày càng giảm sút, đời sống công nhân viên chức,
lực lượng vũ trang tiếp tục khó khăn. Năng lực lãnh đạo và hiệu lực quản lý của
một số cấp ủy Đảng và chính quyền trong đó có cả Huyện ủy và Ủy ban nhân
dân huyện còn bộc lộ một số mặt yếu kém. Trong hoàn cảnh đó, Đại hội đại biểu
Đảng bộ huyện lần thứ XIX được tổ chức từ ngày 20 đến ngày 23/9/1986. Căn cứ
vào đặc điểm tình hình của địa phương và thực hiện tốt ba chương trình kinh tế
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đại hội ra Nghị

16


quyết xác định “Tập trung mọi cố gắng của toàn Đảng, toàn dân trong huyện,
khai thác tiềm năng đất đai, lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển nông
nghiệp một cách toàn diện, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn về lương thực, thực
phẩm, hàng xuất khẩu, phát triển lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tự sản xuất
một phần hàng tiêu dùng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân”.
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyết

đơn vị kinh tế tự chủ, sự quản lý của Ban Quản trị trong các HTX là không còn
phù hợp. Vì vậy, phần lớn các Ban Quản trị trong số 97 HTX nông nghiệp của
toàn huyện đều không có nội dung hoạt động và điều hành. Mặt khác, trong quá
trình thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, trong huyện đã xảy ra nhiều cuộc
xung đột, tranh chấp ruộng đất làm cho đời sống xã hội của nhân dân bất ổn.
Trước tình hình đó, nhằm khắc phục những hạn chế trên, Huyện uỷ tổ chức họp
hội nghị (mở rộng) để ra kế hoạch thực hiện Quyết định 427 của UBND tỉnh
Thái Nguyên. Hội nghị nhấn mạnh: “Dù có đổi mới nhưng HTX nông nghiệp vẫn
phải giữ vững, sản xuất phải phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nông
dân không ngừng được tăng lên”. Thực hiện Nghị quyết Huyện uỷ (mở rộng),
Ban Quản trị các HTX trong huyện từng bước chuyển nội dung hoạt động từ
quản lý điều hành sản xuất sang cung cấp dịch vụ đầu vào (giống, nước, phân
bón…) cho sản xuất nông nghiệp.
Từ ngày 09 đến ngày 11/3/1989, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX được
tổ chức. Đại hội đã tiếp tục bàn đến 3 chương trình kinh tế do Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI đề ra Đại hội xác định quyết tâm “giải quyết cho được vấn đề
lương thực, thực phẩm đủ ăn và có tích lũy; đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng,
tăng cường mở rộng hàng xuất khẩu để ổn định và từng bước nâng cao, cải thiện
đời sống vật chất tinh thần của nhân dân các dân tộc trong huyện”.[1,tr.313]
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện mục tiêu trên diễn ra trong điều kiện
phải đối đầu với nhiều khó khăn lớn, nổi lên là tình trạng thiếu vốn, thiếu vật tư, thời
tiết tiếp tục diễn biến thất thường, (năm 1990, xảy ra cả hạn hán và lũ lụt gây thiệt
hại lớn cho hai vụ lúa; năm 1991, thời tiết âm u kéo dài, thiếu nắng lúa không trỗ
được, vụ chiêm xuân gần như mất trắng), sâu bệnh phát triển nhiều tuy nhiên diện
tích được phòng trừ ít… Trước hàng loạt các khó khăn trên đã dẫn đến kết quả sản
xuất lương thực tiếp tục giảm sút trầm trọng, cụ thể là: tổng sản lượng lương thực
năm 1989 đạt 45.000 tấn; năm 1990, giảm xuống còn 38.000 tấn; năm 1991, con số
này tiếp tục giảm chỉ còn 34.200 tấn. Sản lượng thóc cũng giảm mạnh: năm 1989
đạt 36.417 tấn, năm 1990 giảm xuống chỉ còn 28.968 tấn. Theo đó, bình quân lương
thực trên đầu người giảm từ 402 kg năm 1989 xuống 342 kg năm 1990[1,tr.314].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status