ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ THƠ
ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (THANH HÓA)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thành Vinh
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của
riêng tôi. Các tài liệu và số liệu trích dẫn trong luận văn là
trung thực và có xuất xứ rõ ràng. Nếu sai sót, tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm.
Người viết cam đoan
Phạm Thị Thơ
2
: Tổng sản phẩm trong nước
HTX
: Hợp tác xã
KH-CN
: Khoa học và công nghệ
KHKT
: Khoa học kỹ thuật
KTNN
: Kinh tế nông nghiệp
KT-XH
: Kinh tế - xã hội
NTM
: Nông thôn mới
: Ủy ban nhân dân
việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không phát triển nông
nghiệp thì không có cơ sở phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp
nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công
nghiệp làm ra...” [58, tr. 180].
Trong thực tế, sản xuất nông nghiệp luôn là nền tảng, là một trục phát
triển và là trụ đỡ của nền kinh tế. Nông nghiệp cải thiện đời sống người dân,
6
giảm nghèo, cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, tạo nên sự ổn
định, đảm bảo an toàn cho phát triển của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã
hội, đảm bảo cho công nghiệp phát triển “như hai cái chân của nền kinh tế”.
Bên cạnh đó, nông nghiệp giúp phát triển thị trường nội địa, đồng thời mang
lại nguồn ngoại tệ và nguồn nhân lực đáng kể cho nền kinh tế.
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và qua quá trình lãnh đạo thực tiễn,
Đảng ta luôn nhận thức rõ vai trò, vị trí của nền KTNN. Trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, công tác
lãnh đạo phát triển KTNN luôn được sự quan tâm thường xuyên của Đảng.
Đảng ta luôn chú trọng lấy việc “phát triển nông nghiệp làm gốc”, coi phát
triển nông nghiệp là “mặt trận hàng đầu”, là trung tâm và là nền tảng cơ bản
để phát triển các ngành kinh tế khác. Qua đó, chủ trương tập trung nguồn lực
xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững,
bảo đảm vững chắc an ninh lương thực trước mắt cũng như lâu dài; xây dựng
giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững
mạnh, tạo nền tảng KT-XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH.
Tuy nhiên, nông nghiệp nước ta hiện nay cũng đang đối diện với rất
nhiều khó khăn. Nông nghiệp tăng trưởng liên tục và toàn diện nhưng nhìn
lại, tốc độ tăng trưởng đang có xu hướng chậm hơn, thu nhập của người dân
ngày càng giảm. Môi trường sản xuất ngày càng bị suy thoái chứa đựng sự đe
triển thành phố Thanh Hóa và thị xã Sầm Sơn (trực thuộc tỉnh), Quảng Xương
thường xuyên bị chia tách địa giới hành chính (từ năm 1971 đến năm 2015,
huyện Quảng Xương phải chịu 6 lần chia tách, tổng cộng 16 xã và một thị
trấn với diện tích trên 60 km² và dân số gần 100.000 người cho hai đơn vị
hành chính nêu trên). Mặc dù là vùng trọng điểm lúa của tỉnh và là một trong
những huyện được đánh giá là có tiềm năng về thủy, hải sản, đồng thời có vị
trí trọng yếu về an ninh - quốc phòng của tỉnh, nhưng trong cơ chế cũ, sản
xuất đều lệ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên và mang tính tự phát, kém
8
phát triển. Ruộng đồng manh mún, sản xuất nhỏ lẻ, tiểu thủ công lạc hậu, tư
duy lãnh đạo bị bó hẹp… là những nguyên nhân làm cho sản xuất nông
nghiệp kém phát triển, đời sống nhân dân rất nghèo khó. Cái nghèo khó của
Quảng Xương có thể xếp vào hạng nhất nhì trong vùng đồng bằng ven biển
của tỉnh Thanh Hóa.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhất là từ sau khi thực hiện chủ
trương của Đảng đẩy mạnh phát triển KTNN, nông thôn theo hướng CNH,
HĐH, Đảng bộ huyện Quảng Xương đã tìm ra những hướng đi thích hợp, phù
hợp với điều kiện thực tế của địa phương, từng bước khai thác được những lợi
thế quan trọng để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, nhất là đối với KTNN và
xây dựng NTM với những bước phát triển vững chắc.
Nghiên cứu về Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo phát triển
KTNN trong thời kỳ đổi mới, cụ thể là trong giai đoạn từ 1996-2014 là đáp
ứng yêu cầu nghiên cứu hiện nay. Đề tài góp phần tổng kết thực tiễn quá trình
lãnh đạo của Đảng bộ huyện, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình vận
dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào phát triển kinh tế ở một địa phương
cấp huyện trước những yêu cầu mới.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, học viên chọn đề tài nghiên cứu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa [31]. Cuốn sách đã đi sâu phân tích vị trí, vai trò của
nhà nước trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu KTNN, nông thôn theo
hướng CNH, HĐH.
Lê Huy Ngọ - Nguyễn Ngô Hai (chủ biên) có cuốn Con đường công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam [56]. Cuốn sách
đã giới thiệu một cách khái quát quá trình hình thành và phát triển quan điểm
của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; giới thiệu kinh nghiệm
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của một số nước và vùng lãnh thổ;
những vấn đề đặt ra trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn - đề
ra phương hướng và giải pháp để phát triển KTNN trong thời gian tới.
Tác giả Nguyễn Văn Tiêm có cuốn Gắn bó cùng nông nghiệp, nông
10
thôn, nông dân trong đổi mới [66]. Cuốn sách bao gồm nhiều bài viết về vấn
đề phát triển nông nghiệp, nông thôn như: những phản ánh, kiến nghị để phát
triển nông nghiệp, phát triển nông thôn; về nông dân và Hội Nông dân Việt
Nam; HTX nông nghiệp ở nông thôn.
TS. Đặng Kim Sơn có cuốn Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông
thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa [64]. Trên cơ sở tổng hợp,
phân tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp
hóa ở nhiều nước trên thế giới, tác giả đã có sự liên hệ vào điều kiện cụ thể của
Việt Nam những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn như: vai trò của nông
nghiệp trong công nghiệp hóa, vấn đề cơ cấu sản xuất, giải quyết những vấn đề
về đất đai, lao động, môi trường,... trong công nghiệp hóa đất nước.
Các cuốn sách đã tập trung phân tích một cách sâu sắc vị trí, vai trò của
KTNN đối với sự phát triển kinh tế; đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông
thôn của nước ta; tính tất yếu và cách thức tiến hành CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, chưa nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề liên
tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Lê Thị Thảo (2010), Quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông
nghiệp, nông thôn Thanh Hóa (1986-2010). Luận văn ThS. Lịch sử, Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
Tạ Kim Sen (2013), Xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa: Thực
trạng và giải pháp. Luận văn ThS. Kinh tế, Đại học Kinh tế, Hà Nội.
Nguyễn Trọng Luyện (2014), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải
quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn tỉnh Thanh Hóa trong giai
đoạn hiện nay. Luận văn ThS. Khoa học chính trị Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Hà Nội.
Hoàng Phương Bắc (2015), Phát triển bền vững ngành thủy sản tại địa
bàn tỉnh Thanh Hóa. Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý, Đại học Kinh tế,
Hà Nội.
Nguyễn Thị Lê (2015), Quá trình thực hiện chủ trương hợp tác hóa
nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 1958 đến năm 1960. Luận văn ThS.
12
Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu này đã phân tích khá sâu sắc tình hình nông
nghiệp cũng như các chính sách phát triển KTNN của tỉnh Thanh Hóa. Trên cơ
sở đó, bước đầu tìm ra các giải pháp để phát triển nền KTNN trong thời gian tới.
- Nhóm các công trình nghiên cứu ở cấp huyện:
Cuốn “Địa chí huyện Quảng Xương” [53] khái quát về lịch sử, truyền
thống văn hóa, con người huyện Quảng Xương, giúp cho tác giả có được cái
nhìn tổng quát về vùng đất địa linh này.
Nguyễn Thị Hằng (2006), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Quảng
Xương tỉnh Thanh Hoá. Luận văn ThS. Nông nghiệp, Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội.
cứu cụ thể, chuyên sâu về quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo
phát triển KTNN từ năm 1996 đến năm 2014.
Các công trình nghiên cứu nêu trên là tài liệu tham khảo rất quan trọng
đối với học viên. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, kết hợp với phân tích, tổng
hợp, đánh giá tình hình phát triển KTNN của huyện, thông qua hệ thống tài
liệu sưu tầm được, đặc biệt các tư liệu là các văn bản của Đảng bộ được lưu
trữ tại các kho lưu trữ của văn phòng Huyện ủy, UBND huyện, Phòng Nông
nghiệp huyện Quảng Xương và kho lưu trữ của Tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa, góp
phần giúp học viên tập dượt xây dựng một cuốn tài liệu lịch sử về quá trình
vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng lãnh đạo phát triển KTNN
trong điều kiện cụ thể của Đảng bộ huyện Quảng Xương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
14
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Quảng Xương phát triển KTNN từ năm 1996 đến năm 2014. Đúc kết một
số kinh nghiệm để vận dụng vào phát triển KTNN trong thời kỳ mới đạt
kết quả, hiệu quả cao hơn.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các chủ trương phát triển KTNN của Đảng ta trong thời
kỳ đổi mới.
- Phân tích, luận giải, làm sáng tỏ chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng
bộ huyện Quảng Xương về phát triển KTNN qua 2 giai đoạn: từ 1996-2005
và 2006-2014.
- Phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân
trong quá trình lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng bộ huyện Quảng Xương
từ năm 1996 đến năm 2014.
- Đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào phát triển KTNN của
Đảng, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và Đảng bộ huyện Quảng Xương đã công bố
hoặc lưu trữ tại các cơ quan chức năng: Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương
Đảng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kho lưu trữ
Văn phòng Tỉnh ủy và văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa, kho lưu trữ Văn
phòng Huyện ủy và UBND huyện Quảng Xương, Chi cục Thống kê huyện
Quảng Xương.
- Các sách chuyên khảo, luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học,
kỷ yếu, hội thảo khoa học đã công bố liên quan đến phát triển KTNN.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp logic và kết
hợp chặt chẽ hai phương pháp đó.
Đồng thời, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh... để tái hiện bức tranh KTNN của huyện Quảng
Xương dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện từ năm 1996 đến năm 2014.
6. Đóng góp của luận văn
- Đề tài góp phần hệ thống hóa, tổng quát về sự lãnh đạo của Đảng bộ
16
huyện Quảng Xương đối với KTNN giai đoạn 1996-2014, làm rõ những
thành tựu nổi bật, hạn chế, thách thức trong quá trình lãnh đạo, đúc kết những
kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng bộ huyện
Quảng Xương, làm luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để Đảng bộ huyện
tiếp tục lãnh đạo phát triển KTNN trong những năm tiếp theo.
- Là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu
cho những người quan tâm đến vấn đề phát triển KTNN của huyện Quảng
Xương và của tỉnh Thanh Hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
Hoàng và sông Lý cải tạo từ sông tự nhiên mà thành từ năm 1978. Quảng
Xương có bờ biển dài 18,2 km với phần thềm lục địa rộng lớn là điều kiện
18
phát triển nghề biển, nuôi trồng thủy sản và du lịch. Cùng với đó là 2 cửa lạch
đã tạo ra vùng triều có diện tích hơn 1.300 ha, có 9 xã ven biển tham gia khai
thác hải sản và 10 xã vùng triều tham gia nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước
lợ. Vùng biển Quảng Xương chủ yếu là vùng bãi ngang, tuy vậy nguồn lợi hải
sản phong phú: cá, tôm he, tôm sắt, tôm bột, cua, mực, moi, sứa... nhiều năm
ngư dân khai thác đạt sản lượng lớn (sản lượng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao). Vùng
triều Quảng Xương là một thế mạnh để nuôi trồng thủy sản nước lợ, sản xuất ra
sản phẩm có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng.
Phía Bắc huyện Quảng Xương là thành phố Thanh Hóa với Khu Công
nghiệp Lễ Môn, phía Tây giáp huyện Nông Cống và Đông Sơn, phía Đông
giáp biển Đông, phía Nam là Khu Công nghiệp Động lực Nghi Sơn (huyện
Tĩnh Gia). Như vậy, Quảng Xương có vị trí địa kinh tế, kết nối giữa Thành
phố Thanh Hóa và Khu kinh tế động lực Nghi Sơn, đây là lợi thế đặc biệt
quan trọng để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng.
Huyện Quảng Xương có đường Quốc lộ 1A chạy theo hướng Bắc - Nam
từ cầu Quán Nam (Quảng Thịnh) đến cầu Ghép (Quảng Trung) dài 18 km, rất
thuận tiện cho việc lưu thông trong địa bàn huyện. Có ba tuyến đường 4A, 4B,
4C chạy song song dọc bờ biển cũng tạo nên sự lưu thông dễ dàng trong vùng.
Ngoài ra còn có Quốc lộ 47 từ Thành phố Thanh Hóa đi Sầm Sơn ở phía Bắc
và Quốc lộ 48 từ Ngã ba Voi đi Nông Cống, các tuyến đường liên xã... thuận
tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hóa, phát triển KT-XH.
Về hành chính
Từ năm 1975 đến năm 2015, Quảng Xương đã trải qua 6 lần điều chỉnh
địa giới hành chính để hình thành và phát triển hai đơn vị là Thành phố Thanh
nhiều nhánh sông từ nhiều miền đất chảy vào để đổ ra biển Đông: sông
Mã, sông Yên, sông Hoàng, sông Mã Bà, sông Lý, sông Rào. Sông ngòi
đóng vai trò quan trọng trong việc bồi bổ đất và cải tạo đất, nhất là thời
chưa có đê hoặc không cần đê. Đất tốt nhất là đất bãi, phù sa bồi đắp hàng
20
năm do sông ngòi tràn lên ngoại đê, nhưng mùa màng thất thường tùy
theo khí hậu thay đổi.
Miền Tây huyện là vùng trọng điểm lúa, ở giữa ba, bốn con sông
quây vùng bốn phía. Đồng ruộng các xã ven đê, trong đê luôn bị úng ngập
vì mùa mưa đồng thấp hơn nước sông không có chỗ tiêu úng. Biển ở đây
nền quá thấp, bồi chậm, được nhiều nguồn lợi cói lác, tôm cá th ì kém thóc
lúa rau màu. Đất nói chung độ pH cao, ít nơi chua nhẹ. Ưu điểm nền cao,
thấp dồn về phía đông, mùa mưa lụt dễ tiêu [53, tr. 15].
Theo nghiên cứu của tác giả Rô-bơ-canh trong công trình nghiên cứu địa lý
về Xứ Thanh, khí hậu Quảng Xương thuộc tiểu vùng khí hậu ven biển. Nhiệt độ
bình quân cả năm là 19,480C, phân chia làm hai mùa rõ rệt. Độ ẩm tháng 2 và
tháng 3 cao nhất (86%), tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, tháng 10 và độ ẩm thấp
hơn (80%) do trời nhiều mây hơn và bốc hơi ít hơn. Mùa nóng từ tháng 4 đến
tháng 7 có bão xen hạn hán kéo dài. Từ tháng 11, gió Bắc thổi mạnh từng đợt, trời
hết mưa, độ ẩm tương đối giảm đi, nhưng trời vẫn nhiều mây xám. Mùa nóng
nhiệt độ cao nhất 380C, thấp hơn vùng giữa và vùng cao nhờ gió đông thổi vào.
Mùa rét nhiệt độ xuống dưới 100C. Nói chung, tiểu vùng này có nền nhiệt độ cao,
mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tương đối mát, độ ẩm cao, mưa vừa phải, đòi
hỏi trong sản xuất nông nghiệp cần chú ý phòng chống bão và mưa lớn.
1.1.2. Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội
Đến năm 2014, Quảng Xương có dân số 225.101 người, gần 61 nghìn
hộ, vùng biển chiếm 1/3 dân số trong huyện. Xuất phát từ đặc điểm điều kiện
Ở Quảng Xương, làng nào cũng có nghề thủ công và chăn nuôi gia súc.
Quảng Xương đã hình thành những vùng thủ công nghiệp lâu đời và nổi tiếng
như đan cói, dệt chiếu ở vùng nước lợ: Quảng Chính, Quảng Trung qua
Quảng Trường lên các xã Quảng Vọng, Quảng Phúc; đan lát, mây tre đan ở
các làng thuộc tổng Thái Lai, Vệ Yên (Quảng Ninh, Quảng Đức, Quảng
Phong...); nuôi tằm kéo tơ ở vùng đất cát ven biển; khâu nón, thợ rèn, nấu
rượu, làm quạt ở tổng Cung Thượng, Vệ Yên, Thủ Chính (nay là các xã
Quảng Cát, Quảng Hải, Quảng Tân...). [7, tr. 26]
22
Xuất phát từ vị trí địa lý, ngư nghiệp ở Quảng Xương giữ một vị trí khá
quan trọng, từ xưa đánh cá biển đã trở thành nghề truyền thống của cư dân
ven biển. Ngoài ra, còn nghề chắp gai, đan lưới thường được phụ nữ, trẻ em
và người già đảm nhiệm. Cuộc sống của lao động ngư nghiệp phụ thuộc hoàn
toàn vào thiên nhiên, khi biển lặng thì no đủ, lúc biển động thì thiếu đói, thậm
chí mất cả tính mạng. Bên cạnh nghề đánh bắt hải sản, việc chế biến thủy sản
(chược, nước mắm, mắm tôm, cá, mực, tôm khô...) lại tập trung ở một số hộ
giàu có ở hai đầu Nam - Bắc huyện: vùng cửa Hới và Cự Nham. Riêng làm
muối chỉ có ở Ngọc Giáp (xã Quảng Chính cũ) vì vùng Hới và Cự Nham là
hai tụ điểm lớn, đồng thời là đầu mối giao thông sông, biển với thị trường
trong và ngoài tỉnh. [7, tr. 26]
Ngoài đánh bắt, chế biến hải sản vùng ven biển, nông dân Quảng Xương
còn có nghề bắt rươi, cua, cáy ở vùng nước lợ thuộc khu vực cửa Chào phía
Đông Bắc và khu vực sông Yên phía Tây Nam huyện. Đây không chỉ là nguồn
thực phẩm hàng ngày mà còn cung cấp cho thị trường trong và ngoài huyện.
Hệ thống sông, rạch, ao hồ là nơi nuôi thả thủy sản, vì vậy đánh bắt cá nước
ngọt cũng giữ một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người dân.
Lao động vùng biển đông, ngư dân có kinh nghiệm, nghề nghiệp thông
thạo, chịu đựng sóng gió, biết nắm bắt ngư trường để tổ chức khai thác quanh
Chăn nuôi, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, thủ công nghiệp, dịch vụ có
bước phát triển khá. [4, tr. 2]
Từ chỗ người nông dân chỉ quen với lối sản xuất dựa vào thiên nhiên, tự
cung tự cấp, với những loại giống cây trồng, vật nuôi năng suất thấp đã hình
thành ý thức sản xuất theo quy trình KHKT. Hệ thống trạm bơm điện, trạm bơm
được tu bổ, nâng cấp. Hệ thống điện sáng nông thôn phát triển nhanh, 43/43 xã,
thị trấn có điện và gần 90% số hộ dùng điện sinh hoạt. Hệ thống đường giao
thông nông thôn được quy hoạch nâng cấp và mở rộng. Các loại máy cày, bừa
nhỏ, máy xay sát, tuốt lúa, xe vận tải cơ giới nhỏ, thuyền mảng gắn máy được sử
dụng rộng rãi, góp phần giải phóng và tăng năng suất sức lao động.
Thứ hai, CCKT có bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa,
24
khai thác ngày càng tốt hơn các nguồn lực, phù hợp với xu thế phát triển và
yêu cầu của thị trường.
Qua nhiều năm trăn trở tìm hướng đi, cách giải quyết, trên cơ sở khảo
sát quy hoạch với những chính sách kinh tế đòn bẩy, bước đầu tạo được sự
chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng các
ngành ngư nghiệp, thủ công nghiệp dịch vụ (năm 1991 nông nghiệp: 78,3%;
tiểu thủ công nghiệp: 17,6%; hải sản: 2,1%; dịch vụ: 2%, đến năm 1995,
tương ứng là: 73,8%; 6,7%; 13,2%; 6,3%). [4, tr. 2]
Chủ trương khai thác thế mạnh tiềm năng của từng vùng được triển khai.
Đã hình thành 3 vùng kinh tế, mỗi vùng có ngành sản xuất mũi nhọn: vùng
đánh bắt hải sản, trồng rau màu, cây ăn quả; vùng thâm canh cây lúa, chăn
nuôi, thủ công nghiệp; vùng nuôi trồng hải sản và trồng cói có giá trị cao.
Từ sản xuất độc canh, đơn nghề, các hộ nông dân đã chuyển sang sản
xuất theo mô hình tổng hợp. Nhiều giống vật nuôi, cây trồng có giá trị hàng
hóa được nuôi trồng rộng rãi. Sản phẩm hàng hóa nông nghiệp tăng đáng kể.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển. Đã quan tâm đầu tư ứng dụng tiến bộ