ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------
KHIẾU THỊ OANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------
KHIẾU THỊ OANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2013
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Lương Diệu
Em xin trân trọng cảm ơn!
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1. CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM
ĐỊNH) TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000.................................................... 11
1.1. Các yếu tố tác động đến chủ trương phát triển nông nghiệp
của Đảng bộ huyện Ý Yên ...................................................................... 11
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ý Yên ................. 11
1.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng
sản Việt Nam và của Đảng bộ tỉnh Nam Định ...................................... 13
1.1.3. Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên
trước năm 1997 .................................................................................... 15
1.2. Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của
Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 1997 đến năm 2000 ............................... 18
1.2.1. Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên............... 18
1.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện từ năm 1997 đến năm 2000 ............. 23
Tiểu kết Chương 1 .................................................................................. 30
Chương 2. ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH) LÃNH ĐẠO
ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM
2001 ĐẾN NĂM 2013 ................................................................................ 31
2.1. Chủ trương và sự chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông
nghiệp của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2001 đến năm 2005 ............ 31
2.1.1. Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên............... 31
2.1.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện ......................................................... 36
2.2. Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2006 đến
năm 2013 ................................................................................................ 45
2.2.1.Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên ............... 45
: Vườn – ao – chuồng
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa từ năm 1990 – 1996 ........... 15
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất cây trồng, vật nuôi năm 1997 – 2000 ................... 28
Bảng 2.1: Diện tích cây trồng năm 2001-2005 ............................................. 39
Bảng 2.2: Diện tích và giá trị xuất khẩu của cây vụ Đông từ năm 2007- 2013 .... 54
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất
đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng vật nuôi để làm tư liệu và
nguyên liệu lao động chủ yếu tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên
liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong lịch sử phát
triển kinh tế xã hội của hầu hết các quốc gia bởi nó là ngành sản xuất ra tư
liệu tiêu dùng thiết yếu nhất cho con người như lương thực, thực phẩm mà
không một ngành sản xuất nào có thế thay thế. Đối với Việt Nam, nông
nghiệp càng có vai trò vô cùng quan trọng bởi nó là ngành kinh tế trọng yếu
đặt nền móng cho sự phát triển của đất nước.
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã
luôn quan tâm đặc biệt đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp bằng việc đưa ra
các Nghị quyết có tính chất bước ngoặt như: Chỉ thị số 100-CT/TW ngày
13/1/1981 của Ban Bí thư khóa IV về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán
sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông
nghiệp”; nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI về “đổi mới quản lý kinh tế
Định) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013”
làm đề tài Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, kinh tế nông nghiệp luôn thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu. Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu liên quan
đến kinh tế nông nghiệp. Để đạt được mục tiêu của mình các tác giả đã nghiên
cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Qua quá trình tìm hiểu, khảo cứu, tôi
chia thành hai nhóm sau:
Nhóm 1: Các công trình, bài viết về nông nghiệp, kinh tế nông
nghiệp, tiêu biểu như:
Nguyễn Văn Khánh (2001), Biến đổi cơ cấu ruộng đất và nông nghiệp
ở vùng Châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội. Công trình đã khảo sát 4 địa phương đại diện cho 4 loại hình phát
triển kinh tế của nông thôn châu thổ sông Hồng trước và sau khoán 10. Đó là:
2
Mô Trạch - một làng thuần nông, chuyên canh cây trồng; Phụng Thượng chuyển đổi cơ cấu vật nuôi và Hoàng Liệt dưới sự tác động của quá trình đô
thị hoá.Từ đó nêu tiềm năng và những biến đổi trong quan hệ ruộng đất cũng
như cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nông thôn đồng bằng sông Hồng; những
bài học kinh nghiệm và hướng phát triển.
Lê Quang Phi (2004), Đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Công trình nêu lên
tầm quan trọng của CNH-HĐH trong nông nghiệp của Việt Nam, qua đó đưa
ra những biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng
CNH-HĐH trong thời gian tới.
Ngoài những công trình trên, còn có những công trình tiêu biểu khác đề
cập đến kinh tế nông nghiệp như: Hồng Vinh (1998), CNH-HĐH nông
nghiệp, nông thôn: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Thảo (2004), Góp phần phát triển bền vững nông
bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương từ
năm 1997 dến năm 2003. Khẳng định những thành tựu và nêu ra một số hạn
chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH
ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2003. Rút ra một số kinh nghiệm của
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thời gian 1997-2003.
- Đào Thị Bích Hồng (2005), Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo phát
triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm 2003, Luận án Tiến sĩ
Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội. Luận án trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu vận dụng chủ trương
của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn vào thực tiễn địa phương, từ
đó đưa ra những đánh giá và bài học kinh nghiệm để vận dụng vào thực tế
nhằm phát triển hơn nữa về nông nghiệp và nông thôn trong thời gian tới
- Đào Thị Vân (2004), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH giai đoạn 1997-2003, Luận văn Thạc sĩ
Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn trình bày quá
trình Đảng bộ Hưng Yên vận dụng đường lối của Đảng để lãnh đạo chuyển
4
dịch cơ cấu kinh tế địa phương từ 1997-2003, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và
nguyên nhân của quá trình đó. Tổng kết một số kinh nghiệm trong lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ Hưng Yên làm cơ sở cho việc hoạch
định công tác này trong thời gian tới.
- Nguyễn Tuấn Thành (2009), Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo phát
triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm 1997 – 2006, Luận văn Thạc
sĩ Lịch sử Đảng, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận Chính trị,
Hà Nội. Luận văn khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cũng như
chủ trương xây dựng nông nghiệp, nông thôn của đảng bộ tỉnh Bắc Giang.
Nghiên cứu quá trình chỉ đạo xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ
Những luận văn, luận án trên đã nêu lên được sự lãnh đạo của Đảng đối
với việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở các địa phương như: Thái Bình, Hà
Tây (cũ), Thái Nguyên,... nhưng chưa có công trình nào đề cập đến sự lãnh
đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 1997 đến năm 2013.
Mặc dù vậy nhưng tất cả những công trình nghiên cứu trên đã là nguồn
tài liệu tham khảo vô cùng quý báu để phục vụ cho tôi nghiên cứu đề tài.
Cho đến nay, tư liệu viết về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp huyện
Ý Yên không nhiều: có chăng chỉ là cuốn Lịch sử Đảng bộ Huyện Ý Yên (sơ
thảo) năm 1995, những Báo cáo tổng kết hàng năm của Uỷ ban nhân dân huyện
và các Báo cáo Chính trị của Đảng bộ huyện. Các công trình này chỉ đề cập một
cách tổng quát về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp mà không đưa ra một
cách có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đối với việc phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013.
Các công trình trong hai nhóm kể trên đã lại đem nhiều tư liệu cần thiết
để tác giả có thể tham khảo, kế thừa... Song riêng về sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện Ý Yên trong phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013
vẫn là chưa được làm rõ, hy vọng với sự nỗ lực của tác giả sẽ bổ cứu được
khoảng trống này.
6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
của Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) từ năm 1997 đến năm 2013, đánh giá
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, từ đó rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn về vấn đề này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
năm 2013. Chọn mốc năm 1997 - vì Đảng bộ huyện Ý Yên bắt đầu quán triệt
thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; mốc kết thúc nghiên cứu là năm 2013 – năm có sự tổng kết
đánh giá tròn 15 năm Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ này.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Ý Yên
(Nam Định) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn 1 thị trấn và
31 xã trong huyện.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát
triển kinh tế, kinh tế nông nghiệp.
5.2. Nguồn tư liệu
Luận văn dựa vào các nguồn tài liệu cơ bản sau để nghiên cứu:
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến vấn đề
kinh tế, kinh tế nông nghiệp;
- Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ và chính quyền huyện
Ý Yên (Nam Định) trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp;
- Các tài liệu của Cục Thống kê tỉnh Nam Định, Phòng Thống kê của
huyện Ý Yên về vấn đề này từ năm 1997 đến năm 2013;
- Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo những công trình, bài viết có liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
8
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp
lịch sử và phương pháp logic, ngoài ra luận văn còn sử dụng kết hợp các
Chương 2. Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) lãnh đạo đẩy mạnh
phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2013
Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm
10
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN
(NAM ĐỊNH) TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000
1.1. Các yếu tố tác động đến chủ trương phát triển nông nghiệp của
Đảng bộ huyện Ý Yên
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ý Yên
Về điều kiện tự nhiên: Ý Yên là một huyện nằm ở phía Tây nam tỉnh
Nam Định, phía Bắc giáp 2 huyện Bình Lục, Thanh Liêm; phía Đông Bắc
giáp huyện Vụ Bản; phía Đông Nam giáp Nghĩa Hưng, có sông Đào làm ranh
giới tự nhiên; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, lấy sông Đáy làm
ranh giới.
Toàn huyện có diện tích là: 241.235 km2, diện tích đất nông nghiệp
bình quân một nhân khẩu là 735m2 [17, tr. 2]. Đất đai của huyện khá đa dạng,
thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt nặng, đất thịt trung bình và đất cát pha.
Đây là một thuận lợi lớn cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là
trồng lúa nước và nuôi trồng thuỷ sản. Ở vùng đất ven sông trong và ngoài đê
có thể phát triển mạnh các loại cây công nghiệp như: đậu đỗ, lạc, … và các
loại rau màu khác.
Là huyện nằm trong vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, có khí hậu
nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông
nghiệp. Hai con sông Đáy và sông Đào là nguồn cung cấp nước chính phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hàng năm cũng bồi đắp lượng phù sa lớn cải
rất cao.
Ngoài việc canh tác lúa nước, Ý Yên còn được biết đến với những làng
nghề thủ công nghiệp nổi tiếng như: nghề mộc ở La Xuyên - Ý Yên, sơn mài
ở Cát Đằng - Yên Tiến, nghề đúc đồng ở thị trấn Lâm, nghề gỗ thủ công mỹ
nghệ ở Yên Ninh,…
Mạng lưới dịch vụ được hình thành và phát triển ở tất cả các xã, thị
trấn, hệ thống cung ứng hàng hóa ngày càng đa dạng và phong phú. Đã bước
12
đầu hình thành nhiều khu dịch vụ tập trung ở thị trấn Lâm, khu vực Bo, khu
vực Yên Thắng.
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bước đầu được
hình thành đã tạo được công ăn việc làm cho người dân làm cho đời sống của
người dân được cải thiện hơn.
Với những điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội như trên đã
cho thấy, Ý Yên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng
theo xu hướng kinh tế hàng hóa, đặc biệt với một vị trí điạ lý thuận lợi đã là
một điều kiện quan trọng để huyện phát triển kinh tế năng động và hòa nhập
với việc phát triển kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật trong huyện và trong
tỉnh. Đồng thời, những điều kiện trên đã tạo nên cơ sở nền tảng để Đảng bộ
huyện hoạch định được các chủ trương, chính sách đúng đắn trong quá trình
lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng
theo hướng CNH – HĐH.
1.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản
Việt Nam và của Đảng bộ tỉnh Nam Định
Việt Nam xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, do vậy, kinh tế
nông nghiệp luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển. Trong quá
trình lãnh đạo kinh tế đất nước, Đảng luôn đề ra những chủ trương để phát
triển kinh tế nông nghiệp cho xứng với tiềm năng của đất nước. Tại Đại hội V
kinh tế hộ nông dân, coi đây là đơn vị kinh tế tự chủ và chỉ đạo các cấp, ban,
ngành tiến hành giao đất cho nông dân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích
sản xuất nông nghiệp” [12; tr.6]. Từ đó, người dân yên tâm sản xuất, tìm tòi
các biện pháp thâm canh mới. Thêm vào đó, điều kiện thời tiết thuận lợi nên
diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên.
Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Định đã mở
đường cho Đảng bộ huyện Ý Yên đưa ra những chủ trương đúng đắn và phù
hợp để phát triển kinh tế nông nghiệp. Do đó mà bức tranh kinh tế nông
nghiệp toàn huyện đã có những thành tựu khởi sắc hơn.
14
1.1.3. Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên
trước năm 1997
Với sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh Nam Định, Đảng bộ huyện Ý Yên,
kinh tế huyện Ý Yên đã thoát khỏi suy thoái, riêng kinh tế nông nghiệp có
bước phát triển đáng kể, người dân đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói, thiếu
ăn. Diện tích và sản lượng lương thực được tăng lên đáng kể. Hướng chính
trong phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên là thâm canh, tăng vụ
và tăng chất lượng sản xuất nông nghiệp. Dó đó mà, không chỉ đảm bảo
lương thực cho toàn huyện mà đã có một khối lượng dư thừa khá lớn.
Với ngành trồng trọt: Tính đến năm 1996, diện tích đất nông nghiệp đạt
35.196,79ha, trong đó, diện tích trồng cây lương thực đạt 29.033ha, diện tích
cấy lúa 27.928ha (chiếm 96%); sản lượng đạt 110.596 tấn, trong đó sản lượng
lúa 107.387 tấn (chiếm 97%) [37, tr.10]. Như vậy, cây lúa có vai trò quan
trọng trong nền kinh tế nông nghiệp. Người dân không còn lo thiếu đói mà
bước đầu đã chuyển sang việc sản xuất lương thực hàng hóa để cung cấp ra
thị trường. Dưới đây là bảng số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng lúa
tính từ năm 1990 đến năm 1996 trên địa bàn toàn huyện.
84446
1993
27.355
86,26
117.890
1994
27.442
56,90
76.702
1995
27.485
87,70
120.121
1996
27.928
phần ăn cho vật nuôi. Vì thế, số lượng cũng như sản lượng đàn gia súc, gia
cầm đã tăng lên nhiều: tính đến năm 1996, tổng số lượng vật nuôi đạt 84.997
con, trong đó số con lợn chiếm 74.901 con (88%); sản lượng đạt 5.566 tấn,
trong đó sản lượng thịt lợn đạt 5.472 tấn (98%) [37, tr. 21].
Nhìn chung, kinh tế huyện Ý Yên nhất là kinh tế nông nghiệp trước
năm 1997 bước đầu đã có những chuyển biến tích cực, đã đạt được một số
thành tựu. Tuy nhiên, vẫn gặp phải những khó khăn chủ yếu như: tỷ trọng
nông nghiệp, tỷ trọng cây trồng, vật nuôi còn tăng chậm; chất lượng nông sản
thấp, chưa hình thành được vùng chuyên canh tập trung để đáp ứng cho ngành
16
công nghiệp chế biến; diện tích canh tác lớn nhưng không bằng phẳng lại chịu
nhiều ảnh hưởng của thiên tai như hạn hán, lũ lụt, ngập úng (trận bão năm
1996 đã gây ra thiệt hại vô cùng nặng nề cho kinh tế nông nghiệp toàn
huyện); ruộng đất của nông dân vẫn ở tình trạng manh mún không tập trung
gây khó khăn cho quá trình sản xuất và thu hoạch mùa vụ - nhiều hộ gia đình
có tới 10 – 15 mảnh ruộng manh mún ở nhiều nơi khác nhau; độ màu mỡ của
đất không cao, nông dân phải bỏ chi phí nhiều cho mỗi mùa vụ; trình độ khoa
học kỹ thuật phát triển ở mức thấp nên chưa được áp dụng rộng rãi vào quá
trình sản xuất; trình độ nhận thức của người nông dân vẫn còn lạc hậu, còn
mang nặng tính tiểu nông, tư tưởng sản xuất kinh tế hàng hoá chưa có chỗ
đứng trong đông đảo nhân dân; trong quá trình sản xuất vẫn sử dụng các công
cụ thô sơ, lạc hậu nên không mang lại kết quả cao; giống lúa trong thời kỳ
này chủ yếu là giống lúa dài ngày, năng suất thấp.
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho nông nghiệp còn hạn chế, chất lượng thấp,
nhất là hệ thống giao thông, thuỷ lợi: kênh mương chưa được nạo vét thường
xuyên, dòng chảy chưa được khai thông, nhiều cánh đồng xa nguồn nước
nhưng hệ thông thuỷ lợi ở đó lại không được xây dựng. Do đó, đã có ảnh
hưởng không ít đến việc tưới, tiêu cho đồng ruộng mỗi khi hạn hán hay lũ lụt