Đảng bộ huyện lập thạch (vĩnh phúc) lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1997 đến năm 2009 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

--------------------------------

DƯƠNG KIM HUỆ

ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH (VĨNH PHÚC)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

--------------------------------

DƯƠNG KIM HUỆ

ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH (VĨNH PHÚC)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2009

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

1.2. Tình hình kinh tế Lập Thạch trong những năm đầu thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1996) ............................................. 15
1.2.1 Bối cảnh, tình hình tác động đến sự phát triển kinh tế của huyện Lập
Thạch những năm đầu đổi mới ............................................................... 15
1.2.2. Tình hình kinh tế huyện Lập Thạch những1986 - 1996 ................ 17
1.3. Đảng bộ huyện Lập Thạch lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1997
đến năm 2005 ........................................................................................... 23
1.3.1. Chủ trương và giải pháp phát triển kinh tế .................................... 23
1.3.2. Quá trình Đảng bộ huyện Lập Thạch lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
phát triển kinh tế, giai đoạn 1997 - 2005 ................................................ 29
Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NHỮNG NĂM 2005 - 2009 ......................................... 45
2.1. Chủ trương và biện pháp phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện
Lập Thạch giai đoạn 2005 - 2009............................................................ 45
2.1.1. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc ........................ 45
2.1.2. Chủ trương và biện pháp của Đảng bộ huyện Lập Thạch.............. 48
2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện và thành tựu đạt được ....................... 53


Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM .......................... 64
3.1. Một số nhận xét, đánh giá ................................................................ 64
3.1.1. Ưu điểm và nguyên nhân .............................................................. 64
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................... 68
3.2. Một số kinh nghiệm .......................................................................... 72
KẾT LUẬN ................................................................................................. 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 81
PHỤ LỤC.................................................................................................... 87


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Hợp tác xã

9. KT - XH

Kinh tế - xã hội

10. Nxb

Nhà xuất bản

11. TCN

Thủ công nghiệp

12. XHCN

Xã hội chủ nghĩa

13. UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình thu ngân sách huyện Lập Thạch từ 1997 - 1999 ........... 36
Bảng 1.2: Thống kê năng suất và sản lượng lúa của Lập Thạch giai đoạn
1995 – 2005 ................................................................................. 38
Bảng 1.3: So sánh năng suất một số loại cây trồng của Lập Thạch so với
các huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc năm 2005 .................................. 39

thực hiện, hiện thực hóa trong đời sống kinh tế của ngành mình, cấp mình, địa
phương mình, trong đó có huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
Huyện Lập Thạch là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Vĩnh
Phúc, là “cầu nối” giữa khu vực miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng.
Trong lịch sử phát triển, nhân dân Lập Thạch cùng nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc đã có nhiều đóng góp cho công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Năm 1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, trong lúc sự nghiệp đổi mới do
Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đạt được những thắng lợi bước đầu, mở ra
thời kì phát triển mới cho toàn tỉnh nói chung và huyện Lập Thạch nói riêng.
Quán triệt thực hiện đường lối đổi mới của Trung ương Đảng, Đảng bộ
tỉnh Vĩnh Phúc, Đảng bộ, chính quyền huyện Lập Thạch đã lãnh đạo, chỉ đạo
các tầng lớp nhân dân vận dụng tổ chức thực hiện đúng đắn, sáng tạo và thu
được những thành tựu rất quan trọng, nâng cao tiềm lực kinh tế địa phương,
cải thiện và nâng cao rõ rệt đời sống nhân dân.
Năm 2009, đứng trước yêu cầu phát triển KT - XH, huyện Lập Thạch
được tách thành hai huyện mới là Lập Thạch và Sông Lô. Sự kiện này không
những làm thay đổi về địa giới hành chính mà còn có tác động đến cả chính sách
phát triển của hai huyện trong đó có huyện Lập Thạch. Tuy có sự thay đổi về địa
giới hành chính nhiều lần xong cơ bản kinh tế Lập Thạch vẫn phát triển ổn định.
1


Trước bộn bề khó khăn của một huyện nghèo mới tách ra, Đảng bộ Lập Thạch
tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, vận dụng sáng tạo vào điều kiện
cụ thể từng bước đưa quê hương vượt qua khó khăn, giành được thành tựu đáng
trân trọng và tự hào. Kinh tế tăng trưởng ở mức khá cao, chính trị ổn định, quốc
phòng - an ninh được bảo đảm, an sinh xã hội ngày càng được chăm lo tốt hơn,
đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện và nâng lên từng bước.
Từ năm 1997 đến năm 2009, trong mối quan hệ chung với công cuộc

Nam hướng tới tăng trưởng, Nxb Thống kê, Hà Nội; Bùi Tất Thắng (2006),
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
Đặng Kim Sơn (2006), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và
phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;….
Ngoài ra còn có rất nhiều các luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ đã bảo vệ đề cập
đến sự phát triển KT - XH dưới góc độ khoa học kinh tế hoặc Đảng lãnh đạo
phát triển KT - XH dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng trên phạm vi cả
nước hoặc địa phương như: Đỗ Xuân Tuất (2003), Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo
phát triển kinh tế trang trại 1986 – 2001, Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử,
Hà Nội; Lương Thị Yên (2005), Đảng bộ Lục Yên (Yên Bái) lãnh đạo phát
triển kinh tế thời kì đổi mới 1986 – 2004, luận văn Thạc sĩ khoa Lịch sử,
ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN; Nguyễn Thị Anh (2006), Đảng bộ huyện An
Dương (Hải Phòng) lãnh đạo phát triển kinh tế thời kỳ 1986 – 2005, luận văn
Thạc sĩ khoa Lịch sử, ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN; Đào Trọng Độ (2007),
Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp 1986 – 2000, luận
văn Thạc sĩ khoa Lịch sử, ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN; Nguyễn Thị Thu Hà
(2008), Đảng bộ huyện Hưng Hà (Thái Bình) lãnh đạo phát triển kinh tế -xã
hội từ 1996 – 2005, luận văn Thạc sĩ khoa Lịch sử, ĐHKHXH & NV,
ĐHQGHN; Nguyễn Thị Thu Hằng (2013), Qúa trình thực hiện chính sách
xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2010,
luận văn Thạc sĩ khoa Lịch sử, ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN,….
Đối với các đề tài nghiên cứu về huyện Lập Thạcth cũng đã có một số
công trình như: Lê Minh Tiến (2009), Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc,
3


luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục - Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội;
Nguyễn Thị Huyền (2013), Đảng bộ huyện Lập Thạch (Tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh
đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2012, luận văn Thạc

2009 và các kết quả đạt được trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh
tế của Đảng bộ huyện và nguyên nhân.
- Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo phát triển kinh tế của
Đảng bộ huyện Lập Thạch.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ huyện Lập Thạch để lãnh
đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế từ năm 1997 đến năm 2009.
- Thực tiễn phát triển kinh tế huyện Lập Thạch từ năm 1997 đến năm 2009.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Lập Thạch với công
cuộc phát triển kinh tế. Tuy nhiên cơ cấu kinh tế của Lập Thạch chủ yếu là nông
nghiệp chính vì vậy trong luận văn chũng chủ yếu tập trung vào nội dung này.
- Không gian: Huyện Lập Thạch – Vĩnh phúc trước năm tách huyện
(năm 2009), gồm có 39 xã và thị trấn.
- Thời gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc từ 1997 (năm tái lập tỉnh Vĩnh Phúc) đến 2009
(huyện Lập Thạch tách làm hai huyện mới).
5. Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo
5.1. Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lí luận: Những nguyên lí của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng về phát triển kinh tế.
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử và logic để khôi phục lại
quá trình Đảng bộ huyện Lập Thạch lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1997
đến năm 2009. Ngoài ta còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương
pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn,…
5


6


Chương 1:
ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1997 - 2005
1.1. Những yếu tố tác động đến quá trình hoạch định chủ trương
phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Lập Thạch
1.1.1. Tự nhiên và xã hội
Về vị trí địa lý:
Lập Thạch (cũ) là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Vĩnh
Phúc, có địa hình đa dạng của vùng bán sơn địa. Lập Thạch cách tỉnh lị Vĩnh
Yên 20 km, nằm ở vị trí từ 105°30′ đến 105°45′ kinh độ Đông và 21°10′ đến
21°30′ vĩ Bắc. Huyện có vị trí địa lý: phía Bắc giáp huyện Sơn Dương tỉnh
Tuyên Quang và dãy núi Tam Đảo; phía Đông giáp huyện Tam Đảo và huyện
Tam Dương; phía Tây giáp huyện Phù Ninh và thành phố Việt Trì tỉnh Phú
Thọ; phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường và một phần tỉnh Phú Thọ.
Trước năm 2004, Lập Thạch bao gồm có 39 đơn vị hành chính trực
thuộc, diện tích tự nhiên chiến khoảng 30% diện tích của tỉnh Vĩnh Phúc. Sau
khi thực hiện theo Nghị định số 153/2003/NĐ/CP ngày 09/12/2003 của Chính
phủ về việc thành lập huyện Tam Đảo và thị xã Phúc Yên, huyên Lập Thạch
có một số điều chỉnh về: tổng diện tích tự nhiên còn 32307,17 ha trong đó đất
nông nghiệp chiếm 14.576,57 ha còn lại là các loại đất khác; toàn huyện có 36
xã và thị trấn.
Về địa hình:
Lập Thạch là một huyện miền núi nên có địa hình khá phức tạp, xen kẽ
đồi gò là những dải ruộng hẹp, khe lạch, núi non, làng mạc. Địa hình của
huyện có thể chia thành 3 tiểu vùng:
- Tiểu vùng miền núi bao gồm 15 xã, thị trấn tập trung chủ yếu ở phía
Bắc, chiếm 58,33% diện tích tự nhiên toàn huyện. Địa hình tiểu vùng này

tiếp giáp giữa vùng đất bạc màu và chua nhiều. Đất có kết cấu xốp, màu giàu,
hàm lượng từ 2 – 3%. Mức độ phân giải chất hữu cơ mạnh. Các chất dễ tiêu
đều nghèo [48, tr.146].
8


Năm 2009, sau khi thay đổi về địa giới hành chính, huyện có diện tích
tự nhiên là 173,1 km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 40,3%; đất lâm
nghiệp chiếm 31,8%; đất chuyên dùng chiếm 10,3% và đất ở chiếm 2,2%.
Kinh tế và cơ sở hạ tầng huyện Lập Thạch còn chưa phát triển nên
trong tương lai, quỹ đất nông nghiệp sẽ tiếp tục biến động do các hoạt động
đầu tư (mở mang đường xá, xây dựng các công trình công cộng, xây dựng
công nghiệp....).
Khí hậu, thời tiết:
Lập Thạch thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ
22°C, cao nhất vào tháng 5,6 có thể lên đến 38°C – 39°C. Số giờ nắng trung
bình trong năm là 1.450 đến 1.550 giờ. Lượng mưa trung bình 1.500-1.800
mm/năm nhưng lại phân bố không đề theo các tháng thường tập trung từ
tháng 6 – 8 hàng năm (có thể đạt tới 355mm). Độ ẩm trung bình khoảng 84%
[48, tr.31]. Khí hậu Lập Thạch được chia làm 4 mùa rõ rệt. Như vậy khí hậu
Lập Thạch phù hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi, điều này cho phép phát
triển một nền nông nghiệp phong phú đa dạng.
Tài nguyên nước, sông ngòi:
Tài nguyên nước mặt: Lập Thạch có hai hệ thống sông chính là sông
Lô và sông Phó Đáy. Sông Lô chảy qua huyện Lập Thạch với chiều dài
khoảng 43km, chiều rộng đạt từ 300 – 800m. Lưu lượng nước rất lớn, tập
trung chủ yếu vào mùa mưa (khoảng 80%). Phía Nam và phía Đông huyện
Lập Thạch có sông Phó Đáy ngăn cách huyện Vĩnh Tường và huyện Tam
Dương với tổng lưu lượng khá lớn. Chiều dài chảy qua Lập Thạch khoảng
55km, chiều rộng khoảng 50 – 150m. Lượng nước tập trung vào mùa mưa

sản này.
Tài nguyên động thực vật và cảnh quan thiên nhiên:
Do điều kiện khí hậu và địa hình thuận lợi cho các loại thực động vật phát
triển phong phú và đa dạng đem lại nguồn lợi lớn cho người dân địa phương.
Tài nguyên thực vật của huyện Lập Thạch phong phú đa dạng với nhiều
loại quý hiếm như: Lim, Trò, Chỉ, Chẹt,…Theo số liệu thống kê đất đai đến
năm 2009 đất lâm nghiệp có rừng toàn huyện là 3551,42 ha, chiếm 20,52%
10


tổng diện tích tự nhiên. Trong những năm gần đây, được sự hỗ trợ của các
chương trình, dự án trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc đã được người
dân hưởng ứng tham gia nhiều đến việc trồng rừng, kết hợp với phát triển
kinh tế vườn đồi, do đó thảm thực vật rừng ngày càng phát triển.
Về động vật: do rừng tự nhiên bị khai thác và chủ yếu hiện nay là rừng
trồng nên động vật rừng còn lại không nhiều, gần đây động vật rừng đang
phát triển trở lại, nhưng số lượng các loài thú không nhiều. Hiện nay ở Lập
Thạch còn một số địa danh nổi tiếng như rừng cò Hải Lựu, vườn cò Như
Thụy, vườn cò Bắc Bình,…
Cảnh quan thiên nhiên: Lập Thạch có nhiều cảnh quan thiên nhiên có
tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng; du lịch văn hóa
thăm quan các di tích văn hóa, các lễ hội,… Các di tích, danh lam nổi tiếng
như: Núi Sáng, Hồ Điển Triệt, tháp Bình Sơn, Đền thờ Tả Tướng quốc Trần
Nguyên Hãn, cụm di tích lịch sử - văn hóa liên quan đến danh nhân Triệu
Thái (Từ đường họ Triệu, Đình làng Hoàng Chung, Miếu Hoàng Chung,…),
rừng cò Hải Lựu. Ngoài ra ở Lập Thạch còn rất nhiều các lễ hội truyền thống
nổi tiếng như: Lễ hội Chọi trâu ở Hải Lựu diễn ra vào 17 tháng Giêng hàng
năm; Lễ hội cướp Phết ở Bàn Giản diễn ra vào ngày mùng 3 Tết và mùng 7
tết; Lễ hội rước cây Bông ở Đồng Thịnh diễn ra vào mùng 7 Tết hàng năm,…
Tài nguyên nhân văn:

Hai Bà Trưng với những nhân vật tiêu biểu như: ba anh em Nguyễn Tuấn,
Nguyễn Lĩnh, Nguyễn Trỹ (Hợp Lý) và bà Quý Lan Nương (Thảm Sơn), bà
chúa Bầu lập căn cứ ở Vực Chuông (Đạo Trù), vợ chồng ông Lê Tuấn và bà
Thục Nương (Lê Dương công chúa – Thái Hòa).Vào thế kỉ VI, khi quân
Lương sang xâm lược nước ta, dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu
Quang Phục, căn cứ hồ Điển Triệt đã được xây dựng (ở xã Tứ Yên - đây trở
thành một căn cứ quan trọng của nghĩa quân) [10,tr.12] .
Đến thế kỉ XV, khi nhà Minh xâm lược nước ta, Trần Nguyên Hãn một
người con Lập Thạch đã theo Lê Lợi đánh giặc và có công lớn trong cuộc
kháng chiến. Để ghi nhận công lao của ông trong cuộc kháng chiến nên ông
đã được phong đến chức Tả Tướng Quốc và khi ông qua đời ở nhiều nơi đã
12


lập đền thờ Ngài. Hiện nay đền Tả tướng được xây tại xã Sơn Đông và là một
trong những di tích cấp quốc gia của huyện Lập Thạch. Cũng trong thời kì
này, Triệu Thái (“Lưỡng quốc tiến sĩ” đỗ tiến sĩ ở cả hai nước Việt Nam –
Trung Quốc) quê ở thôn Hoàng Chung xã Đồng Ích cũng đã tham gia và có
nhiều đóng góp cho sự phát triển cuả nhà Lê.
Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nhân dân Lập Thạch
đã tích cực tham gia các cuộc khởi nghĩa thuộc phong trào Cần Vương do các
ông Đề, ông Đốc, ông Lãnh, Đốc Giang và Đốc Khoát tổ chức. Đặc biệt trong
thời gian này có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích có ảnh hưởng khá
lớn ở Lập Thạch. Dù bị đàn áp nhưng các cuộc khởi nghĩa vẫn tiếp tục phát
triển đến tận năm 1892 mới hoàn toàn kết thúc.
Sang đầu thế kỉ XX, còn là căn cứ của các cuộc khởi nghĩa khác như:
khởi nghĩa Yên Thế (từ tháng 7 đến 10 – 1909), khởi nghĩa Thái Nguyên
(1917) do Đội Cấn chỉ huy.
Đầu thế kỉ XX cũng giống như tình hình đấu tranh trong cả nước phong
trào chống Pháp ở Lập Thạch tạm lắng xuống. Tháng 2/ 1930 Đảng Cộng sản

Tam Đảo. Huyện lỵ huyện Lập Thạch được chuyển về xã Xuân Hòa.
Ngày 23 – 11 – 1995 Chính phủ ra Nghị định 82/CP về việc thành lập
thị trấn Lập Thạch trên cơ sở chia tách xã Xuân Hòa thành thị trấn và xã Xuân
Hòa. Thực hiện theo Nghị định 82/CP, từ ngày 01 – 01 – 1996 huyện Lập
Thạch có 39 đơn vị hành chính cấp cơ sở (38 xã và 1 thị trấn). Tới năm 2000
các khu dân cư thuộc các xã, thị trấn trong huyện được đổi thành các thôn,
làng và khu phố. Đến năm 2003 Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc công nhận
các thôn và tổ dân phố hiện có của tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó huyện Lập Thạch
có 411 thôn thuộc 38 xã và 11 tổ dân phố thuộc thị trấn Lập Thạch.
Ngày 09 – 12 – 2003, Chính phủ ra nghị định số 153/2003/NĐ-CP về
việc thành lập thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo, huyện Lập Thạch chuyển
3 xã Bồ Lý, Đạo Trù, Yên Dương về huyện Tam Đảo mới. Sau khi điều
chỉnh, từ ngày 01 – 01 – 2004 huyện Lập Thạch 36 đơn vị hành chính trực
thuộc (gồm 35 xã và 1 thị trấn), vẫn là huyện rộng nhất của tỉnh Vĩnh Phúc.

14


Ngày 23 – 12 – 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/NĐ-CP về
điều chỉnh địa giới hành chính huyện Lập Thạch. Từ 01 – 04 – 2009, huyện
Lập Thạch tách thị trấn Tam Sơn và 17 xã để thành lập huyện Sông Lô.
Huyện Lập Thạch còn lại 20 xã và thị trấn.
1.2. Tình hình kinh tế Lập Thạch trong những năm đầu thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1996)
1.2.1 Bối cảnh, tình hình tác động đến sự phát triển kinh tế của
huyện Lập Thạch những năm đầu đổi mới
Những năm 80 của thế kỉ XX, chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào
tình trạng khủng hoảng. Trước tình hình trên, các nước XHCN đã bắt tay vào
công cuộc cải cách, đổi mới. Dưới tác động chung của tình hình thế giới và
những thành công đạt được của công cuộc đổi mới của Trung Quốc năm

quản lí HTX, thực hiện chế độ tự quản lí, tiếp tục thực hiện cơ chế khoán sản
phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động.
Quán triệt sâu sắc nghị quyết VI của Trung ương, Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phú đã triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ VI toàn tỉnh. Đại hội đã thông qua
phương hướng và nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), đó là
đẩy nhanh phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, trong đó tập
trung hết sức cho sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất
nhập khẩu. Ngày 15 – 04 – 1987, Tỉnh ủy Vĩnh Phú ra Nghị quyết số 04NQ/TU về chương trình lương thực, thực phẩm đến năm 1990. Nghị quyết
nêu rõ đến năm 1990, tỉnh phải tự trang trải nhu cầu ăn, có dự trữ và có lương
thực phục vụ cho chăn nuôi.
Trên cơ sở Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, 21 – 04 – 1988, Tỉnh uỷ
Vĩnh Phú ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU về đổi mới quản lí trong HTX
nông nghiệp nhằm tiếp tục tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Hai
Nghị quyết quan trọng nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đảng bộ huyện
Lập Thạch triển khai thực hiện.
Với những thành tựu đạt được sau khi tiến hành đổi mới đất nước, Đại
hội VII được tổ chức, tiếp đến là Đại hội VIII. Đại hội lần thứ VII của Đảng,
16


Trích đoạn Quá trình chỉ đạo thực hiện và thành tựu đạt được Ưu điểm và nguyên nhân Hạn chế và nguyên nhân Một số kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status