ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ YẾN
ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TRONG NHỮNG NĂM 1986 - 2006
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ YẾN
ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TRONG NHỮNG NĂM 1986 - 2006
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
đến năm 1999
30
1.2.1. Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp
1.2.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện từ 1986 - 1999
30
39
1.2.3. Những chuyển biến về kinh tế nông nghiệp của huyện từ năm 1986
đến năm 1999
45
Chương 2: Đảng bộ huyện Tam Nông lãnh đạo phát triển kinh tế
55
nông nghiệp trong những năm 1999 đến 2006
2.1. Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp
55
2.2. Quá trình lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp của
60
Đảng bộ huyện Tam Nông
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Tam Nông về phát triển kinh tế
BẢNG VIẾT TẮT
BCHTU
: Ban Chấp hành Trung ương
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HU
: Huyện ủy
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
NXB
: Nhà xuất bản
5
MỞ ĐẦU
bàn chiến lược phát triển kinh tế, Đảng bộ huyện Tam Nông đã thực hiện chủ
trương của Đảng và giải pháp sát với thực tiễn ở địa phương, từng bước tháo
gỡ khó khăn, giải phóng sức sản xuất để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân.
Đổi mới là một quá trình. Đối với một địa phương phải tìm tòi thể
nghiệm để thể hiện đường lối chung của Đảng, phải dám chịu trách nhiệm
trước dân, đồng thời phải dám nghĩ, dám làm. Nhưng muốn vậy phải có tinh
thần dũng cảm, tìm tòi sáng tạo.
Thực tế phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng những năm qua khẳng định đường lối, chủ
trương xây dựng kinh tế nông nghiệp của Đảng là đúng đắn. Song mức độ
thành công của đường lối, chủ trương đó trên từng địa phương, từng giai đoạn
còn phụ thuộc rất nhiều vào sự vận dụng, tổ chức thực hiện của các đảng bộ
và chính quyền địa phương, gắn với đặc thù từng địa phương trong những
hoàn cảnh cụ thể.
Đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước cũng như huyện
Tam Nông, trong những năm qua đã phát huy nội lực thuận lợi, khắc phục và
hạn chế những khó khăn thực hiện tốt nhất chủ trương phát triển kinh của
Đảng, góp phần đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng.
Tam Nông là một huyện có thế mạnh phát triển nông nghiệp, đặc biệt
là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp. Trong quá trình xây dựng kinh tế từ năm
1986 đến năm 2006, nền nông nghiệp của Tam Nông đã có những phát triển
nhất định, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được
nâng cao. Những thành tựu đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội của huyện nói riêng và của tỉnh Phú Thọ cũng như đất nước
nói chung. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp còn chậm và
thiếu bền vững, chưa xứng với tiềm năng và lợi thế mà thiên nhiên ban tặng.
Huyện Tam Nông còn gặp phải những khó khăn và đối mặt với nhiều vấn đề
8
học đề cập đến vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau. Vấn đề kinh tế nông
nghiệp ở huyện Tam Nông có thể tổng hợp các công trình liên quan thành
những nhóm cơ bản sau:
Các văn kiện của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp như: Đảng
Cộng sản Việt Nam, “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm
2000”, Nxb Sự Thật, H.1991; Đảng Cộng sản Việt Nam, “Một số văn kiện đại
hội của Đảng về phát triển nông nghiệp”, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1998;
Đảng Cộng sản Việt Nam, “Nghị quyết Bộ Chính trị (Nghị quyết 10) về đổi
mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, Nxb Sự Thật, H.1988…Nguồn tư liệu này
chủ yếu đề cập đến quan điểm, đường lối và chủ trương lãnh đạo xây dựng
của Đảng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, một vấn đề rất cần thiết mà
luận văn có thể đưa ra để định hướng cho việc giải quyết vấn đề.
Các công trình khoa học, sách nghiên cứu về đổi mới kinh tế nông
nghiệp, nông thôn như: “Lịch sử nông nghiệp Việt Nam” của Ban biên tập lịch
sử nông nghiệp Việt Nam (Nxb Nông nghiệp, H.1994), “Đổi mới quản lý kinh
tế nông nghiệp. Thành tựu, vấn đề, triển vọng” của Nguyễn Văn Bích chủ
biên (Nxb Chính trị quốc gia, H.1994), “Đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp” của học viện Nguyễn Ái Quốc – Khoa quản lý kinh tế (Nxb Tư tưởng
– Văn hóa, H.1990), “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt
Nam” của PGS. TS Trương Thị Tiến (Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1986),
“Nông nghiệp nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới” của PGS. TS Nguyễn Sinh
Cúc (Nxb Thống kê, H. 2003), “Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông
thôn, nông nghiệp Việt Nam” của Chu Hữu Quý (Nxb Chính trị Quốc gia, H.
1996), “Kinh tế nông nghiệp” của Phạm Vân Đình chủ biên (Nxb Nông
nghiệp, H. 1997), “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta hiện nay”
đồng chủ biên của Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn kỷ (Nxb Chính
trị Quốc gia, H. 2003), “Nông nghiệp nông thôn Việt Nam bước vào thế kỉ 21”
11
- Bước đầu rút ra thành tựu, hạn chế sau hai mươi năm đổi mới và một
số kinh nghiệm cho thời kỳ sau này.
Nhiệm vụ:
- Tập hợp các tư liệu có liên quan đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ
huyện Tam Nông về phát triển kinh tế nông nghiệp trước và trong thời kì đổi
mới.
- Trình bày có hệ thống các chủ trương, biện pháp, quá trình lãnh đạo
thực hiện của Đảng bộ huyện và những kết quả đạt được theo từng giai đoạn
lịch sử.
- Phân tích vai trò của Đảng bộ huyện Tam Nông trong quá trình lãnh
đạo phát triển kinh tế nông nghiệp. Đồng thời, luận văn đúc kết một số kinh
nghiệm nhằm tiếp tục phát triển kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là những chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện
của Đảng bộ huyện Tam Nông trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp
huyện trong những năm 1986 – 2006, trong đó, trọng tâm là chủ trương, quá
trình lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1999 –
2006.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vai trò của Đảng bộ
huyện Tam Nông trong quá trình vận dụng sáng tạo chủ trương phát triển
kinh tế nông nghiệp vào tình hình cụ thể của địa phương.
12
nghiên cứu liên ngành đã giúp tôi khác thác các nguồn tài liệu, đánh giá và
phân tích được đầy đủ và sâu sắc hơn các vấn đề đặt ra.
Trong khuôn khổ một luận văn chuyên đề của chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi hy vọng luận văn đã bước đầu đóng góp vào
việc tìm hiểu vai trò của Đảng bộ huyện Tam Nông về phát triển kinh tế nông
nghiệp trong những năm 1986 -2006 và là tài liệu tham khảo cho những độc
giả quan tâm đến vấn đề kinh tế nông nghiệp ở mỗi địa phương.
6. Đóng góp luận văn
Trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm
1986 đến năm 2006 của Đảng bộ huyện Tam Nông.
Nêu lên một số kinh nghiệm, và đưa ra một số kiến nghị trong phát
triển kinh tế nông nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện.
Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu lịch
sử Đảng bộ huyện Tam Nông nói riêng và lịch sử Đảng nói chung trên lĩnh
vực lãnh đạo kinh tế nông nghiệp.
7. Kết Cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Tình hình kinh tế nông nghiệp của Tam Nông từ năm 1986
đến năm 1999
Chương 2: Đảng bộ huyện Tam Nông lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp trong những năm 1999 đến 2006
Chương 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu
14
Chương 1
Tình hình kinh tế nông nghiệp của Tam Nông
từ năm 1986 đến năm 1999
Quyền, Hưng Hóa, Dậu Nương, Thanh Bình, Mai Lĩnh, Bạch Đằng, Mê Linh,
Vạn Xuân, Văn Lang, Bình Dân, Hiền Quan, Cộng Hòa, Hương Nha, Bắc
Sơn, Lam Sơn, Phương Định, Đống Đa và Ngọc Nga.
Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa ra Quyết định sáp nhập 2 tỉnh Vĩnh Phú và Phú Thọ
thành tỉnh Vĩnh Phú. Tam Nông thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Đến ngày 5 tháng 7
năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 187 về việc hợp nhất các
huyện trong tỉnh Vĩnh Phú, trừ huyện Thanh Sơn vẫn giữ nguyên còn lại các
huyện đều hợp nhất. Hai huyện Tam Nông và Thanh Thủy sáp nhập lại thành
huyện Tam Thanh bao gồm 35 xã. Trải qua 29 năm hợp nhất tháng 11 năm
1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa IX) kỳ họp
thứ 10 thông qua Nghị quyết chia tách tỉnh Vĩnh Phú thành 2 tỉnh: Phú Thọ và
Vĩnh Phúc, huyện Tam Nông thuộc tỉnh Phú Thọ. Sau 22 năm sáp nhập với
huyện Thanh Thủy thành huyện Tam Thanh, ngày 24 tháng 7 năm 1999,
Chính phủ ra Nghị định số 59/NĐ - CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính
chia các huyện Phong Châu, Tam Thanh. Theo Nghị định này, huyện Tam
Nông được tái lập và chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 1 tháng 9 năm
1999.
- Địa hình
Nhìn tổng thể địa hình của huyện Tam Nông tương đối đa dạng, thể
hiện những nét đặc trưng của một vùng bán sơn địa. Đất đai có núi, đồi, ruộng
đồng, sông, ngòi, hồ, đầm. Dạng địa hình chính của huyện Tam Nông theo
16
hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Nhìn chung địa hình của
huyện chia thành 2 dạng chính:
Địa hình vùng đất thấp: Nằm dọc theo sông Hồng và sông Bứa gồm
những cánh đồng có chiều ngang hẹp, tạo thành một vệt dài theo bờ sông từ
Tây và Tây Nam, khô và nóng xen kẽ trong các mùa.
- Thủy văn, sông ngòi
Chế độ thủy văn của Tam Nông tương đối phong phú, trên địa bàn
huyện có 3 dòng sông chảy qua là: sông Hồng, sông Đà, sông Bứa. Nhờ có 3
con sông này mà có tới hàng chục con ngòi và một số đầm hồ lớn.
Sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắt đầu từ xã Tứ Mỹ (giáp huyện
Cẩm Khê) rồi nhập vào sông Đà ở xã Hồng Đà theo hướng Tây Bắc – Đông
Nam, tạo thành một vòng cung dài 32km. Sông Hồng là con sông có độ phù
sa vào loại lớn nhất Bắc Bộ, có tới 7,660kg trên một mét khối nước.
Sông Đà (thời thuộc Pháp có tên sông Đen), phát nguyên từ Trung
Quốc ở độ cao 5000 mét chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam đến Hòa
Bình gặp núi Ba Vì chặn lại. Về mùa mưa, sông Đà cũng đỏ ngầu phù sa như
sông Hồng, thường gây nên lũ lụt, ngập úng cho nhiều vùng, làm thiệt hại rất
nhiều về người và tài sản của Nhà nước và của nhân dân.
Ngoài hai con sông trên, huyện Tam Nông còn được thiên nhiên ban
tặng con sông Bứa bắt nguồn từ Sơn La. Con sông này hầu như nằm hoàn
toàn trong tỉnh Phú Thọ, chảy qua 8 xã của huyện Thanh Sơn rồi đổ vào Tam
Nông qua các xã Tề Lễ, Quang Húc, Hùng Đô, Tứ Mỹ đổ vào sông Thao
(nhân dân thường gọi là cửa sông). Sông Bứa có ít phù sa (khoảng 1,1kg/m3)
18
chủ yếu là cung cấp nước tưới cho trồng trọt và giao thông vận chuyển hàng
hóa trên sông.
Ngoài 3 sông kể trên, trên địa bàn huyện còn có sông Thao, con sông
này chảy qua 11 xã với chiều dài là 34km. Lưu lượng dòng chảy vào mùa
mưa rất lớn, sông Thao có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước cho
sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, đồng thời cung cấp một lượng phù sa mới
cho đồng ruộng góp phần cải thiện đồ phì của đất.
Đà và sông Bứa có trứ lượng nước lớn. Nguồn nước ở các hồ, đầm lại phân
bố ở hầu hết các xã trong huyện, đây chính là một nhân tố không thể thiếu cho
sự phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung của toàn huyện.
Nguồn nước mưa bổ sung mỗi năm trên địa bàn huyện tới hàng trăm
triệu m3. Ngoài ra, nguồn nước ngầm mạch nông khá phong phú, hiện đang
được khai thác dưới dạng giếng đào, giếng khoan trong dân.
Nhìn chung các nguồn nước này cung cấp đủ để nuôi trồng thủy sản,
nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân.
Ngoài nguồn nước cung cấp bởi các dòng sông thì các ao, hồ, kênh mương
cũng góp phần tích cực trong việc phục vụ sản xuất và điều tiết nguồn nước
vào mùa mưa cũng như mùa khô trên địa bàn huyện.
- Giao thông vận tải
Huyện Tam Nông có nhiều đường quốc lộ, đường tỉnh lộ chạy qua như
đường quốc lộ 32A chạy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc, đoạn từ Hồng Đà
đến Tế Lễ dài 25km. Đường quốc lộ 32C, đoạn từ ngã tư Cổ Tiết đi Tứ Mỹ
dài 9 km. Trên địa bàn huyện còn có 10 tuyến đường liên huyện dài 64 km.
Các đường trên đều đã được trải nhựa hoặc cấp phối đi lại khá thuận tiện.
20
Ngoài giao thông đường bộ, huyện Tam Nông còn có hệ thống đường
giao thông bằng đường thủy.
Như vậy, với các điều kiện tự nhiên và diện tích đất đai, tài nguyên cho
phép huyện có khả năng phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, phong phú,
có khả năng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây
trồng, vật nuôi. Mặt khác, xuất phát từ tiềm năng đất đai và tài nguyên, cùng
với hệ thống giao thông thuận lợi, huyện Tam Nông có nhiều lợi thế phát triển
sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại. Những năm qua, kinh tế của
huyện đã từng bước phát triển trên nhiều lĩnh vực như: Sản xuất lương thực,
Bản sắc văn hóa
Cư dân Tam Nông không chỉ cần cù, chịu khó mà còn rất sáng tạo
trong lao động nghệ thuật, trong việc sáng tác, giữ gìn và phát huy bản sắc
dân gian của vùng đất tổ. Có thể nói, đây là vùng đất còn lưu truyền nhiều
nhất những truyền thuyết, truyện cổ dân gian của tỉnh Phú Thọ. Tuy bị hàng
ngàn năm Bắc thuộc, hàng trăm năm dưới chế độ thực dân phong kiến, nhưng
dòng văn học dân gian, tiêu biểu là các điệu múa, làn điệu dân ca, hát xoan,
hát ghẹo, hát ví giao duyên, tục ngữ, ca dao về lao động sản xuất vẫn còn tồn
tại và ngày càng được phát huy. Đặc biệt, ở Tam Nông còn lưu truyền nhiều
câu chuyện đặc sắc, tiêu biểu là truyện cười Văn Lang (xã Văn Lương ngày
nay) mang tên quốc gia thời dựng nước.
Chính những con người lao động trên địa bàn rừng núi bán sơn địa đã
sáng tác những câu chuyện cười được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Với
cách kể chuyện dí dỏm, gắn gọn, súc tích vừa ca ngợi tinh thần lao động của
nhân dân, vừa đả kích, châm biếm nhẹ nhàng nhưng rất sâu cay đối với tầng
lớp thống trị, cường hào trong làng, đồng thời cũng góp phần phê phán những
thói hư, tật xấu của con người, thể hiện khát vọng về một cuộc sống đầy đủ.
Bên cạnh đó, vùng đất Tam Nông còn bảo tồn và lưu giữ được nhiều loại hình
22
văn hóa dân gian khác mang nét đặc trưng từng địa phương như: tục chạy lợn,
cướp cờ, lễ hội (Quang Húc), múa mo (Tam Cường), lễ đâm trâu (Xuân
Quang)…., được tổ chức hàng năm mỗi dịp xuân về thu hút đông đảo các
tầng lớp nhân dân trong và ngoài làng tham gia, tạo nên không khí sôi nổi.
Có thể nói, với những đặc điểm về tự nhiên, dân cư, xã hội đó, huyện
Tam Nông có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế nông nghiệp như: điều
ghép liên huyện được tách ra thành các chi bộ riêng, phân bộ Tam Nông trong
chi bộ ghép được tách ra thành chi bộ riêng trực thuộc Tỉnh ủy. Đồng chí
Nguyễn Trung được chỉ định làm Bí thư. Việc Chi bộ Tam Nông được thành
lập, đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng ở địa phương. Đây
được coi là ngày ra đời của Đảng bộ huyện Tam Nông.
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, dưới sự chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh Phú Thọ, Đảng bộ huyện Tam Nông đã lãnh đạo nhân dân tiến hành
khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, nhân dân huyện Tam Nông vừa sản xuất, vừa chiến đấu, góp phần đánh
bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bên cạnh đó cùng với nhân
dân miền Bắc, việc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam cũng hoàn thành
tốt.
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ và nhân dân
trong huyện cùng với nhân dân trong cả nước đạt được những thành tựu to lớn
trong công cuộc khôi phục kinh tế. Thực hiện đường lối, chủ trương của Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng bộ huyện đã lãnh đạo nhân dân từng
bước thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.
24
Thực tế quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng và xây dựng phát triển
kinh tế - xã hội trong những thập kỷ qua của Đảng bộ huyện Tam Nông đã
tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa phương
qua từng thời kì lịch sử. Quá trình hình thành và phát triển của Đảng bộ đã ghi
nhận sự cống hiến và hy sinh của nhiều cán bộ đảng viên, đồng thời quá trình
đó đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện xứng đáng với lòng tin
cậy của nhân dân trong huyện.
Bước vào thế kỉ XXI, phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng
của quê hương, Đảng bộ huyện Tam Nông đã lãnh đạo nhân dân bước đầu thu
Đảng và chính quyền cùng nhân dân bàn định kế hoạc thật cụ thể; phải phát
triển và củng cổ tổ chức và làm cho hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thật
vững chắc” [4, tr. 206 - 207].
Tuân theo lời dạy của Người, Đảng bộ Tam Nông và nhân dân trong
huyện đã ra sức phát triển tốt phong trào đổi công, hợp tác hóa nông nghiệp,
tích cực thâm canh tăng năng suất các loại cây trồng.
Đến cuối năm 1958 toàn huyện đã xây dựng xong 9 hợp tác xã nông
nghiệp thuộc 4 xã Hưng Hóa, Bạch Đằng, Phương Thịnh, Vạn Xuân gồm 425
hộ nông dân. Phong trào hợp tác xã nông dân đã thúc đẩy nông dân hăng hái
cải tiến kỹ thuật nhằm đưa năng suất lên cao. Vì vậy, vụ mùa năm 1958 xã
Phương Thịnh đạt sản lượng thóc tăng 48,2% so với vụ mùa năm 1957. Thực
tế đó càng thúc đẩy phong trào quần chúng ở nông thôn tích cực tham gia vào
hợp tác xã.
Quán triệt chủ trương của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 14
tháng 1 năm 1959 của Tỉnh ủy Phú Thọ về việc xây dựng hợp tác xã nông
nghiệp. Đến cuối năm 1959, Tam Nông có 83 hợp tác xã nông nghiệp ở cả 19
26
xã gồm có 4.145 hộ nông dân tham gia với 19.909 nhân khẩu. Cuộc vận động
xây dựng hợp tác xã được triển khai nhanh chóng, đến cuối năm 1960, kết
thúc kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, huyện Tam Nông cơ bản hoàn
thành hợp tác hóa với 105 hợp tác xã, bao gồm 6.884 hộ nông dân.
Hợp tác hóa nông nghiệp đã căn bản hoàn thành, quan hệ sản xuất mới
được xác lập. Đây thực chất là quá trình xã hội hóa tư liệu sản xuất, xác lập
phương thức hợp tác lao động mới, thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Đó cũng
là bước đầu của quá trình chuyển dần nông nghiệp trên địa bàn huyện từ sản
xuất nhỏ lẻ lên sản xuất tập thể. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng hợp tác
hóa ở Tam Nông cũng bộc lộ những thiếu sót như chưa nhận thức đúng về ba
nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, dân chủ của một số cán bộ, đảng viên,