ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
PHẠM VĂN THÔNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN CẨM GIÀNG (HẢI DƢƠNG)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
NGƢỜI HƢỚNG DẪN: PGS.TS NGÔ ĐĂNG TRI
HÀ NỘI. 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chƣa đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày
tháng
Tác giả
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu.............................................................. 5
6. Đóng góp của luận văn................................................................................................. 5
7. Bố cục của luận văn ...................................................................................................... 6
Chƣơng 1. QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN CẨM GIÀNG (2000-2005) ..........................................................................7
1.1. Chủ trƣơng phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng (2000-2005) .. 7
1.1.1. Tình hình phát triển kinh tế của huyện Cẩm Giàng trước năm 2000 .... 7
1.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng ........... 10
1.2. Quá trình Đảng bộ huyện Cẩm Giàng chỉ đạo phát triển kinh tế (2000-2005)... 15
1.2.1. Ngành nông nghiệp ............................................................................................. 15
1.2.2. Ngành công nghiệp và dịch vụ ............................................................... 20
Tiểu kết .....................................................................................................................25
Chƣơng 2. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CẨM
GIÀNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ (2005-2010) ........................................................27
2.1. Chủ trƣơng đẩy mạnh phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng
(2006-2010) .......................................................................................................................... 27
2.1.1. Yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng 27
2.1.2. Chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Cẩm
Giàng (2006-2010) ............................................................................................. 28
2.2. Đảng bộ huyện Cẩm Giàng chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế (2005-2010) 34
2.2.1. Ngành nông nghiệp ................................................................................. 34
2.2.2. Ngành công nghiệp và dịch vụ ............................................................... 38
Tiểu kết .....................................................................................................................45
Chƣơng 3. ĐẢNG BỘ HUYỆN CẨM GIÀNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ (2010-2014) .................................................................................46
3.1. Chủ trƣơng tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Cẩm
Giàng .................................................................................................................................... 46
3.1.1. Yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Cẩm
Hợp tác xã
HTX
Khu công nghiệp
KCN
Nhà xuất bản
Nxb
Quốc lộ
QL
Thị trấn
TT
Tiểu thủ công nghiệp
TTCN
Tỉnh lộ
TL
Trách nhiệm hữu hạn
hội của Đảng.
Tiếp thu quan điểm, chủ trƣơng của Đảng về phát triển kinh tế, sau khi huyện
Cẩm Giàng đƣợc tái thành lập (năm 1997), Đảng bộ huyện Cẩm Giàng đã từng
bƣớc cụ thể hóa đƣờng lối của Đảng, thực hiện CNH, HĐH phát triển kinh tế - xã
hội địa phƣơng. Tại Đại hội Đảng bộ huyện Cẩm Giàng lần thứ XXII (năm 2001),
Đảng bộ huyện Cẩm Giàng đã đề ra mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020 đƣa huyện
Cẩm Giàng trở thành một trong những huyện đứng đầu về phát triển kinh tế của tỉnh
Hải Dƣơng” [1, tr. 14]. Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng phát
triển kinh tế từ năm 2000 đến năm 2014 sẽ giúp cho Đảng bộ huyện Cẩm Giàng rút
ra đƣợc những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế từ đó
khắc phục những hạn chế, thiếu sót, phát huy những lợi thế nhằm đẩy mạnh quá
trình CNH, HĐH trên địa bàn huyện Cẩm Giàng.
Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Đảng bộ huyện Cẩm
Giàng (Hải Dương) lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 2000 đến năm 2014”.
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quá trình CNH, HĐH ngày
càng đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn. Do đó, vấn đề này đã thu hút đƣợc sự quan
tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các cơ quan nhà nƣớc tìm hiểu,
nghiên cứu và đánh giá dƣới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Những công trình
này gồm những nhóm sau:
Nhóm công trình nghiên cứu đã đƣợc in thành sách gồm có: Trần Đình Thiên
(2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam phác thảo lộ trình, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội; Trần Đình Giao (1996), Suy nghĩ về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội; Nguyễn Thanh (2005) Phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia; Nguyễn Văn Bích
Đảng bộ Hà Nam lãnh đạo xóa đói giảm nghèo trong những năm 1997-2005, luận
văn thạc sĩ trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn; Bùi, Đại học Quốc gia Hà
Nội; Sĩ Lợi (2002), Phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa đến
năm 2010, luận văn thạc sĩ, trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân; Đào Trọng Bộ, Đảng
bộ Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp (1986-2000), luận văn thạc sĩ
trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn
Tuấn Thành (2009), Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông
thôn trong những năm 1997-2006, luận văn thạc sĩ trƣờng Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Văn Vinh (2010), Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến năm
2005, học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Hà Nội… Các công
trình đã đi sâu nghiên cứu thực trạng vào giải pháp phát triển kinh tế ở một số địa
phƣơng.
Các công trình nghiên cứu, các bài viết liên quan trực tiếp đến phát triển
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hải Dƣơng gồm có: Vũ Mạnh Thìn (năm 2012),
Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển công nghiệp từ năm 2001 đến năm
2010, luận văn thạc sĩ trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc
gia Hà Nội; Nguyễn Ngọc Anh (2003), Đội ngũ tri thức Hải Dương trong sự nghiệp
CNH, HĐH - thực trạng và giải pháp, trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Vũ Quỳnh Anh, Phạm Văn Thuấn, Đoàn Thị Thu
3
Uyên (2003), Chào mừng đến với Hải Dương, Nxb Thông tấn; Tạ Duy, Hải Dương
với chương trình giải quyết việc làm, tạp chí Lao động và xã hội, số 244. Sở Lao
động Hải Dƣơng, Phân bổ và sử dụng hợp lý sức lao động - một vấn đề chiến lược;
Hoàng Thị Ánh Nga (2006) Quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2005, luận văn thạc
sĩ trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Vũ Thị
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn nghiên cứu là quá trình lãnh đạo phát
triển kinh tế của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng từ năm 2000 đến năm 2014.
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng về
phát triển kinh tế.
Về thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2014, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
luận văn, tác giả có đề cập đến một số nội dung trƣớc năm 2000 và sau năm 2014.
Về không gian: trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu là phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp
logic. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp thống kê, phân tích, tổng
hợp, so sánh.
Nguồn tƣ liệu tác giả sử dụng gồm hai nhóm chủ yếu sau:
Nhóm nguồn văn kiện: Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng
Cộng sản Việt Nam; nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về
phát triển công nghiệp (các khóa VII, VIII, XIX, X, XI); văn kiện các kỳ Đại hội
Đảng bộ tỉnh Hải Dƣơng (Đại hội XII, XIII, XIV, XV); các báo cáo chính trị của
Đảng bộ huyện Cẩm Giàng (lần thứ XXII, XXIII, XXIV, XXV); các chỉ thị, nghị
quyết của tỉnh, huyện về phát triển kinh tế; báo cáo tổng kết hàng năm của Ban
Chấp hành Đảng bộ huyện Cẩm Giàng, Hội đồng nhân dân huyện Cẩm Giàng, Ủy
ban nhân dân huyện Cẩm Giàng…
Nhóm các sách, tạp chí, luận văn: Những công trình nghiên cứu, bài viết có
đề cập đến vấn đề CNH, HĐH trên phạm vi cả nƣớc, tỉnh Hải Dƣơng và huyện Cẩm
Giàng.
6. Đóng góp của luận văn
5
Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng,
Bắc giáp huyện Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh).
Địa hình và đất đai: Huyện Cẩm Giàng có địa hình bằng phẳng, đất đai do hệ
thống sông Thái Bình bồi đắp nên tƣơng đối màu mỡ với tổng diện tích đất tự nhiên
là 10.934,32ha.
Khí hậu, sông ngòi: Huyện Cẩm Giàng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa với hai loại gió chủ yếu là gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam. Lƣợng mƣa
trung bình là 1.500-1.700 mm/năm. Huyện Cẩm Giàng có hai con sông lớn bao
quanh là sông Thái Bình ở phía Đông Bắc và sông Kẻ Sặt (sông Kim Sơn) ở phía
Đông Nam. Ngoài ra, trên địa bàn huyện có hệ thống sông nhánh tạo điều kiện
thuận lợi cho nhân dân chủ động nguồn nƣớc trong sinh hoạt và sản xuất.
Tài nguyên thiên nhiên: Cẩm Giàng là huyện nghèo tài nguyên khoáng sản.
Các nguồn tài nguyên chủ yếu của huyện gồm có: đất, cát, đá xây dựng, các loại tài
nguyên khoáng sản khác không đáng kể. Sự nghèo nàn về tài nguyên là một trong
những khó khăn mà huyện Cẩm Giàng gặp phải trong quá trình phát triển công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Về địa giới hành chính: Huyện Cẩm Giàng gồm có 2 thị trấn là thị trấn Lai
Cách (huyện lị) và thị trấn Cẩm Giàng; 17 xã còn lại là: Cao An, Đức Chính, Cẩm
Văn, Cẩm Đoài, Cẩm Đông, Cẩm Vũ, Cẩm Hoàng, Cẩm Phúc, Cẩm Sơn, Cẩm
7
Điền, Cẩm Định, Cẩm Hƣng, Tân Trƣờng, Thạch Lỗi, Ngọc Liên, Lƣơng Điền và
Kim Giang.
Trên địa bàn Huyện có các trục giao thông đƣờng bộ đi qua nhƣ: QL5,
QL38, Tỉnh lộ 394A, 394B, 394C, đƣờng 195, đƣờng 19 và đƣờng 5B. Về đƣờng
sắt có tuyến đƣờng sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua địa bàn huyện. Trong các
tuyến đƣờng giao thông thì tuyến đƣờng sắt Hà Nội - Hải Phòng, QL5 là hai tuyến
quan trọng nhất góp phần rất lớn thúc đẩy kinh tế của huyện phát triển đặc biệt là
công nghiệp, thƣơng mại - dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp.
với tiềm năng, thế mạnh của địa phƣơng. Từ năm 1996-2000, tốc độ phát triển kinh
tế của huyện trung bình đạt 6,9 %/năm [1, tr. 1].
Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bƣớc vào thời kỳ CNH, HĐH,
Đảng bộ huyện Cẩm Giàng đã chú trọng phát triển công nghiệp và coi đây là một
trong những ngành kinh tế chủ đạo của địa phƣơng. Do tài nguyên khoáng sản trên
địa bàn huyện không nhiều nên ngành công nghiệp khai thác còn gặp nhiều khó
khăn. Tuy nhiên, Cẩm Giàng lại là huyện có mạng lƣới giao thông khá hoàn thiện,
vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp khác dọc theo QL5 nối
hai trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Hải Phòng. Đây là tiền đề quan trọng để hình
thành nên các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Giàng.
Huyện đã hình thành hai làng nghề truyền thống chuyên sản xuất đồ thủ công mỹ
nghệ (làng Đông Giao, xã Lƣơng Điền) và sản xuất rƣợu (làng Phú Lộc, xã Cẩm
Vũ). Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển đã thu hút nguồn nhân lực
khá lớn góp phần giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
Bên cạnh những mặt tích cực trên, các ngành công nghiệp, TTCN cũng gặp
phải một số vấn đề khó khăn: Đảng bộ huyện Cẩm Giàng chƣa xác định đƣợc mặt
hàng chủ lực, các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, chƣa tập trung. Trang thiết bị sản
xuất còn lạc hậu, yếu kém dẫn đến năng suất lao động thấp, thu nhập của ngƣời lao
động chƣa cao, đời sống của công nhân đƣợc cải thiện nhƣng không đáng kể.
Huyện Cẩm Giàng đã tập trung lãnh đạo nhân dân khắc phục khó khăn, tận
dụng tối đa các nguồn lực phát triển ngành nông nghiệp. Nhờ áp dụng các biện pháp
khoa học - kỹ thuật, từng bƣớc đƣa cơ giới hóa vào sản xuất nên ngành nông nghiệp
của huyện đã có sự chuyển dịch tích cực cả về năng suất và sản lƣợng. Bƣớc đầu
9
huyện đã tổ chức triển khai quy hoạch các vùng chuyên canh trồng lúa, hoa màu.
Bên cạnh đó, Đảng bộ huyện Cẩm Giàng cũng tạo điều kiện thuận lợi về giống, vốn
nhằm phát triển chăn nuôi, từng bƣớc đƣa ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất
(1996), tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng đã khẳng định đƣờng lối
phát triển kinh tế ở Việt Nam: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ, đƣa nƣớc ta trở thành một nƣớc công nghiệp; ƣu tiên
phát triển lực lƣợng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo
định hƣớng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn
lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả
và bền vững; tăng trƣởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bƣớc cải thiện
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,
bảo vệ và cải thiện môi trƣờng; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cƣờng
quốc phòng - an ninh” [44, tr. 12].
Đảng đề ra kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm (2001-2005) nhằm từng bƣớc
hiện thực hóa chiến lƣợc phát triển kinh tế trong 10 năm (2001-2010) là: “Tăng
trƣởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển
dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế
đối ngoại. Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ,
phát huy nhân tố con ngƣời. Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo;
đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Tiếp tục tăng cƣờng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình
thành một bƣớc quan trọng thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia” [44, tr. 12, 13 ].
Quan điểm của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển kinh tế
Trên cơ sở đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, Đảng bộ tỉnh Hải Dƣơng đã đƣa
ra phƣơng hƣớng để phát triển kinh tế trong thời gian từ năm 2001-2005: “Phát huy
mọi nguồn lực, vƣợt qua khó khăn, thách thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, phấn đấu tăng trƣởng kinh tế cao hơn thời kỳ 1997-2000 và mức bình quân cả
nƣớc. Từng bƣớc tăng cƣờng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao tích lũy từ nội
bộ nền kinh tế, đảm bảo các yếu tố phát triển bền vững và có hiệu quả, tạo tiền đề
vững chắc cho bƣớc phát triển cao hơn vào những năm sau” [7, tr. 38, 39].
xác định rõ mục tiêu, phƣơng hƣớng, nhiệm vụ phát triển kinh tế trong thời kỳ mới.
12
Về phƣơng hƣớng: “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tiếp tục xác định nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu, nhằm đảm bảo an ninh lƣơng thực, tăng hàng hóa xuất khẩu. Đồng thời
đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, củng cố và phát triển làng nghề
truyền thống, khuyến khích phát triển thêm nhiều ngành, nghề mới. Phấn đấu tăng
trƣởng kinh tế cao hơn thời kỳ 1996-2000, gắn phát triển kinh tế xã hội với củng cố
an ninh - quốc phòng, giữ vững ổn định về chính trị, nâng cao chất lƣợng đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể
trong sạch, vững mạnh” [4, tr. 15].
Mục tiêu cần đạt đƣợc trong 5 năm tới là: “Đẩy mạnh phát triển sản xuất ở
các làng nghề, đầu tƣ công nghệ mới, nâng cao chất lƣợng sản phẩm để từng bƣớc
chiếm lĩnh thị trƣờng trong nƣớc, có nhiều mặt hàng xuất khẩu nhƣ chạm khắc gỗ ở
Đông Giao, nghề mộc ở Cẩm Điền, Cẩm Phúc và Cẩm Hoàng. Tập trung phát triển
tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở các thị trấn, thị tứ nhƣ Lai Cách, Tân Trƣờng, Cẩm
Vũ, Cẩm Giàng, Cẩm Văn, Cẩm Phúc. Tất cả các xã trong huyện đều xây dựng
chƣơng trình phát triển ngành nghề dịch vụ ở từng xã, tạo điều kiện thuận lợi để thu
hút các liên doanh nƣớc ngoài đầu tƣ vào địa bàn” [1, tr. 16].
Phấn đấu nhịp độ tăng trƣởng kinh tế 8,7 - 9%/năm, trong đó nông nghiệp
tăng 4,7 - 5,5%/năm, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng 10,6 11,2%/năm (tiểu thủ công nghiệp địa phƣơng tăng 5%/năm); dịch vụ tăng 13 - 13,5
%/năm. Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - thƣơng mại,
dịch vụ đến năm 2005 là 40% - 32% - 28%. Thu nhập bình quân đầu ngƣời năm
2005 từ 6,5 đến 7,5 triệu đồng [1, tr. 16].
Nhiệm vụ trong 5 năm là tích cực phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên
địa bàn huyện, gắn với việc tạo điều kiện về đất đai, hợp đồng cung cấp nguyên liệu
chế biến… với các cơ sở sản xuất công nghiệp của Trung ƣơng, của tỉnh quản lý (kể cả
trí, sử dụng hợp lý, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng với một số cán bộ có năng lực,
trình độ cao, có nhiều kinh nghiệm, chuyên gia đầu ngành, thợ đầu đàn.
Xây dựng hệ thống giao thông thuận lợi, đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi tối
đa cho việc vận chuyển nguyên vật liệu cũng nhƣ sản phẩm sau quá trình sản xuất.
Có đề án, chƣơng trình quy hoạch đất công nghiệp cụ thể vừa đảm bảo có thể mở
14
rộng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp vừa đảm bảo có quỹ đất hợp lý cho sản
xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lƣơng thực.
Tập trung xây dựng các chƣơng trình, đề án để khai thác thế mạnh của địa
phƣơng phát triển nông nghiệp nhƣ: Đề án “Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
nhằm đạt giá trị sản xuất trên 38 triệu đồng/ha/năm” và “Xây dựng cánh đồng cho
thu nhập trên 50 triệu đồng/ha/năm”; “Chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ sang ô
thửa lớn”; “Kiên cố hóa kênh mƣơng”; “Phát triển giao thông nông thôn”. Đẩy
nhanh phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn,
đƣa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Xây dựng cơ chế, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nghề dịch
vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Mở rộng mạng lƣới dịch vụ thƣơng nghiệp, dịch
vụ phục vụ sản xuất ở nông thôn.
Tăng cƣờng đầu tƣ tu tạo, tiến hành quy hoạch các di tích lịch sử văn hóa
nhƣ Văn Miếu Mao Điền, đền Bia. Thƣờng xuyên duy trì các hoạt động lễ hội hàng
năm, thu hút du khách thập phƣơng tạo điều kiện cho các loại hình dịch vụ phát
triển” [1, tr. 17, 18].
1.2.
Quá trình Đảng bộ huyện Cẩm Giàng chỉ đạo phát triển kinh tế (2000-
2005)
Phòng Nông nghiệp phối hợp với các ngành chức năng tổ chức tuyên truyền,
mở các lớp tập huấn chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho nhân dân. Phòng Nông
nghiệp huyện đảm bảo cung cấp đủ số lƣợng giống, phân bón theo kế hoạch, nhanh
chóng đƣa các tiến bộ khoa học - kỹ thuật về giống, kỹ thuật thâm canh vào thực
tiễn sản xuất.
Trạm Bảo vệ thực vật đã tổ chức hƣớng dẫn, kiểm tra và thƣờng xuyên theo
dõi tình hình dịch bệnh để có những biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế thiệt hại do
sâu bệnh gây ra. Bên cạnh đó, trạm cung ứng đủ số thuốc chất lƣợng cho nhân dân
trong trƣờng hợp sâu bệnh xảy ra.
Thực hiện chủ trƣơng cấp trên, Phòng Địa chính phối hợp với Phòng Nông
nghiệp và các xã, thị trấn tổ chức dồn điền đổi thửa chấm dứt tình trạng ruộng phân
tán, nhỏ lẻ. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp có thể tiến
lên sản xuất tập trung với quy mô lớn, tạo nguồn hàng cho ngành công nghiệp chế
biến cũng nhƣ cung ứng nông sản cho thị trƣờng.
Nhằm đảm bảo diện tích gieo trồng đạt hiệu quả cao, Phòng Nông nghiệp lập
đề án tu sửa và xây dựng hệ thống thủy lợi, thƣờng xuyên tổ chức nạo vét kênh
mƣơng đảm bảo khả năng tƣới tiêu cho sản xuất. Trên cơ sở có hệ thống sông tƣơng
16
đối dày nên Đảng bộ huyện Cẩm Giàng đã chỉ đạo Phòng Nông nghiệp phải chủ
động nƣớc tƣới, giải quyết triệt để tình trạng thiếu nƣớc về mùa khô và úng ngập về
mùa mƣa. Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng bộ huyện Cẩm Giàng đã chỉ đạo
tăng cƣờng công tác kiểm tra, tu sửa hệ thống đê, thực hiện tốt công tác phòng,
chống lụt bão nhằm đảm bảo sản xuất cho nhân dân.
Ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
Trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2005, ngành chăn nuôi trên địa bàn
huyện gặp nhiều khó khăn, thách thức. Dịch bệnh liên tiếp xảy ra nhƣ dịch nở mồm
long móng, dịch cúm gia cầm, thị trƣờng tiêu thụ chƣa ổn định đã ảnh hƣởng lớn
thời gian từ năm 2000 đến năm 2005, toàn huyện đã tổ chức chuyển đổi đƣợc
578,2ha đất trồng trọt sang đất nuôi trồng thủy sản nâng tổng số diện tích đất nuôi
trồng thủy sản lên 1.250ha [22, tr. 31].
Phát triển nông nghiệp theo mô hình kinh tế trang trại là hƣớng đi mới đem
lại hiệu quả kinh tế cao và đƣợc Đảng bộ huyện Cẩm Giàng quan tâm, chú trọng.
Phòng Nông nghiệp đã tổ chức các hội nghị chuyên đề phát triển và mở rộng mô
hình trang trại tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân có nhu cầu xây dựng
trang trại chăn nuôi, thả cá.
Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng đề án tổ chức quy hoạch phát triển kinh
tế trang trại ở những địa phƣơng có điều kiện đất đai, diện tích mặt nƣớc lớn để mở
rộng quy mô sản xuất. Đảng bộ huyện cũng xác định chăn nuôi theo mô hình trang
trại sẽ là hƣớng đi chủ yếu nhằm tạo nguồn nông sản hàng hóa cung cấp cho thị
trƣờng đồng thời đây cũng là hƣớng đi mới nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho
ngƣời lao động. Trên cơ sở hiệu quả kinh tế ngày càng cao, mô hình chăn nuôi trang
trại, gia trại ngày càng đƣợc nhân rộng trong toàn huyện. Một số trang trại có quy
mô lớn đã chuyển sang thành lập doanh nghiệp tƣ nhân. Đến năm 2005, toàn huyện
có 40 trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp với tổng doanh thu đạt trên 20 tỷ
đồng. Đƣợc sự đồng ý của Đảng bộ huyện, các trang trại phát triển mạnh đã thành
lập tổ chức “Hiệp hội trang trại” nhằm giúp đỡ nhau cùng phát triển, góp phần tăng
sản lƣợng hàng hóa, thực hiện thành công các đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
vật nuôi [2, tr. 14].
18
Nhƣ vậy, kinh tế trang trại có ƣu thế vƣợt trội so với kinh tế hộ bởi không chỉ
khai thác tốt tiềm năng về đất mà còn tạo ra nguồn hàng hóa tập trung, với số lƣợng
lớn, chất lƣợng tốt cung cấp cho thị trƣờng với giá trị kinh tế cao. Mặt khác, kinh tế
trang trại đã giải quyết đƣợc việc làm cho một bộ phận ngƣời dân lao động góp
phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn huyện. Phát triển kinh tế trang trại đã