Đảng bộ thành phố hồ chí minh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2010 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
============================

NGÔ BÁ KHIÊM

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
============================

NGÔ BÁ KHIÊM

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN KIM ĐỈNH

HÀ NỘI - 2012

1


2.2. Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh với chủ trương đẩy mạnh phát triển
kinh tế du lịch trong những năm 2006 – 2010 .............................................. 43
2.3. Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng bộ Thành phố........................ 50
2.3.1. Quá trình chỉ đạo thực hiện ............................................................. 50
2.3.2. Kết quả:........................................................................................... 61
Chƣơng 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ......................... 67
3.1. Một số nhận xét ..................................................................................... 67
3.2. Một số kinh nghiệm ............................................................................... 82
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố trong phát triển kinh
tế du lịch địa phương theo hướng đồng bộ, hiện đại, đi vào chiều sâu. Nâng
nhận thức của các cấp các ngành, của nhân dân Thành phố về vai trò và
hiệu quả kinh tế - xã hội của ngành kinh tế du lịch. ................................... 82
3.2.2. Chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực
du lịch, có chính sách khuyến khích sự năng động, sáng tạo của các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế du lịch. ....................................... 84
3.2.3. Thực hiện có hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, đảm bảo
môi trường du lịch an toàn, thân thiện với du khách. ................................. 85
KẾT LUẬN ................................................................................................. 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 90
PHỤ LỤC.................................................................................................. 104

2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEANTA:

Hồ Chí Minh

PRESS TOUR:

Du lịch khảo sát

UBND:

Ủy ban nhân dân

VTV:

Đài truyền hình Việt Nam

3


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày một được nâng cao,
điều này đã khiến cho du lịch trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc
sống của con người. Du lịch đã và đang trở thành một trong những ngành kinh tế
quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh của kinh tế thế giới. Ở nhiều quốc gia
trên thế giới, du lịch được coi là “ngành công nghiệp không khói” mang lại hiệu
quả kinh tế cao và đóng góp tỷ trọng không nhỏ vào thu nhập quốc dân.
Đối với Việt Nam, nhận thấy vai trò to lớn của kinh tế du lịch, với tiềm
năng du lịch to lớn có thể khai thác, kể từ sau đổi mới, Đảng ta đã chú trọng
và giành sự quan tâm nhất định nhằm khai thác tiềm năng du lịch, phát triển
ngành du lịch Việt Nam. Trong Chỉ thị 46 – CT/TW, ngày 14/10/1994, về
lãnh đạo, đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới, của Ban Bí thư

hiệu quả kinh tế cao cũng như giải quyết nhu cầu việc làm và đáp ứng nhu cầu
của đông đảo nhân dân. Tuy nhiên trong thời gian qua, ngành du lịch Thành
phố cũng còn một số yếu kém, khuyết điểm chưa phát huy hết tiềm năng thế
mạnh của địa phương về kinh tế du lịch. Trong đó, có những nguyên nhân
khách quan mang lại, cũng có nguyên nhân chủ quan từ sự lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng bộ Thành phố đối với ngành kinh tế quan trọng này.
Từ thực tiễn trên có thể thấy, việc nghiên cứu, đường lối, chủ trương,
chính sách phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh là
cần thiết để tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế, từ đó rút ra bài học
kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển ngành kinh tế quan
trọng của Đảng bộ địa phương. Với những ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Đảng
bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000
đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam của mình.

5


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn mang lại giá trị
kinh tế cao. Xuất phát từ giá trị to lớn mà ngành du lịch có thể mang lại, cùng
với sự đa dạng trong các lĩnh vực du lịch Việt Nam nói chung và du lịch
Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể khái quát lại thành các nhóm sau:
- Một là, các tác phẩm, bài nghiên cứu:
“Du lịch và kinh doanh du lịch” (1996) của tác giả Trần Nhạn, Nxb
Văn hóa thông tin. Tác phẩm trình bày khái niệm du lịch, nguồn lực để phát
triển du lịch cũng như các loại hình du lịch, kinh doanh du lịch. “Tài nguyên
du lịch Việt Nam” (2001) do Phạm Trung Lương chủ biên, Nxb Giáo dục.
Cuốn sách trình bày một số kiến thức về tài nguyên môi trường du lịch, sự

nước trong khu vực Đông Nam Á. Bước tiến của du lịch Việt Nam sau khi ra
nhập WTO và những vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp du lịch Việt Nam.
“Du lịch sinh thái, thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam” của
Nguyễn Đình Hòa (2006), tạp chí Kinh tế và phát triển, số 103, tr11-17…
- Hai là, các luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu:
“Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2010” (luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đoàn Liêng Diễm năm
2003). Luận án đã phân tích tổng quan về những vấn đề lý luận và thực tiễn
về phát triển du lịch bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng và tiềm
năng phát triển, giải pháp và phác họa mô hình phát triển du lịch bền vững ở
Thành phố. “Tiềm năng văn hóa du lịch thành phố Hồ Chí Minh” (luận văn
Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Quế Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm
1998). Tác giả đã phân tích khá sâu sắc những tiềm năng văn hóa du lịch ở
Thành phố Hồ Chí Minh, luận giải những giá trị văn hóa có thể đưa vào khai
thác, phát triển ngành kinh tế du lịch của Thành phố.
Tổng Cục Du Lịch (2005) “Phát triển du lịch địa bàn kinh tế trọng

7


điểm phía Nam” hội thảo do UBND TP.HCM và Tổng Cục Du Lịch tổ chức
tháng 5 năm 2005 tại TP.HCM. “Chương trình phát triển du lịch Tp. Hồ Chí
Minh giai đoạn 2001-2005” của tác giả Nguyễn Thị Lập Quốc, Sở du lịch
thành phố Hồ Chí Minh – Tp Hồ Chí Minh năm 2001. Tác giả đánh giá hiện
trạng, tiềm năng phát triển du lịch Tp. Hồ Chí Minh, nhận diện các thuận lợi,
khó khăn, cơ hội thách thức tác động đến quá trình phát triển du lịch; Định
hướng phát triển du lịch Thành phố trong giai đoạn 2001-2005, xác định mục
tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, các nhiệm vụ, biện pháp đẩy mạnh phát triển
du lịch. “Chương trình phát triển du lịch Tp. Hồ Chí Minh giai đoạn 20062010” của tác giả Nguyễn Văn Quang – Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
năm 2006. Tác giả đánh giá thực trạng phát triển du lịch Thành phố giai đoạn

* Đối tượng nghiên cứu:
- Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh nhằm
phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2010
- Quá trình tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối phát triển kinh tế
du lịch của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh và những kết quả đạt được
trong hoạt động kinh tế du lịch của Thành phố.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: nghiên cứu những chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ
Chí Minh về phát triển kinh tế du lịch, quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thành
phố Hồ Chí Minh trong việc phát triển kinh tế du lịch.
- Địa bàn: thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian: nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2010.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
Nguồn tài liệu luận văn sử dụng bao gồm:
- Các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước có liên quan.
- Hệ thống văn kiện của Thành ủy và các văn bản chỉ đạo, điều hành

9


của chính quyền thành phố Hồ Chí Minh.
- Các công trình nghiên cứu, tổng kết có liên quan.
* Phương pháp nghiên cứu:
- Cơ sở phương pháp luận:
Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng những quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là chủ yếu,
ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như, phân tích, tổng hợp,

bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ Biển Đông 50 km theo đường chim
bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hồ Chí Minh
là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường
không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế quan trọng
của Việt Nam. Điều kiện vị trí này tạo điều kiện thuận lợi lớn cho sự phát
triển du lịch.
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo, thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa –
khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ
tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới
270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình là 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C,
thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung
bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm.
Một năm, nơi đây có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các
thàng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Cũng như
lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và

11


xuống thấp vào mùa khô, 74,5%. Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình
quân/năm 79,5%. Với đặc điểm thời tiết như vậy cũng tương đối thích hợp
cho các hoạt động du lịch, đặc biệt là ít có rủi ro trong hoạt động du lịch liên
quan tới thời tiết.
Địa hình thành phố Hồ Chí Minh tương đối bằng phẳng, có độ dốc nhỏ
theo hướng tây bắc – đông nam, thuận tiện cho việc di chuyển. Về thủy văn,
nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, thành phố Hồ Chí
Minh có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch đa dạng tạo điều kiện thuận lợi để
phát triển loại hình du lịch đường sông.
Tài nguyên du lịch tự nhiên của thành phố Hồ Chí Minh nhìn chung có

với vai trò là trung tâm của khu vực phía Nam, nơi đây cũng là nơi hội tụ của
nhiều dòng văn hóa trong lịch sử, hòa quyện tạo nên những nét riêng cho giá
trị văn hóa của Thành phố. Có thể nói, thành phố Hồ Chí Minh với lịch sử
hơn 300 năm, gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử, tạo nên nguồn
tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng, có thế mạnh so với nhiều địa phương
trong nước.
Di tích lịch sử văn hóa: Cho đến tháng 9/ 2006 Thành phố có 86 di tích
được xếp hạng: 54 di tích cấp quốc gia trong đó 26 di tích lịch sử, 26 di tích
kiến trúc nghệ thuật, 2 di tích khảo cổ; 32 di tích cấp thành phố.
Di tích văn hóa khảo cổ: Hai di tích khảo cổ được công nhận là di tích
cấp quốc gia là di tích mộ chum Giồng Cá Vồ và Lò gốm cổ Hưng Lợi và
hàng chục di tích khảo cổ khác mới phát hiện.
Di tích lịch sử: Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu
như: Hội Trường Thống Nhất. Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược:
khu căn cứ Rừng Sác, Địa đạo Củ Chi, khu dân công hỏa tuyến Mậu Thân
1968 (Bình Chánh), Địa đạo Phú Thọ Hòa (Bình Tân), Mười Tám thôn
Vườn Trầu (Hóc Môn). Di tích ghi dấu những kỷ niệm: Bến Nhà Rồng,
Nghĩa trang Liệt Sỹ Tp. HCM, Đền tưởng niệm Bến Dược – Củ Chi…

13


Di tích văn hóa nghệ thuật và các cơ sở tôn giáo như: Các chùa, đình,
đền, miếu, nhà thờ, nhà cổ, lăng mộ, các tòa thánh, Ủy ban nhân dân Thành
phố (Dinh Xã Tây), Bưu Điện Thành phố, Thảo Cầm Viên, Chợ Bến
Thành, Lăng Lê Văn Duyệt, Chùa Bà Thiên Hậu (Tuệ Thành Hội Quán),
Chùa Ngọc Hoàng, Chùa Ông (Nghĩa An Hội Quán). Chùa Giác Lâm, Chùa
Giác Viên, Chùa Nam Thiên Nhất Trụ, Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Xá Lợi,
chùa bà Thiên Hậu, Nhà thờ Đức Bà, nhà thờ Tân Định, nhà thờ Cha Tam,
đền Hồi giáo Trung tâm…

1.1.2. Thực trạng ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000
Hoạt động du lịch của Thành phố được bắt đầu từ ngay những ngày đầu
giải phóng với sự ra đời của Công ty Du lịch thành phố Hồ Chí Minh (Sai
Gon Tourist) vào tháng 8 năm 1975. Bên cạnh nhiệm vụ chính trị, ngành du
lịch lúc bấy giờ từng bước tìm cách tiếp cận với thị trường quốc tế. Năm 1979
Công ty Sai Gon Tourist được phép trực tiếp ký kết hợp đồng phục vụ khách
ở một số thị trường Ấn Độ, Pháp, Nhật, Ý, Canada, Úc... và đến năm 1984 lần
đầu tiên ngành du lịch thành phố tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế ITB tại
Cộng hòa Liên Bang Đức.
Năm 1990, năm du lịch thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên được tổ
chức nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, giới thiệu
hình ảnh một điểm đến mới mẻ đến với bè bạn quốc tế.
Đồng hành với sự chuyển động tích cực của du lịch thành phố là quá
trình hoàn thiện không ngừng bộ máy quản lý nhà nước về du lịch. Cho tới
trước năm 2000, đã có 04 lần chuyển đổi tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về
du lịch, từ Sở Ăn uống Khách sạn của những năm cuối thập niên 70 - đầu thập
niên 80, chuyển sang Sở Kinh tế Đối ngoại vào đầu thập niên 90 và tháng 8
năm 1993 Sở Du lich
̣ thành phố Hồ Chí Minh đươ ̣c thành lâ ̣p

nhằ m giúp Ủy

ban nhân dân thành phố thực hiê ̣n chức năng quản lý nhà nước trong liñ h vực
du lich
̣ trên điạ bàn thành phố . Sau khi Sở Du lịch ra đời, cùng với những điều

15


kiện thuận lợi của đất nước và Thành phố, ngành du lịch đã chính thức bước

tiến quảng bá chưa cao, vốn đầu tư còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực
chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, công tác quản lý còn nhiều bất cập…
Với tất cả những kết quả đạt được cũng như những điểm tồn tại đặt ra
yêu cầu cho Đảng bộ, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh cần nhận thức sâu
sắc, trên cơ sở đánh giá thực trạng để có chủ trương, giải pháp thích hợp
nhằm phát triển ngành kinh tế du lịch trong thời gian tiếp theo.
1.2. Chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về phát triển du lịch
Luật Du lịch Việt Nam xác định: “Du lịch là các hoạt động liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định” [29, tr.9].
Như vậy du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa
có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội.
Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới không chỉ mang
lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội.
Du lịch cũng như mọi ngành kinh tế khác, muốn khai thác tốt tiềm năng
của nó để phát triển cần có đường lối đúng, chính sách phù hợp, đây là một
trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy ngành kinh tế này phát
triển. Một quốc gia dù có nhiều nguồn lực về tài nguyên du lịch, tuy nhiên
nếu hệ thống đường lối, chính sách phát triển thiếu đồng bộ thì cũng không
thể biến những tiềm năng thành hiện thực về hiệu quả kinh tế. Nhận thức sâu
sắc vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm không nhỏ cho
ngành kinh tế du lịch, đặc biệt kể từ sau công cuộc đổi mới đất nước. Đường
lối, chính phát triển du lịch là một bộ phận trong tổng thể của đường lối phát
triển kinh tế - xã hội của một địa phương hay một quốc gia. Đường lối, chính
sách phát triển du lịch thể hiện trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch,

17




thống văn hóa, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển
nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực. Xây
dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm và
đẩy mạnh hợp tác liên kết với cả nước” [15, tr.178].
Như vậy ngành du lịch không những được quan tâm chú trọng mà thật
sự đã đặt ra yêu cầu đưa nước ta sớm trở thành một trung tâm du lịch có thể
so sánh trong khu vực, đồng thời trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn bên
cạnh một số ngành khác. Không chỉ xác định mục tiêu, Đảng cũng đưa ra
định hướng cụ thể hơn về phát triển du lịch: “Nâng cao chất lượng, quy mô và
hiệu quả hoạt động du lịch. Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt
động du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm…
Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, văn hóa,
lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Xây dựng và nâng
cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước trong hoạt động
du lịch” [15, tr.287]. Ngoài việc đưa ra đường lối phát triển chung cho ngành
du lịch trên phạm vi cả nước, trong “định hướng phát triển các vùng lãnh
thổ”, Đại hội Đảng toàn quốc lần IX cũng nêu chủ trương phát triển du lịch
gắn với điều kiện của từng vùng lãnh thổ nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so
sánh của từng vùng trong việc phát triển du lịch. Bộ Chính trị ra Thông báo số
179/TB – TW về việc phát triển du lịch trong tình hình mới (11/11/1998).
Chương trình Hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch Việt Nam
năm 2000 với tiêu đề “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới” đã được
triển khai trong 2 năm 2000 – 2001.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006), đã đánh giá thành tựu
phát triển của ngành du lịch trong thời gian trước đó: “ngành du lịch phát
triển khá cả về lượng khách, loại hình và sản phẩm du lịch” [16, tr.144]. Đồng
thời Đảng nêu định hướng phát triển du lịch trong thời gian tiếp theo:



20


Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật du lịch. Luật du lịch năm
2005 gồm 11 chương, 88 điều bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thực
hiện điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực du lịch ở tầm cao hơn, khẳng định
một lần nữa vị thế của ngành du lịch không chỉ ở chủ trương, chính sách mà
còn được thể chế hóa một cách cụ thể bằng luật. Không chỉ điều chỉnh các
mối quan hệ trong lĩnh vực du lịch ở trong nước, luật du lịch năm 2005 còn là
cơ sở pháp lý quan trọng nhằm mở rộng giao lưu, hợp tác giữa du lịch Việt
Nam và du lịch quốc tế; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch góp
phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm cho việc thực hiện
chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; lợi ích của nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và
có hoạt động liên quan đến du lịch trên lãnh thổ Việt Nam, góp phần phát
triển du lịch trong nước và du lịch quốc tế.
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là cơ sở quan trọng cho
các địa phương đưa ra chủ trương phát triển của địa phương mình.
1.3. Chủ trƣơng, biện pháp và quá trình chỉ đạo thực hiện của
Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1. Chủ trương và biện pháp
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa VI tại
Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ VII, ngày 19 tháng 12 năm 2000
đã khẳng định: “Đưa ngành du lịch thành phố thực sự là một ngành công
nghiệp với sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh với các trung tâm du
lịch của các nước trong khu vực. Phát triển mạnh dịch vụ vận tải, kho bãi,
dịch vụ cảng, kho vận và vận tải công cộng đô thị” [9, tr.12]. Như vậy tại Đại
hội lần này, vị thế của ngành du lịch đã được chú trọng hơn một bước so với
Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ VI năm 1996 với chủ trương:

Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
(khoá VII) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27 tháng 10 năm

22


2002 về “Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ - thương mại trên
địa bàn thành phố đến năm 2005”. Nghị quyết xác định phương hướng chung
cho ngành du lịch thành phố giai đoạn 2002 – 2005 là: “Đưa ngành du lịch
thành phố thực sự là một trong những ngành kinh tế chủ lực có sức cạnh tranh
với các trung tâm du lịch của các nước trong khu vực” [41, tr.2].
Như vậy, mục tiêu của Đảng bộ Thành phố nâng ngành du lịch lên
thành ngành kinh tế chủ lực có sức cạnh tranh trong khu vực. Vị trí ngành
kinh tế du lịch được phấn đấu nâng lên một bước, điều đó khẳng định quyết
tâm của Đảng bộ thành phố trong việc phát triển ngành kinh tế có nhiều tiềm
năng này. Không chỉ đề ra phương hướng chung, Nghị quyết số 09-NQ/TU
còn tập trung chỉ đạo phát triển 6 nhóm ngành thương mại trong đó có ngành
du lịch. Riêng đối với ngành du lịch, mục tiêu chung được xác định cho tới
năm 2005 theo tinh thần Nghị quyết 09-NQ/TU là: “Tập trung phát triển
ngành du lịch thành phố thực sự là một ngành kinh tế mạnh, có các sản phẩm
chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh với các trung tâm du lịch của các nước
trong khu vực. Phấn đấu tăng doanh thu du lịch bình quân hàng năm từ 10%
trở lên, tăng số ngày lưu trú và chi tiêu của khách quốc tế bằng với mức trung
bình của các nước trong khu vực” [41, tr.5].
Nghị quyết xác định các giải pháp: “Cần đa dạng hóa các hình thức tổ
chức và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch, phát triển các loại hình du
lịch sinh thái, du lịch văn hóa - thể thao, du lịch hội nghị, hội thảo, hội chợ
quốc tế,... Liên kết với các địa phương trong cả nước và với các nước trong
khu vực để xây dựng chương trình du lịch đến các điểm du lịch hấp dẫn du
khách trong và ngoài nước. Tập trung thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status