ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
..........................................................
NGUYỄN VĂN PHÚ
ĐẢNG BỘ HUYỆN THẠCH THÀNH (THANH HÓA)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên nghành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mã số: 60220315
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thúy Hà
Hà Nội 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thúy Hà. Các số liệu, tài liệu trong luận văn là
trung thực, đảm báo tính khách quan, có nguồn ngốc, xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Phú
2
: Hợp tác xã
NXB .....
: Nhà xuất bản
UBND
: Uỷ ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
4
Bảng 1.1: Gía trị sản xuất nông – lâm - thuỷ sản huyện Thạch Thành 19902000(theo thực tế).
Bảng 1.2: Diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện Thạch Thành
1990-2000.
Bảng 1.3: Chăn nuôi gia súc, gia cầm hàng năm của huyện Thạch Thành.
Biểu đồ 2.1: So sánh cơ cấu GDP của huyện năm 2000,2012.
Biểu đồ 2.2: So sánh cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệphuyện Thạch
Thành.
Bảng 2.3: Số lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm (2000-2012) .
5
3.1. Nhận xét .......................................................................................... 65
3.1.1. Những thành tựu.......................................................................... 65
3.1.2. Hạn chế và những vấn đề đặt ra ................................................. 75
3.1.3. Nguyên nhân ................................................................................ 78
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ......................................................... 80
KẾT LUẬN ............................................................................................. 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................... 87
PHỤ LỤC................................................................................................ 95
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là một ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của
nước ta nên được Đảng và nhà nước coi đây là một ngành kinh tế trọng
điểm cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội, góp phần đảm bảo
an ninh lương thực, ổn định cuộc sống. Hiện nay, nông nghiệp có nhiều
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mang lại nguồn ngoại tế lớn góp phần
vào phát triển chung của nền kinh tế nước nhà như: Xuất khẩu gạo đứng
thứ hai thế giới, đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu cà phê….tạo việc làm và
nguồn thu chính đáng cho người nông dân. Bên cạnh đó Việt Nam là một
nước đông dân, có tỉ lệ dân số tăng nhanh lại sống chủ yếu ở nông thôn và
hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu vì thế phát triển kinh tế nông
nghiệp càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, trong hơn
một thập kỷ qua quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đô thị
hóa đất nước đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, ảnh
hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người nông dân.
lúa nước, trông cây ngô, đậu và một số cây công nghiệp, đem lại thu nhập
cao cho người nông dân là cây cao su và cây mía vv…Hơn nữa là một
huyện nông nghiệp ở miền núi nhưng huyện Thạch Thành lại là nơi thường
xuyên bị ảnh hưởng của bão lụt gây hậu quả nặng nề ảnh hưởng không nhỏ
đến đời sống của nhân dân và kinh tế chung của toàn huyện. Chính vì thế,
để đưa nông nghiệp của huyện nhà phát triển theo hướng nền nông nghiệp
hiện đại và giúp nhân dân tháo gỡ được khó khăn trong phát triển kinh tế
nông nghiệp là vấn đề cấp thiết, là sự quan tâm, trăn trở của các thế hệ lãnh
đạo trong Đảng bộ huyện Thạch Thành.
Từ khi thành lập đến nay, đặc biệt là trong hơn mười năm từ 2000 đến
2012, Đảng bộ huyện Thạch Thành đã không ngừng tìm tòi sáng tạo, học
tập kinh nghiệm, áp dụng những khoa học kỹ thuật, ðýa cây, con giống mới
9
phù hợp với ðất ðai của ðịa phýõng ðể phát triển kinh tế nông nghiệp huyên
nhà. Với những nỗ lực ấy cộng thêm tình thần chịu thương chịu khó của
nhân dân cho đến nay nên nông nghiệp huyện nhà ngày càng phát triển
theo hướng hàng hóa, xóa bỏ sản xuất phân tán, manh mún. Tuy nhiên bên
cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần phải có
giải pháp để tháo gỡ, nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu và một số nguồn
lực chưa được khai thác hay khai thác chưa tương xứng với tiềm năng của
huyện. Cũng vì vậy nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp có
vai trò rất quan trọng nhằm rút ra những kinh nghiệm để đẩy mạnh phát
nông nghiệp của huyện nhà ở những giai đoạn sau là rất cần thiết.
Với những lí do trên, việc chọn đề tài “Đảng bộ huyện Thạch Thành
(Thanh Hóa) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến
năm 2012” để làm luận văn thạc sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam là có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cần thiết.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
từ 1975 đến nay”, tác giả Trần Bá Đệ đã dành một chương để trình bày tình
hình kinh tế - xã hội, văn hóa của Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới. Trên
cơ sở phân tích lý luận và đánh giá khách quan thực tiễn nông nghiệp, nông
dân, nông thôn ở Việt Nam, cuốn sách “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020” của tác giả
Nguyễn Thị Tố Quyên đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cũng như xu
hướng phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong mô
hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020, đồng thời đề xuất một
số chính sách nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại đang đặt ra trong nông
nghiệp, nông dân, nông thôn.
Một số người cũng từng nghiên cứu đến vấn đề phát triển kinh tế nông
nghiệp, như Lê Quang Phi (2006): Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ 1991 11
2002, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội; Đồng Chí Linh (2012): Phân tích
hiệu quả sản xuất cây cam sành trên đất ruộng ở huyện Trà Ôn Tỉnh Vĩnh
Long, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học.
- Do vị trí địa lí của huyện Thạch Thành năm ở khu vực miền núi tỉnh
Thanh Hóa, cách xa các trung tâm nghiên cứu. Bên cạnh đó Thạch thành
không phải là một trong những điểm nóng trong thời điểm chiến tranh cũng
không nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của đất nước vì thế mà các công
trình nghiên cứu về huyện cũng rất ít chỉ một số nhỏ những viết về huyện.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp huyện Thạch Thành như: “Lịch sử Đảng bộ huyện Thạch Thành,
1996-2005”, (xuất bản năm 2006), Nhà xuất bản Thanh Hóa. Tuy nhiên
hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về phát triển kinh tế
nông nghiệp của huyện. Chính vì lẽ đó trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi gặp thuận lợi nhưng cũng rất khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu liên
quan.
phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2012. Tuy nhiên, để
có cơ sở so sánh trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi có đề cập đến
tình hình kinh tế nông nghiệp của huyện trước năm 2000.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1.Phương pháp nghiên cứu
Là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp 2 phương pháp
đó. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương
pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp
khảo sát thực tế...nhằm phân tích đánh giá làm rõ các nội dung của đề tài.
5.2.Nguồn tư liệu chủ yếu là
Các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng bộ huyện Thạch Thành, các báo cáo
của Ủy ban nhân dân huyện Thạch Thành. Ngoài ra luận văn còn sử dụng
tài liệu của các công trình khác có liên quan đến lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp của Đảng và của các nhà nghiên cứu khác trong các sách, tạp
13
chí, luận văn, luận án...
6. Đóng góp của luận văn
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển
nông nghiệp từ năm 2000 đến 2012 của Đảng bộ huyện Thạch Thành.
- Nêu lên nhận xét, đánh giá về thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh
nghiệm của Đảng bộ huyện Thạch Thành trong việc lãnh đạo, chỉ đạo phát
triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Thạch Thành thời kỳ 20002012.
- Cung cấp, bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu
lịch sử đảng bộ Thạch Thành nói riêng và lịch sử Đảng nói chung trong
lĩnh vực lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến
2012.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
là sông Bảo, sông Tế Giang). Ðời Lê Quang Thuận đổi tên Tế Giang thành
Bình Giang, đời Trung Hưng gọi là huyện Quảng Bình. Thời Tây Sơn đổi
là huyện Quảng Bằng. Ðầu thời Nguyễn đổi lại thành huyện Quảng Bình.
Năm Minh Mệnh thứ 2 (năm 1821), đổi tên thành Quảng Ðịa, sau lại đổi
tên là huyện Quảng Tế.) Năm Thành Thái thứ 1 (năm 1889) nhập huyện
Quảng Tế vào huyện Thạch Thành và hình thành huyện Thạch Thành ngày
nay) Năm 1977, ghép hai huyện Thạch Thành và Vĩnh Lộc thành huyện
15
Vĩnh Thạch. Ðến năm 1982, lại tách hai huyện như cũ và lại lấy tên là
huyện Thạch Thành.
1.1.1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Thạch Thành là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hoá,
phía đông giáp huyện Hà Trung, phía bắc giáp huyện Nho Quan (tỉnh Ninh
Bình), phía tây giáp huyện Cẩm Thuỷ và huyện Bá Thước, phía nam giáp
huyện Vĩnh Lộc. Theo điều tra thổ nhượng của Sở Ðịa chính, phần lớn chất
đất ở đây rất thích hợp cho phát triển cây công nghiệp, đây là tiềm năng thế
mạnh vô cùng quý giá của Thạch Thành trong quá trình phát triển kinh tế.
Ngoài ra, Thạch Thành còn có mạng lưới giao thông thuận lợi với tuyến
đường quốc lộ 45, tỉnh lộ 7 nối các huyện trong tỉnh, đi thị xã Bỉm Sơn,
huyện Hà Trung, huyện Vĩnh Lộc, huyện Cẩm Thuỷ, tạo điều kiện cho
Thạch Thành giao thương với các huyện trong tỉnh và cả nước. Ðặc biệt,
với tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua vùng đệm của rừng quốc gia Cúc
Phương và được Bộ Giao thông Vận tải xác định là "điểm nghỉ chân" đã
tạo cho Thạch Thành lợi thế phát triển thương mại - dịch vụ và du lịch sinh
thái. Phát huy tiềm năng và thế mạnh của huyện miền núi.
Sau khi được xác lập huyện Thạch Thành ngày nay có diện tích tự nhiên là
558,1 km2, dân số 150.600, có 26 xã và 02 thị trấn với 243 làng.
Để có những làng mạc trù phú xen kẽ giữa núi đá và những cánh đồng bằng
đất miền Trung nên cũng mang những đặc điểm chung của vùng về sự
thuận lợi và khắc nghiệt của thiên nhiên. Ngoài những yếu tố nắng nóng,
mưa nhiều, độ ẩm cao rất thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt, chăn
nuôi, vùng đất này cũng chịu rất nhiều bất lợi do thiên nhiên gây ra. Đó
là việc hình thành các vùng tiểu khí hậu, lượng mưa nắng phân bố không
đều trong năm dẫn đến hạn hán, lũ lụt thường xuyên đã gây ra nhiều tai
họa cho sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Truyền thống của
cư dân vùng đất này đã sớm đoàn kết, gắn bó bên nhau dưới nhiều hình
17
thức phong phú như: phường, hội... để liên kết, hợp tác, cùng nhau tìm
kiếm các phương cách tạo lập và xây dựng cuộc sống.
Sự đa dạng, phong phú của đất đai, khí hậu ở Thạch Thành là điều kiện
cho sự đa dạng, phong phú trong việc phát triển cây trồng, vật nuôi.
Ngoài việc trồng lúa, khoai ngô, sắn, đậu, lạc, vừng.... là những loại cây
lương thực truyền thống, vùng đất này còn có những loại cây công
nghiệp chủ lực khác là cây mía, cây cao su và một số câu ăn quả khác
như: bưởi, cam, mít, chè xanh...
1.1.1.3. Con người
Tỉnh Thanh Hoá nói chung và huyện Thạch Thành nói riêng là một trong
những địa phương được xác định là nơi xuất hiện loài người đầu tiên ở Việt
Nam (núi Đọ ở Thiệu Hoá và hang Con Moong ở xã Thành Yên huyện
Thạch Thành). Sức hấp dẫn của vùng đất vừa có đất phù sa ven sông vừa
có đồi núi rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước và phát triển lâm nghiệp, vì
thế ngoài cư dân gốc Thạch Thành còn đón nhận các luồng dân cư từ nơi
khác tới đây khẩn hoang sinh sống và lập nghiệp, hình thành và thiết lập
nên những làng xã đông đúc, đa dạng. Để tồn tại và phát triển trong điều
kiện thiên nhiên khắc nhiệt, họ luôn phải chống chọi với thiên tai hạn hán,
truyền h́ nh huyện và hệ thống truyền thanh cơ sở được đầu tư nâng cấp,
đảm bảo chất lượng và phát huy được hiệu quả thông tin tuyên truyền.
Thực hiện chủ trương xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, từng bước nâng
cao chất lượng các hoạt động văn hoá - xã hội, tính đến năm 2000, toàn
huyện có 156 đơn vị khai trương làng, cơ quan, trường học văn hoá. Trong
đó, xã Ngọc Trạo có 100% làng khai trương xây dựng làng văn hoá. Hoạt
động thể dục - thể thao có nhiều chuyển biến, công tác xã hội hoá hoạt
động thể dục thể thao được củng cố và đẩy mạnh, các phong trào hoạt động
thể dục thể thao cơ sở thu hút ngày càng đông đảo quần chúng tham gia...
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được cấp uỷ Ðảng và
Chính quyền quan tâm, củng cố cả về chất lượng và số lượng. Do đó, số
19
bệnh nhân vào khám và điều trị tại trung tâm y tế huyện, các trạm xá, thị
trấn ngày càng nhiều, số bệnh nhân vượt tuyến ngày càng giảm.
Hoạt động y tế dự phòng được củng cố và tăng cường, công tác an
toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường được kiểm tra thường xuyên. Nhờ làm
tốt công tác phòng chống, trong nhiều năm liền, Thạch Thành không để xảy
ra dịch bệnh lớn.
Công tác dân số - kế họach hoá gia đình được tập trung chỉ đạo
thường xuyên. Ý thức tự giác và trình độ xã hội hoá được tăng cường. Tỷ lệ
sinh giảm từ 2,4% năm (1996) xuống còn 1,8% ( năm 1999); số người sinh
con thứ ba giảm dần từ 23% (năm 1995) xuống còn 13% (năm 1999).
Tình hình quốc phòng - an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục
được giữ vững và ổn định, tạo được khối đại đoàn kết toàn dân. Quốc
phòng luôn được củng cố, xây dựng cơ sở vững mạnh, duy trì chế độ sẵn
sàng chiến đấu và làm tốt công tác tuyển quân. Những kết quả nêu trên là
hệ quả tất yếu từ chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân tỉnh, sự đoàn kết nhất trí cao trong việc vận dụng sáng tạo đường
phong trào huyện nhà có bước phát triển mới, toàn diện về kinh tế, xã
hội, an ninh quốc phòng” [27, tr.3].
Với đường lối đó đã tạo ra những bước thay đổi căn bản trong nền kinh
tế nông nghiệp, Thạch Thành đã tạo ra được một số cơ sở vật chất kỹ
thuật ban đầu, hệ thống chính trị được củng cố xây dựng vững chắc, đời
sống văn hóa mới được hình thành. Đảng bộ đã phát huy được sức mạnh
toàn Đảng, toàn dân, kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng,
xây dựng huyện một cách toàn diện. Nhiều ngành, nhiều địa phương đã
năng động sáng tạo tìm tòi thử nghiệm, tổng kết, đóng góp những kinh
nghiệm quý báu cho sự lãnh đạo của Đảng.
Ngày 15-12-1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam khai mạc tại thủ đô Hà Nội, đây là mốc quan trọng đánh
dấu bước chuyển đất nước sang thời kỳ mới. Đại hội đã đề ra đường lối
21
đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn
hóa trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế. Đại hội VI tiếp tục xác định vị
trí hàng đầu của nông nghiệp, chủ trương: “Giải phóng năng lực sản
xuất, trước hết và chủ yếu là năng lực sản xuất của hàng chục triệu lao
động với hàng triệu ha đất đai” [23, tr.21, 154, 155].
Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, tiếp tục thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVIII, Thạch Thành bước vào tiến hành
công cuộc đổi mới trên tất cả các mặt đời sống xã hội. Tập trung phát
triển nông nghiệp, khai thác kinh tế trên đồng ruộng bằng việc đầu tư
giống mới, nguồn nước tăng mùa vụ (đông xuân, hè thu, vụ đông) có
chính sách khuyến khích hợp lý. Mở rộng ngành nghề, khơi thông liên
doanh, liên kết để xuất khẩu, thu ngoại tệ về cho ngân sách huyện. Trong
nông nghiệp, thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng,
Thạch Thành tiếp tục đẩy mạnh công tác khoán đến từng nhóm và người
chuyển động bộ phận sang chuyển động toàn thân” [42, tr.63], phá vỡ
hoàn toàn hệ thống quản lý tập trung bao cấp, mở ra thời kỳ huy hoàng
của sản xuất nông nghiệp. Với Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị “nhận
thức mô hình hợp tác xã nông nghiệp có bước chuyển căn bản. Tập thể
hóa về tư liệu sản xuất không còn tiêu chí hàng đầu của các hợp tác xã.
Thậm chí, hợp tác xã còn có thể có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản
xuất”. Hợp tác xã nông nghiệp dần chuyển đơn vị kinh doanh, trợ giúp
đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu trong nông nghiệp là hộ nông
nghiệp. Để cụ thể hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị, Huyện ủy đã tổ chức
các lớp tập huấn quán triệt nội dung Nghị quyết đến tận cán bộ, đảng
viên và xã viên, phong trào thâm canh trong nông nghiệp từng bước
chuyển mạnh, đi vào chiều sâu, đem lại hiệu quả đưa tổng sản lượng
lương thực từ 44.800 tấn (1986) lên 49.060 tấn (1987) tăng 4.260 tấn.
Cùng với những tiến bộ về lương thực thì cây công nghiệp ngắn ngày và
dài ngày đều phát triển khá, tăng cao về diện tích, năng suất, sản lượng.
23
Đặc biệt đã đưa diện tích trồng lạc từ 869 ha (1985) lên 1.200 ha (1986)
và 1.500 ha (1988) [11, tr.5].
Phong trào chăn nuôi có xu hướng phát triển mạnh, tăng cả về số lượng
và chất lượng đàn gia súc, gia cầm. Cuối năm 1987, Đảng bộ huyện
Thạch Thành chủ trương “hóa giá đàn trâu bò tập thể cho xã viên”. Có
thể nói đây là vấn đề mới, nhạy cảm, có liên quan đến quan hệ sản xuất
và việc quản lý tư liệu sản xuất của hợp tác xã. Kết quả là đàn trâu bò
được chăm sóc chu đáo, không bị chết rét và phát triển từ 23.000 con
(1986) lên gần 25.000 con (1988), tăng 2000 con. Về đàn lợn, bình quân
trọng lượng xuất chuồng tăng nhanh từ 60kg/con (1986) lên 75kg/con
(1988) [11, tr.6].
Từ năm 1989 trở đi, đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu
nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp. Quan
hệ sản xuất được điều chỉnh trên ba phương diện sở hữu, quản lý, phân
phối cho phù hợp hơn với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất.
Căn cứ vào đặc điểm, đất đai, khí hậu và kinh nghiệm nhiều năm, Huyện
đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng, ổn định và thâm
canh lúa đông xuân tăng diện tích lúa hè thu, giảm tối đa diện tích mùa
muộn tăng cây vụ đông, mở rộng và thâm canh cây lạc, thực hiện các
biện pháp gối vụ, trồng xen và chọn cây trồng có giá trị kinh tế cao. Mở
rộng diện tích tưới tiêu, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp
phần nâng cao năng suất các loại cây trồng. Năng suất lúa giai đoạn
1989 - 1991 đạt bình quân 30,07 tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực quy
thóc năm 1989 đạt 54.525 tấn, năm 1990 đạt 55.502 tấn, năm 1991 đạt
55.282 tấn, bình quân tăng gần 6000 tấn/năm so với giai đoạn 1986 1988. Nâng bình quân lương thực đầu người đạt 333kg/năm, tăng 23 kg
so với giai đoạn 1986 - 1988, rau màu các loại 9.572 tấn. Tỷ trọng giá trị
25