đảng bộ huyện kim thành lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tu nam 1997 den nam 2007 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

——————————————

NGUYỄN VĂN TUÂN

ĐẢNG BỘ HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƢƠNG)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

——————————————

NGUYỄN VĂN TUÂN

ĐẢNG BỘ HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƢƠNG)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

giảm nghèo 1997-2001 ........................................................ .32
2.1.2. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành thực hiện
xoá đói, giảm nghèo 1997 -2001 ........................................... 34
2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của
Đảng bộ huyện Kim Thành những năm 2001-2007 .......................... 44
2.2.1. Chủ trương của Tỉnh uỷ Hải Dương và Đảng bộ huyện
Kim Thành về xoá đói, giảm nghèo ...................................... 44
2.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của
Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) những năm
2001-2007 ............................................................................ 48
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM......................................................... 65
3.1. Thành tựu, hạn chế ........................................................................... 65


3.1.1. Thành tựu và nguyên nhân.................................................... 65
3.1.2. Hạn chế ................................................................................ 72
3.2. Kinh nghiệm..................................................................................... 75
3.2.1. Để thực hiện tốt Chương trình xoá đói, giảm nghèo phải
làm chuyển biến nhận thức thông suốt trong nội bộ Đảng
đến quần chúng từ cấp huyện đến cấp xã, thôn về chủ
trương xoá đói, giảm nghèo .................................................. 76
3.2.2. Đảng bộ và chính quyền địa phương phải làm tốt công
tác tuyên truyền vận quần chúng nhân dân tham gia ............. 77
3.2.3. Đảng bộ, các cấp, các ngành phải kịp thời đưa ra các giải
pháp thích hợp trợ giúp và các chính sách chăm lo cho
người dân kịp thời ..................................................................78
3.2.4. Đảng bộ và chính quyền địa phương phải nâng cao năng
lực thực hiện và kịp thời nhân rộng mô hình, cá nhân, tập
thể điển hình về công tác xoá đói, giảm nghèo ..................... 79
3.2.5. Tìm ra những thế mạnh của từng hộ, địa phương để tìm ra

tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo. Trong từng giai đoạn
cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm và tiến hành một cách
sáng tạo cuộc chiến chống đói nghèo và lạc hậu.

1


Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991), Đảng đã đề ra
chủ trương xoá đói, giảm nghèo. Đây là một chủ trương, quyết sách lớn trong
việc thực hiện hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”. Ngay khi ra đời, chủ trương trên hợp với lòng dân, nên chỉ
trong một thời gian ngắn đã trở thành phong trào rộng khắp các tỉnh, thành
trong cả nước. Thông qua quá trình khảo sát, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn,
năm 1998, Chính phủ đã xây dựng và phê chuẩn Chương trình xoá đói, giảm
nghèo với tư cách là “Chương trình mục tiêu quốc gia”. Chương trình được
chia làm hai giai đoạn: giai đoạn I (2001 - 2005) và giai đoạn II (2006 - 2010).
Qua thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có thể thấy rõ qua
từng năm đã có sự tiến triển vượt bậc về giảm tỉ lệ đói nghèo ở nước ta.
Kim Thành là một huyện nằm ở phía Đông tỉnh Hải Dương, với diện
tích 11364,9 ha, gồm 1 thị trấn, 20 xã, dân số là 127.112 người. Là một huyện
mới được tái lập năm 1997, được tách từ huyện Kim Môn (Kim Thành và
Kinh Môn). Kim Thành vốn là một huyện nghèo của tỉnh Hải Dương, cơ sở
hạ tầng còn thấp kém, trình độ dân trí thấp, mức gia tăng dân số là khá cao,
thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp, đời sống còn có nhiều khó khăn.
Từ khi có chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, một bộ
phận dân cư có vốn, có kiến thức đã tiếp thu được những tiến bộ của khoa học
và công nghệ, tiếp cận được thị trường nên nhanh chóng trở thành những bộ
phận có thu nhập khá giả. Một bộ phận khác, do nhiều nguyên nhân nên gặp
rất nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, đã trở thành người nghèo hoặc

trình nghiên cứu và một số bài báo, tạp chí tập trung chủ yếu ở các nhóm sau:
Nhóm 1: Các chuyên luận, chuyên khảo đó in thành sỏch viết về vấn đề
xoá đói, giảm nghèo ở nước ta được phát hành:
- Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Xuân Triều (1993), Đói nghèo ở Việt
Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
- Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam (1996), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3


- Nguyễn Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi Trọng Thanh (1997), Vấn đề
xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb. Lao động - Xã hội,
Hà Nội.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Hệ thống văn bản pháp
luật hiện hành về xoá đói, giảm nghèo, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
Nhóm 2: Các bài báo khoa học viết về xoá đói, giảm nghèo được đăng
trên các báo, tạp chí:
- Hà Thị Khiết (2006), “Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với hoạt động
xóa đói, giảm nghèo cho phụ nữ”, Tạp chí Cộng sản điện tử, số 117.
- Lê Quang Trung (2006), “Nâng cao năng lực lãnh đạo đội ngũ cán bộ
chủ chốt người dân tộc miền núi phía Bắc”, Tạp chí Xây dựng Đảng.
- Phúc Hưng (2008), “Học để xoá đói, giảm nghèo”, Dân trí. Com.
- Hoàng Trọng Khôi (2010), “Từ thành tựu xoá đói, giảm nghèo khởi
xướng chương trình an sinh mới”, Báo điện tử Sài Gòn Giải phóng.
Nhóm 3: Những luận văn, luận án của học viên cao học, nghiên cứu
sinh lấy xoá đói, giảm nghèo làm đề tài nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau:
- Nguyễn Trung Tính (1997), Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh
đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo (1992 - 1997), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử,
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

hạn chế trong quá trình thực hiện. Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số
vấn đề thuộc về lý luận và thực tiễn trong chủ trương xoá đói, giảm nghèo
của Đảng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích
- Làm rõ những quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xóa đói,
giảm nghèo của Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) từ năm 1997
đến năm 2007;
- Làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của quá trình
Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo thực hiện xóa đói,

5


giảm nghèo trong những năm 1997-2007, trên cơ sở đó, rút ra những kinh
nghiệm có cơ sở khoa học, phục vụ hiện tại.
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phân tích các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, của Đảng ta về đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo.
- Làm rõ thực trạng và nguyên nhân đói nghèo của một bộ phận dân cư
huyện Kim Thành từ năm 1997 đến năm 2007.
- Làm rõ quá trình huyện Kim Thành vận dụng chủ trương của Đảng và
Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo, định ra chủ trương và biện pháp chỉ đạo
thực hiện xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; rút ra những bài
học kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng
bộ huyện Kim Thành để vận dụng vào giai đoạn mới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn có thể sử dụng để phục vụ công tác viết lịch sử Đảng bộ
huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương), hoặc là tài liệu tham khảo cho những
nghiên cứu có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có 3 chương, 6 tiết:
Chƣơng 1: Quan niệm về xoá đói, giảm nghèo và đặc điểm địa lý, kinh
tế - xã hội huyện Kim Thành (Tỉnh Hải Dương).
Chƣơng 2: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của
Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) (1997 - 2007).
Chƣơng 3: Kết quả và kinh nghiệm

7


Chƣơng 1
QUAN NIỆM VỀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ,
KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƢƠNG)
1.1. Quan niệm về đói nghèo và chủ trƣơng của Đảng về xóa đói,
giảm nghèo
1.1.1. Quan niệm về đói nghèo
1.1.1.1. Quan niệm chung về đói nghèo
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu. Nó
không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn
tại ngay ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao. Trong đời sống
thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học cho đến nay chưa có sự
thống nhất tuyệt đối về khái niệm đói nghèo. Mỗi quốc gia đều sử dụng
một khái niệm khác nhau về định mức và đưa ra các chỉ số đói nghèo khác
nhau để xác định giới hạn đói nghèo. Giới hạn đói nghèo của mỗi quốc gia
được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại, đó

cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và
địa phương đang xét. Nghèo có nhu cầu tối thiểu là tình trạng một bộ phận
dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc,
đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.
Về mặt kinh tế, khái niệm nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo
túng, thiếu đói. Đường giới hạn nghèo khổ biểu hiện dưới dạng thu nhập gia
đình tính theo đầu người. Nếu các gia đình có thu nhập tính theo đầu người ở
dưới đường giới hạn nghèo khổ thì bị coi là nghèo. Giới hạn nghèo khổ khác
nhau ở mỗi quốc gia và thay đổi theo trình tự phát triển kinh tế - xã hội qua
từng thời kỳ của quốc gia đó. Chẳng hạn, Liên hợp quốc đã xác định ở các
nước đang phát triển, những người có mức sống dưới 1USD/ngày thì bị coi là
nghèo khổ. Đối với những nước phát triển thì đường nghèo khổ được xác định
là có mức sống dưới 14 USD/ngày tính theo mức mua tương đương.

9


Hiện nay, quốc tế có xu hướng xem xét, định nghĩa về sự nghèo đói
theo phạm vi rộng hơn, nhằm vào một loạt vấn đề như giáo dục, y tế và những
tiêu chuẩn khác được coi là thuộc về nhu cầu cơ bản của con người: “Hệ
thống nhu cầu cơ bản tối thiểu (Maximum Need Bases - MNB) của Philíppin
đã định nghĩa nghèo đói ở ba lớp nhu cầu:
- Tồn tại: Thực phẩm/dinh dưỡng, sức khỏe, nước, vệ sinh, ăn mặc.
- An toàn: Nhà ở, thu nhập, việc làm, hoà bình.
- Khả năng: Giáo dục cơ bản (biết chữ), sự tham gia của nhân dân vào
chăm sóc gia đình và chăm sóc tâm lý.
Theo hệ thống yêu cầu trên có tới 33 chỉ số cụ thể để đánh giá. Xu
hướng quốc tế sẽ sử dụng những tiêu chuẩn cơ bản này để xem xét và đánh
giá đói nghèo một cách hệ thống trong mục tiêu hướng tới sự phát triển ổn
định, bền vững.

về kinh tế ngày càng sâu rộng hơn, quan điểm đói nghèo cũng được hiểu sâu
rộng hơn, theo nhiều hướng tiếp cận nên có những góc nhìn, đánh giá và
phương thức giải quyết đói nghèo khác nhau.
Tại Hội nghị về giảm nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
(9-1993) ở Băng Cốc - Thái Lan do ESCAP tổ chức đã đưa ra khái niệm về
đói nghèo: “Đói nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được
hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy
phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của
từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [69, tr.9].
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen - Đan Mạch, năm 1995, đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn về
đói nghèo như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới
1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản
phẩm thiết yếu để tồn tại.
Trong báo cáo Khắc phục sự nghèo khổ của con người, năm 1998,
UNDP cho rằng:

11


- Sự nghèo khổ của con người: là thiếu những quyền cơ bản của con
người như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định của cộng
đồng và được nuôi dưỡng tạm đủ.
- Sự nghèo khổ về tiền tệ là thiếu thu nhập chính đáng và khả năng chi
tiêu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ cực độ là sự khốn cùng không có khả năng thoả mãn
nhu cầu tối thiểu của con người.
- Sự nghèo khổ chung là mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được
xác định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu về lương thực,
chi phí lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác

Như vậy, từ việc nghiên cứu các quan niệm về đói nghèo trên cho
chúng ta thấy ba khía cạnh của người nghèo:
Thứ nhất, người nghèo là những người không được hưởng thụ những
nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người.
Thứ hai, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của
cộng đồng dân cư.
Thứ ba, người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia vào quá trình phát
triển cộng đồng.
Như vậy, về mặt lý luận, đói nghèo hiện nay đang có rất nhiều cách tiếp
cận khác nhau. Tựu chung, có hai cách tiếp cận chính là rộng và hẹp.
Theo cách tiếp cận hẹp, đói nghèo là một phạm trù chỉ mức sống thấp
nhất của một cộng đồng hay một nhóm dân cư so với mức sống của một cộng
đồng hay một nhóm dân cư khác. Cách tiếp cận này còn phiến diện, chưa bao
quát được tính chất tuyệt đối của đói nghèo, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo
tiêu chuẩn đói nghèo tương đối. Trên thực tế, đói nghèo lúc nào cũng tồn tại
trong xã hội hiện đại, cho dù ở nước giàu nhất. Nếu đứng trên phương diện so
sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một
nhóm thấp nhất, các nhóm trung bình và nhóm cao nhất. Đó là đói nghèo tương
đối. Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng

13


đã xuất hiện tiểu nhóm nghèo tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng
cực chạy ăn từng bữa mà con số thống kê bình quân không thể phản ánh đầy
đủ. Hơn thế nữa, theo cách tiếp cận hẹp và phổ biến hiện nay, tăng trưởng kinh
tế thường kéo theo thu nhập trung bình của nhóm nghèo nhất xã hội. Nhưng có
một thực tế là dù thu nhập của nhóm nghèo đó có được cải thiện thì vẫn có một
khoảng cách ngày càng xa giữa thu nhập của nhóm nghèo và nhóm giàu khi
nền kinh tế có sự tăng trưởng nhanh. Chính khoảng cách của nhóm nghèo so

5 giai đoạn phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của đất nước.
Giai đoạn 1993-1995: Hộ đói: thu nhập bình quân đầu người quy gạo
dưới 13kg/người/tháng khu vực thành thị, dưới 8 kg gạo/người/tháng khu vực
nông thôn. Hộ nghèo: thu nhập bình quân quy theo gạo dưới 20
kg/người/tháng ở khu vực thành thị và dưới 15 kg/người/tháng ở khu vực
nông thôn.
Giai đoạn 1995-1997: Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân đầu
người quy ra gạo dưới 13kg/người/tháng tính cho một vùng. Hộ nghèo là hộ
có thu nhập: dưới 15kg/người/tháng ở vùng nông thôn miền núi, hải đảo; dưới
20 kg/người/tháng ở vùng nông thôn đồng bằng trung du; dưới
25kg/người/tháng ở khu vực thành thị.
Giai đoạn 1998-2000 (theo Công văn số 1721/LĐTBXH): Hộ đói: là
hộ có thu nhập một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương 45.000 đồng
(giá năm 1997 tính cho mọi vùng). Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng
vùng ở các mức tương đương: vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới
15kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng; vùng nông thôn đồng bằng
trung du dưới 20 kg/người/tháng, tương đương 70.000 đồng; vùng thành thị
dưới 25kg/người/tháng, tương đương 90.000 đồng.
Giai đoạn 2001-2005 (theo Quyết định số 1143/2000/QĐ/LĐTBXH):
vùng nông thôn miền núi, hải đảo: thu nhập bình quân 80.000
đồng/người/tháng; vùng nông thôn đồng bằng: thu nhập bình quân 100.000

15


đồng/người/tháng;

vùng

thành

quy thành giá trị được tính bằng tiền.
Thứ tư, xem xét các khoản tiêu dùng từ thu nhập phản ánh mức độ thoả
mãn các nhu cầu tối thiểu để xem đối tượng dân cư nghèo đói và độ chênh
lệch có tính chất vùng và giữa các khu vực, giữa các đối tượng khác nhau để
có chính sách thích hợp giải quyết có hiệu quả về vấn đề xoá đói, giảm nghèo.
Như vậy, từ lý luận và thực tiễn của đói nghèo, chúng ta thấy đói nghèo
là một hiện tượng phổ biến và nan giải. Đây là một bài toán khó đối với tất cả
các quốc gia trên thế giới. Nếu không giải quyết được bài toán này thì hậu quả
của nó là rất lớn, đói nghèo sẽ gây trở ngại đến sự phát triển mọi mặt của đất
nước, tạo ra nhiều bức xúc trong xã hội. Cho nên Việt Nam phải có bước đi

16


vững chắc và nhanh chóng trong vấn đề này. Công cuộc xoá đói, giảm nghèo
ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang trở thành một phong trào sâu
rộng, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc, đã đạt được những thành tựu
to lớn về mọi mặt, song cuộc chiến chống đói nghèo còn gặp phải rất nhiều
hạn chế trong quá trình thực hiện. Cho nên, phải tìm ra nhiều hướng giải
quyết có hiệu quả và thiết thực hơn để nhanh chóng đẩy lùi những nguy cơ
mà đói nghèo gây ra.
1.1.2. Tình hình đói nghèo và chủ trương của Đảng
1.1.2.1. Tình hình đói nghèo
Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước, đất nước ta không ngừng lớn mạnh và đi lên. Việt
Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nền kinh tế luôn giữ được nhịp độ
tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân mỗi năm
trên 7%; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực; các vấn đề xã hội được giải
quyết, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

thương trước biến động của mỗi gia đình và cộng đồng. Nhiều hộ tuy có
mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo nhưng vẫn giáp ranh giới với ngưỡng
nghèo và có nguy cơ tái nghèo. Đến năm 2001, cả nước có tổng số 2.800
nghìn hộ nghèo chiếm 17,2% dân số, điều đó phản ánh mức độ đói nghèo
của nước ta vẫn còn cao so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Thu
nhập bình quân đầu người của nước ta còn thấp mới đạt 501,5 nghìn đồng/
người dân. Chênh lệch giàu nghèo giữa các hộ, khu dân cư, vùng đang dần
trở thành một vấn đề nan giải. Tại Đại hội lần IX (2001) Đảng ta đã đánh
giá: “Tỉ lệ đói nghèo trong toàn quốc mấy năm gần đây tuy có giảm mạnh,
nhưng chưa vững chắc, nếu rơi vào thiên tai, mất mùa thì nhiều hộ vẫn có
thể rơi vào tình trạng đói nghèo trở lại. Đời sống của nhân dân ở một số
vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn rất khó khăn” [20, tr.256].
Đứng trước những vấn đề mà quá trình thực hiện chiến lược xoá đói,
giảm nghèo đặt ra, Đảng ta tiếp tục đưa ra những chủ trương mới phù hợp với

18


tình hình trong nước và quốc tế để nhanh chóng đẩy lùi đói nghèo, nâng cao
đời sống nhân dân góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội. Đây là điều kiện
quan trọng để chúng chống lại nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều
nước trong khu vực và thế giới.
1.1.2.2. Chủ trương của Đảng về xoá đói, giảm nghèo
Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chủ trương
đã thu hút được sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức quốc
tế và đông đảo quần chúng nhân dân. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
về xoá đói, giảm nghèo được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Đây là tiêu chí quan trọng góp phần phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Để
phát huy các thành quả to lớn đã đạt được, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề

xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập.
Phấn đấu đến năm 2005 về cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn 10% số hộ
thuộc diện nghèo. Các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, các huyện đồng bằng miền
Trung và các tỉnh Nam Bộ về cơ bản không còn hộ nghèo. Nâng dần mức
sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo" [20, tr.299].
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2001- 2010 của Đảng,
coi lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo là một chiến lược dài hơi của Đảng, nhằm
định hướng cho sự phát triển lâu dài, bền vững cho đất nước. Đảng ta đã
khẳng định: "Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông
tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm… đối với những vùng
nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo. Chủ động di dời một bộ phận nhân
dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng
còn tiềm năng. Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người
dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo. Thực hiện trợ cấp
xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động,
không có người bảo trợ, nuôi dưỡng. Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản

20


không còn hộ nghèo. Thường xuyên củng cố thành quả xoá đói, giảm nghèo”
[20, tr.211-212].
Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, đất nước ta đã
đạt được một số thành tựu trong công tác xoá đói, giảm nghèo. Báo cáo của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (4-2006) về phương hướng, nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, Đảng ta đã khẳng định:
“Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, đã thu
được nhiều kết quả tốt thông qua việc trợ giúp điều kiện sản xuất, tạo việc
làm, cải thiện kết cấu hạ tầng, nhà ở; tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status