ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TRẦN THỊ OANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐOAN HÙNG (PHÚ THỌ)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TRẦN THỊ OANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐOAN HÙNG (PHÚ THỌ) LÃNH
ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM
1997 ĐẾN NĂM 2012
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Hồng
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về thực hiện xóa đói giảm
nghèo. .............................................................................................................. 25
1.2.2 Phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ huyện Đoan Hùng về thực hiện
xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997- 2005. .................................................... 32
1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Đoan
Hùng giai đoạn 1997- 2005. ............................................................................ 35
1.3.1 Thực hiện các dự án nhằm xóa đói giảm nghèo. ................................... 35
1.3.2 Thực hiện các chính sách hỗ trợ trong chương trình mục tiêu Quốc gia
xóa đói giảm nghèo. ........................................................................................ 38
1.2.3 Tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho người lao động, nâng cao
chất lượng lao động; đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và
tăng cường cán bộ cho xã đặc biệt khó khăn. ................................................. 41
1.2.4 Kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997- 2005. .............. 44
Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐOAN HÙNG LÃNH ĐẠO THỰC
HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2012. ....... 52
2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và phương hướng nhiệm vụ của
Đảng bộ huyện Đoan Hùng về xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến năm
2012. ................................................................................................................ 52
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ. ................................................ 52
2.1.2 Phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ huyện Đoan Hùng. .................. 55
2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Đoan
Hùng từ năm 2006 đến năm 2012. .................................................................. 64
2.2.1 Thực hiện chương trình 135 của chính phủ. .......................................... 64
2.2.2 Thực hiện các chính sách hỗ trợ trong chương trình mục tiêu Quốc gia
về xóa đói giảm nghèo..................................................................................... 70
2.2.3 Tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho người lao động, nâng cao
chất lượng lao động; đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và
tăng cường cán bộ cho xã đặc biệt khó khăn. ................................................. 73
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ở
mọi quốc gia. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,5 tỷ người đang sống trong
cảnh đói nghèo, kể cả nước có thu nhập cao nhất thế giới vẫn có một tỷ lệ dân
số sống trong tình trạng nghèo nàn cả về vật chất và tinh thần. Tỷ lệ người
nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ
hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất
nhiều. Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề xoá đói giảm
nghèo (XĐGN) không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành
mối quan tâm của cả động đồng Quốc tế. Việt Nam là một trong những nước
có thu nhập thấp nhất thế giới, do đó chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN
là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc
tế kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết của cả dân tộc để
đẩy lùi đói nghèo tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến.
Chúng ta đều biết đòi nghèo là lực cản trên con đường tăng trưởng và phát
triển của Quốc gia, nghèo khổ luôn đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã
hội, bệnh tật phát triển, trật tự an ninh chính trị không ổn định.
Do vậy ở nước ta công tác xóa đói, giảm nghèo được xác định là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhà nước, đã và đang trở thành
nội dung quan trọng của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể. Công tác này
được bắt đầu từ khi có phân hóa giàu nghèo trong quá trình chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trường. Trong quá trình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo
nâng cao sức sống của nhân dân, nước ta đã đạt được những thành tựu quan
trọng và được cả thế giới biết đến. Ngay từ những năm đầu 1991 vấn đề xóa
đói giảm nghèo đã được đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu và triển khai
Vậy Đảng bộ Đoan Hùng đã có những chủ trương biện pháp như thế nào,
quá trình đấu tranh để đi đến thống nhất và thực thực hiện thắng lợi mọi
nhiệm vụ ở cấp huyện là cả một vấn đề cần được nghiên cứu.
5
Vì vậy thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đang là vấn đề
cấp bách đặt ra cho tỉnh trong tiến trình hội nhập và phát triển. Là người con
sinh ra từ mảnh đất Đoan Hùng, Phú Thọ, lớn lên chứng kiến những thay đổi
ở quê hương mình. Sau quá trình tìm hiểu và khảo sát thực tế tôi quyết định
chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Đoan Hùng(Phú Thọ) lãnh đạo xóa đói, giảm
nghèo từ năm 1997 đến năm 2012” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Lịch sử nghiêm cứu vấn đề.
Đói, nghèo và vấn đề xóa đói giảm nghèo là một vấn đề lớn, bức thiết ở
nước ta hiện nay, đã và đang thu hút các cơ quan các nhà khoa học nghiên
cứu tìm hiểu giải pháp. Kết quả nghiên cứu của công trình được các nhà khoa
học đăng tải trong các cuốn sách, tạp chí và luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ
và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Sau đây là các công trình khoa
học trực tiếp có liên quan.
- “Xóa đói giảm nghèo” của Bộ lao động thương binh xã hội năm (1993)
- Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay của Nguyễn
Thị Hằng (NXB chính trị quốc gia Hà Nội - 1997).
Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam, chủ biên GS.PTS Vũ Thị Ngọc Phùng (NXB chính trị quốc gia Hà
Nội - 1999)
- Đói nghèo ở Việt Nam, chủ biên Chu Tiến Quang (NXB Nhà xuất bản
nông nghiệp Hà Nội - 2001)
- Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo của Lê
Quyết, NXB Lao động, Hà Nội -2002.
tựu hạn chế trên địa bàn huyện từ năm 1997-2012. Qua đó rút ra những kinh
nghiệm để vận dụng vào giai đoạn cách mạng tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Luận văn trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo thực hiện
xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Đoan Hùng từ năm 1997 -2012.
7
- Đánh giá thành tựu hạn chế và đúc rút bài học kinh nghiệm từ công tác
lãnh đạo xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Đoan Hùng trên địa bàn
tỉnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và các biện pháp chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của
Đảng bộ huyện Đoan Hùng trong thời gian từ 1997 đến 2012.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Về nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đoan Hùng về
xóa đói giảm nghèo và các hoạt động nhằm xóa đói giảm nghèo ở huyện
Đoan Hùng
- Về không gian, phạm vi nghiên cứu chính là huyện Đoan Hùng, có mở
rộng một số vấn đề trong phạm vi tỉnh Phú Thọ
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 1997 -2012
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
5.1. Nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn này tác giả đã sử dụng các văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam, chính sách, kế hoạch của Đảng
và nhà nước về công tác xóa đói giảm nghèo.
- Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và Đảng bộ
huyện Đoan Hùng có nội dung liên quan đến xóa đói giảm nghèo trong những
Chương 1
ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐOAN HÙNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA
ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ GIAI ĐOẠN 1997-2005.
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Đoan Hùng
và chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng .
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Đoan
Hùng.
1.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Đoan Hùng.
- Vị trí địa lý.
Huyện Đoan Hùng là một huyện Trung Du miền núi, nằm ở phía Bắc của
tỉnh Phú Thọ, là cửa ngõ của bốn tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên
Bái, cách trung tâm thành phố Việt Trì 56 km về phía Tây Bắc. Phía Bắc giáp
với huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái, huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, Phía
Nam giáp với huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp với huyện Sơn
Dương tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp với huyện Thanh Ba, Hạ Hoà, tỉnh
Phú Thọ. Toạ độ địa lý của huyện nằm từ 21031’đến 21043’vĩ độ
Bắc,105006’đến 105015’kinh độ Đông.
Nằm ở vị trí này huyện Đoan Hùng có thế mạnh lớn về phát triển kinh tế
bên cạnh đó việc thông thương đường bộ và đường thuỷ với các tỉnh lân cận
rất thuận lợi.
- Địa hình
Với đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ miền Trung Du và miền đồi núi
cao, huyện Đoan Hùng có tổng diện tích đất tự nhiên là 30.244,47 ha trong đó
diện tích đất gò đồi chiếm phần lớn diện tích. Địa bàn huyện Đoan Hùng nằm
trên trục quốc lộ 2 và quốc lộ 70, địa hình phức tạp, đồi núi xen kẽ các cánh
đồng lầy thụt. Huyện có 27 xã và một thị trấn, gồm 14 dân tộc, trong đó dân
tộc kinh chiếm phần lớn dân số trong vùng.
10
11
Khí hậu: Đoan Hùng thuộc vùng Trung Du Bắc bộ, chịu ảnh hưởng của
khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa
lượng mưa cao, cường độ mạnh chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, trời
nắng gắt đôi khi có những đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá. Mùa khô ít mưa, có
gió mùa Đông Bắc thổi vào, trời rét, nhiệt độ thấp. Đặc biệt trong tháng 11,12
và tháng 1 độ ẩm không khí thấp, nắng hanh kèm theo sương muối làm ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của một số loại cây trồng, gây thiệt hại
cho sản xuất.
Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm là 230C từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau, các tháng lạnh nhất trong năm tập trung 58% xảy ra vào
tháng 1; 20% - 30% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng 12 và 14% tập trung
vào tháng 2.
Ẩm độ: Bình quân độ ẩm không khí hàng năm từ 84% - 86%, chênh lệch
giữa các tháng không lớn từ (4%– 7%), tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 11
và tháng 12.
Tổng lượng bốc hơi trung bình năm: là 1.176 mm thấp hơn lƣợng mƣa
hàng năm, lớn nhất vào tháng 5 (89 mm) và nhỏ nhất vào tháng 3 (52,7 mm).
Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bbình năm là 1644 mm. Lượng mưa
của huyện Đoan Hùng phụ thuộc vào điều kiện địa hình và tiếp giáp với các
vùng mưa đầu nguồn nên huyện có lượng mưa trung bình cao hơn tỉnh Phú
Thọ, song mưa có tính chất cường độ và thời gian không đều.
- Thuỷ văn: Đoan Hùng là huyện có điều kiện thuận lợi trong sản xuất
nông, lâm nghiệp, thuỷ sản vì nguồn nước do sông ngòi cung cấp cho rất lớn,
tuy vậy vào mùa mưa lũ đời sống nhân dân vùng này gặp phải rất nhiều khó
khăn, toàn huyện có hai con sông lớn chảy qua và 28 ngòi bao gồm:
Sông Chảy có chiều dài qua huyện khoảng 22 m bắt đầu từ vùng tiếp giáp
như: Vân Du, Hùng Quan, Sóc Đăng, Phong chung, Chí Đám…đất thích hợp
với các loại cây nông nghiệp hàng năm và cây hoa màu hàng năm.
13
Đất vùng trũng: Loại đất này tập trung ở đại hình các vùng trũng, ngập
úng quanh năm, nghèo chất dinh dưỡng, đất chua, có hàm lượng mùn cao, dễ
tiêu, giây ở mức trung bính đến mạnh, yếm khí, phân bố ở hầu hết các xã
tronghuyện như: Đông Khê, Yên Kiện, Vân Đồn, Chí Đám…đất này thích
hợp với lúa một vụ chiêm.
Đất tầng mỏng: Loại đất này không được bồi đắp hàng năm, tập trung ở
nơi có địa hình trung bình hoặc thấp, tầng đất canh tác mỏng, mức độ giây
xảy ra mạnh, hàm lượng mùn ở cấp độ nghèo, phân bố tập trung ở các vùng
ven sông Lô, sông Chảy như: Hùng Quan, Vụ Quang, Phú Thứ và rải rác ở
một số xã trong huyện thích hợp với các cây hoa màu ngắn ngày như: đậu, đỗ,
khoai lang.
Đất cát: Loại đất nay do bị rửa trôi, xói mòn nhiều nên độ phì kém, đất
nghèo chất dinh dưỡng, bị khô hạn, phân bố tập trung chủ yếu ở xã Chí Đám,
thích hợp với các cây hoa màu (đậu, đỗ, khoai lang).
Đất xám: Tầng dầy đất 50cm đến 70cm, đất ít kết vón đá ong, đất chua,
nghèo lân, phân bố ở các địa hình trung bình và cao ở các xã trong huyện,
thích hợp với các cây công nghiệp hàng năm, cây lâm nghiệp lâu năm, cây ăn
quả…
Đất đỏ: Loại đất này phân bố tập trung ở các xã thuộc tiểu vùng thượng
huyện như: Tây Cốc, Bằng Luân, Bằng Doãn, Minh Long và rải rác một số xã
vùng kinh tế thượng huyện như Tiêu Sơn, Minh Tiến trên nền độ cao trung
bình từ 50m đến 100m, thích hợp với các cây công nghiệp, cây lâu năm.
Về số lượng: huyện Đoan Hùng có 6 nhóm đất chính, trong đó có 3 nhóm
chiếm diện tích lớn là nhóm đất xám có tỷ trọng lớn nhất chiếm 66,47% tổng
của huyện tăng giảm không đều và mức độ biến động không lớn, tốc độ phát
triển bình quân 3 năm đạt 1,86%, lao động nông nghiệp giảm 1%.
Sản xuất của người nông dân trong huyện chủ yếu là ngành nông nghiệp,
đời sống người nông dân còn nhiều khó khăn.
Ngoài ra lao động nông nghiệp giảm chứng tỏ hướng chuyển đổi cơ cấu
kinh tế trên địa bàn đã có hướng chuyển biến tích cực, tạo việc làm cho lao
15
động sang các ngành sản xuất khác như: chế biến, khai thác, xây dựng…, làm
tăng diện tích đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật còn thiếu
nhiều, đòi hỏi phải bổ sung về đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trong điều kiện kinh tế thị
trường.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn huyện
Về đường bộ:
Toàn huyện có có 750,6 km giao thông đường bộ từ liên huyện, liên xã,
liên thôn chia ra:
+ Quốc lộ 2 đi Tuyên Quang – Hà Giang chạy qua Đoan Hùng có chiều
dài 22 km.
+ Quốc lộ 70 đi Yên Bái – Lào Cai chạy qua Đoan Hùng có chiều dài 24
km
+ Đường tỉnh lộ gồm 2 tuyến (319 và 328) với chiều dài 25,9 km; Đường
huyện lộ có 7 tuyến chính dài 90,6 km với mặt rộng trên 5m, đường liên xã 61
km và đường liên thôn dài 558,1 km. Các xã đều có đường ô tô chạy đến
UBND xã, chủ yếu là đường cấp phối rải đá răm còn lại là đường liên thôn,
liên xóm phần lớn là đường đất, nên lụt lội vào mùa mưa, lầy thụt gây khó
khăn cho việc thu hoạch và vận chuyển sản phẩm .
nhân dân trong huyện đến nay đã có 25 xã có điểm bưu điện văn hoá xã được
xây dựng đạt 89,29%, và 100% xã có đài truyền thanh tại các thôn, số điện
thoại bình quân trên 100 dân đạt 9,6 máy.
1.1.2 Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng.
Bước vào thập niên 90 của thế kỷ trước, vấn đề xóa đói giảm nghèo đã
được đề ra trong các diễn đàn, nghiên cứu và dần được triển khai trong thực
tiễn. Đến năm 1996, sau 10 năm đổi mới, đất nước thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế xã hội , bước vòa thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, vấn đề đói nghèo luôn luôn được quan tâm. Đảng đã đưa ra quan điểm
17
“Ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải
luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội”.
Nghị quyết Đại hội VIII (6/1996) cũng xác định xóa đói giảm nghèo là
một trong 11 chương trình phát triển kinh tế xã hội và đặt ra mục tiêu giảm tỷ
lệ nghèo đói trong tổng số hộ của cả nước từ 20 – 25% năm 1996 xuống còn
khoảng 10% năm 2000. Thực hiện chủ trương của Đảng, chính phủ đã ra
quyết định số 133/ 1998/QĐ-TTg, ngày 23/07/1998, Phê duyệt chương trình
mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 – 2000. Đây là lần đầu
tiên Việt Nam xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm
nghèo một cách có hệ thống. Ngay sau đó, chính phủ ra quyết định số
135/1998/QĐ-TTg, ngày 31/07/1998, phê duyệt chương trình phát triển kinh
tế đối với các xã đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chống giặc
đói. Vấn đề công bằng xã hội - vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối
với việc xóa đói giảm nghèo đã được Đảng ta luôn quan tâm chú ý. Những đại
hội Đảng gần đây, từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng ta đã có nhiều nghị
đạo: “Để phát triển sức sản xuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần
kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất
định trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm, bảo vệ lợi ích của người lao
động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi
trọng xóa đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm
cho mọi người, mọi nhà đều khá giả”.
Chú trọng đúng mức đến vấn đề đói nghèo trong xã hội, với nhãn quan
chính trị nhạy bén và với trách nhiệm cao cả trước nhân dân, Đảng ta đã đưa
ra những chương trình rộng lớn để tập trung giải quyết là “Chương trình về
xóa đói, giảm nghèo”. Trên cơ sở đó, Nhà nước cũng đã có hàng chục chương
19
trình cấp quốc gia và dự án đang được thực thi có nội dung gắn với xóa đói,
giảm nghèo.
Năm 1998 lần đầu tiên giảm nghèo đã trở thành một chính sách nằm trong
hệ thống chính sách xã hội của quốc gia. Từ đó đến nay, công tác xóa đói
giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định như: Luôn
đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành vượt mức mục tiêu
thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm…Từ năm 1992 đến năm 1998 với
rất nhiều nỗ lực, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm từ 2
đến 3%. Đến hết năm 2010 tỷ lệ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mức
mục tiêu đề ra là 10%.
Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) đã đề ra chủ trương xóa đói
giảm nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân
cũng như trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một
chủ trương chiến lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các
kỳ Đại hội của Đảng.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng đặc
sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã
hội cơ bản; Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn,
bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn
mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt.
Để thực hiện được các mục tiêu trên, trong giai đoạn 2011 – 2015 sẽ tiếp
tục thực hiện những chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo đã và đang
thực hiện: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, thực hiện Chương
trình 135 giai đoạn 3, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 30a của chính phủ và các
chương trình phát triển kinh tế xã hội khác. Nguồn lực đề thực hiện công tác
giảm nghèo sẽ được huy động tối đa, không chỉ bằng Ngân sách Nhà nước mà
còn huy động được sự tham gia với tinh thần trách nhiệm cao của các tập
đoàn kinh tế, các Tổng Công ty nhà nước, Ngân hàng thương mại…và đặc
biệt là từ chính bản thân người nghèo. Phối hợp nhiều phương thức hỗ trợ
người nghèo như hỗ trợ người nghèo trong vay vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ về
nhà ở, hỗ trợ về cung cấp và tạo điều kiện duy trì với các loại dịch vụ, hỗ trợ
22
giao đất, giao rừng; về đào tạo nguồn nhân lực…Đồng thời khắc phục những
hạn chế như: Các chương trình giảm nghèo triển khai chưa toàn diện, nhiều
chính sách, chương trình giảm nghèo được ban hành nhưng còn mang tình
ngắn hạn, chồng chéo, nguồn lực cho giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, lại
bị phân tán, dàn trải, thiếu giải pháp cụ thể gắn kết việc thực hiện chính sách
giảm nghèo với chính sách an sinh xã hội, việc phối hợp chỉ đạo thực hiện
giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ, hiệu quả…(Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2011), Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác năm
2011, NXB Lao động – Xã hội, tr.59
Một là, xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm
vụ trọng tâm trước mắt.
Tính lâu dài của xóa đói giảm nghèo là do: