Đảng bộ tỉnh hà tây lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

——————————————

HOÀNG TRƯỜNG GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN

XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. ĐOÀN NGỌC HẢI

HÀ NỘI - 2009


MỤC LỤC
Mở đầu ................................................................................................................. 1
Chương 1. Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà
Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến
năm 2006 ................................................................................................... 8
1.1. Yêu cầu khách quan thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Tỉnh Hà Tây
từ năm 1996 đến năm 2006 ........................................................................ 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tây tác động đến

dân về xoá đói, giảm nghèo ..................................................................... 83
3.2.2. Kinh nghiệm về lồng ghép các dự án, chương trình, chính sách
cùng lúc giải quyết nhiều vấn đề.............................................................. 84
3.2.3. Kinh nghiệm về phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện xóa đói, giảm
nghèo .......................................................................................................................... 86
3.2.4. Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác
xóa đói, giảm nghèo ................................................................................. 87
3.2.5. Kinh nghiệm về tăng cường vai trò và hiệu lực lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Hà Tây đối với công tác xoá đói, giảm nghèo ............................. 89
Kết luận ............................................................................................................. 91
Danh mục tài liệu tham khảo .......................................................................... 93
Phụ lục ............................................................................................................... 99


BẢNG QUI ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CT/TU

Chỉ thị của Tỉnh ủy

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH XHCN

Công nghiệp hóa Xã hội chủ nghĩa

HĐND


UBDT - CSDT

Ủy ban dân tộc - Chính sách dân tộc

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

VAC

Vườn - Ao - Chuồng


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo hiện đang là vấn đề xã hội bức xúc của tất cả các quốc gia
trên thế giới và cũng là vấn đề đang được các chính phủ, các nhà lãnh đạo,
các tổ chức quốc tế quan tâm. Năm 1995, Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên
bố 10 năm 1997- 2006 là Thập niên chống đói nghèo. Tháng 9 năm 2000,
trong buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, tại trụ sở Liên hợp quốc, 190 vị
đứng đầu các quốc gia trên thế giới đã long trọng cam kết thực hiện Tuyên bố
Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà mục tiêu số 1 trong tổng số 12 mục tiêu là:
Xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực của loài người, giảm một nửa tỉ lệ người dân
thiếu đói, có mức thu nhập dưới 1 USD/1 ngày trong giai đoạn từ 1990 đến 2015.
Chính phủ Việt Nam coi vấn đề xoá đói, giảm nghèo là một trong
những mục tiêu xuyên xuốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam vừa giành được độc lập, tại
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã xác định đất nước phải đối phó với 3 loại "giặc"- giặc đói, giặc dốt và giặc
ngoại xâm, trong đó Người đặt lên hàng đầu là "giặc đói". Hiện nay, khi đất

đã tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả xóa đói, giảm nghèo ở địa phương.
Có thể khẳng định, các nghiên cứu về nghèo đói và xoá đói, giảm
nghèo ở nước ta rất phong phú, đa dạng, đề cập đến nhiều góc độ, nhiều lĩnh
vực khác nhau. Tuy vậy, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào
nghiên cứu sâu, toàn diện về xoá đói giảm nghèo ở Hà Tây, nhất là dưới góc
độ của khoa học Lịch sử Đảng. Nhưng các công trình nghiên cứu kể trên là
những tài liệu quý, tác giả có thể khai thác, vận dụng trong quá trình thực hiện
luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói,
giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006; Góp phần tổng kết sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo, một bộ phận chính

4


sách xã hội của Đảng, qua đó rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào giai
đoạn cách mạng mới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Làm rõ yêu cầu khách quan để Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực
hiện xoá đói, giảm nghèo.
+ Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây vận dụng chủ trương của
Đảng, Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo, định ra chủ trương và chỉ đạo thực
hiện xoá đói giảm nghèo trên địa bàn của tỉnh.
+ Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; rút ra những
kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ
tỉnh Hà Tây để vận dụng vào giai đoạn mới đạt kết quả cao hơn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên, nhưng phương pháp chủ
yếu là: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic,và sự kết hợp hai phương
pháp đó. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phương
pháp thống kê, so sánh, đối chiếu…
6. Đóng góp của luận văn
- Việc nghiên cứu đề tài trước hết nhằm hệ thống hoá chủ trương, chính
sách, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm
nghèo, bộ phận của chính sách xã hội của Đảng.
- Khẳng định sự lãnh đạo tập trung, có hiệu quả của Đảng bộ tỉnh Hà
Tây trong lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo.
- Tổng kết, đúc rút những kinh nghiệm, từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà
Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ 1996 đến năm 2006. Vận dụng
những kinh nghiệm đó vào giai đoạn mới.
- Luận văn là nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
học tập Lịch sử Đảng trong các học viện, các trường đại học, cao đẳng.

6


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết:
Chƣơng 1. Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà
Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006.
Chƣơng 2. Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo
từ năm 1996 đến năm 2006.
Chƣơng 3. Kết quả và một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ
tỉnh Hà Tây lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006.

7



nước; Vào mùa mưa thường bị bão gây úng nội đồng và uy hiếp hệ thống đê
sông chống lụt…
Về địa hình, Hà Tây có các kiểu địa hình cơ bản: Địa hình đồi núi, địa
hình núi và địa hình đồng bằng. Do đó, Hà Tây có điều kiện thuận lợi thực
hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, luân canh được nhiều vụ trong năm.
Song cũng có những khó khăn nhất định, đặc biệt là phải có các công trình
chống úng, kết hợp với việc lựa chọn chế độ canh tác thích hợp với chế độ
mưa, ngập ở những vùng úng trong đê.
Về tài nguyên đất, nhìn chung đất Hà Tây có độ phì nhiêu cao, với
nhiều loại địa hình nên có thể bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài
ngày, cây lương thực, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa tác
dụng với các hệ thống canh tác khác nhau. Song, tài nguyên đất của Hà Tây
vẫn có những yếu tố hạn chế nhất định: Tầng dày của đất vùng đồi phần lớn là
mỏng, có nơi còn bị đá ong hóa; mặt nước nuôi trồng thủy sản và cây dài
ngày còn thấp...
Về tài nguyên nước, được sông Hồng bao bọc ở phía Đông, sông Đà ở
phía Bắc, sông Đáy và các sông nội địa khác phân bố đều trong lãnh thổ với
mật độ khá cao 60km/km2, với lượng nước hằng năm khoảng 180 - 200 tỷ m3,
bên cạnh đó còn có hệ thống nước ngầm dồi dào và nằm khá nông. Đây được
xem là nguồn tài nguyên khá dồi dào cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh
hoạt, nếu xây dựng được hệ thống cấp nước hoàn chỉnh để lấy nước sông và
giữ nước mùa mưa, cấp nước mùa khô. Đi theo nguồn tài nguyên này là
nguồn phù sa bồi đắp hàng trăm triệu tấn/năm.
Về nguồn nhân lực, theo số liệu thống kê, năm 1993 dân số Hà Tây là
2,237 triệu người, tốc độ tăng bình quân là 2%/năm, mật độ dân số bình quân
là 992 người/km2. Về mật độ dân số, Hà Tây gấp 5,1 lần bình quân trong toàn
quốc, là tỉnh đông dân thứ 7 trong cả nước. Lực lượng đang ở tuổi lao động
vào khoảng 1,1 triệu người, trong đó gần 80% là lao động nông nghiệp.

tế, văn hoá, du lịch, phòng chống thiên tai. Đặc biệt là hệ thống điện chưa

10


theo quy hoạch phát triển chiến lược của tỉnh, chưa đáp ứng được yêu cầu
phát triển của các khu công nghiệp mới xuất hiện.
Về giao thông vận tải, Hà Tây có mạng lưới giao thông khá phát triển
bao gồm cả đường sắt, đường thuỷ và đường bộ. Có 42,5 km đường sắt đi qua
địa phận, hơn 200 km đường thuỷ được khai thác vận tải, mạng lưới đường bộ
có khoảng 3.000 km, là một trong những tỉnh có mật độ đường bộ cao nhất cả
nước. Tuy nhiên, vẫn còn lượng lớn của các sông nội địa chưa khai thác vận
tải mà chỉ phục vụ tưới tiêu trong sản xuất, đặc biệt là hệ thống đường bộ
cũng không đồng đều, là một cản trở lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội
trong nền kinh tế thị trường.
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, Hà Tây có nhiều thuận lợi nhất định
trong phát triển kinh tế - xã hội với cơ cấu ngành nghề đa dạng.
Về nông - lâm nghiệp và thuỷ sản, là tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng
sông Hồng, Hà Tây chủ yếu là một tỉnh nông nghiệp. Cây lương thực chiếm
tỷ trọng cao về diện tích 90%. Cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả
chiếm tỷ trọng nhỏ cả về diện tích và giá trị sản lượng. Bên cạnh ngành trồng
trọt, Hà Tây còn thuận lợi trong việc phát triển chăn nuôi với nhiều loại vật
nuôi như: trâu, bò, ngựa, đặc biệt, chăn nuôi lợn và vịt còn được xem là một
yếu tố thâm canh và sản xuất hàng hoá, chăn nuôi các loại động vật có giá trị
cao như hươu sao, dê cũng được chú ý và phát triển. Về nuôi trồng thuỷ sản,
Hà Tây có diện tích mặt nước khá lớn, song mới sử dụng ở mức thấp và nuôi
tự nhiên là phổ biến.
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, theo số liệu thống kê năm
1993 trên địa bàn Hà Tây có 15 doanh nghiệp công nghệp TW với tổng số
vốn kinh doanh là 127 tỷ đồng và 6.120 lao động (chưa kể xí nghiệp quốc

thuận lợi nhất định trong việc thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo. Song
bên cạnh đó Hà Tây vẫn còn có những khó khăn nhất định, đặc biệt là sự
chênh lệch trong mức sống của các bộ phận dân cư, giữa các địa bàn dân cư
trong các thành phố, thị xã với dân cư sống trong 9 xã miền núi, vùng đồi gò,
bãi giữa sông Hồng… cũng còn rất lớn (Phụ lục 12). Đây là vấn đề đang đặt

12


ra cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh cũng như các cấp, các ngành có
liên quan để thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo.
1.1.2. Thực trạng đói, nghèo ở Hà Tây trước năm 1996 và yêu cầu
của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
* Thực trạng đói, nghèo ở Hà Tây trước năm 1996
Tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 9 (khoá VIII) từ ngày 27 - 7 đến ngày 12 8 - 1991 đã quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh: Hà Tây và Hoà
Bình. 5 huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức và thị
xã Sơn Tây được tách khỏi Thành phố Hà Nội trở về Hà Tây. Tỉnh Hà Tây
được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-10-1991.
Sau ngày tái lập Hà Tây cũng có rất nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ và
nhân dân toàn tỉnh đã đoàn kết phấn đấu, vượt qua khó khăn, từng bước giành
được những thắng lợi bước đầu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
cũng như trong công tác xóa đói, giảm nghèo. Thời kỳ này công tác xóa đói,
giảm nghèo của Hà Tây tuy chưa được xây dựng thành chương trình cụ thể,
mà nằm trong sự chỉ đạo chung của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội.
Trong Báo cáo Chính trị của Đại hội Đảng bộ lần thứ XI (3- 1992), đã
xác định, số hộ nghèo của tỉnh còn 15%. Để thực hiện thắng lợi đường lối đổi
mới do Đảng lãnh đạo, phấn đấu vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh”, Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XI đã đề ra 5 mục tiêu:
Một là, giải quyết tốt vấn đề lương thực… đến năm 1995 đạt 80 vạn
tấn, khắc phục tình trạng đói giáp hạt. Hai là, giảm tỷ lệ sinh mỗi năm xuống

Lương thực đạt 83 vạn tấn (vượt mức đề ra là 80 vạn tấn), căn bản giải quyết
được nạn thiếu ăn giáp hạt. Các loại rau đậu, cây thực phẩm, cây công nghiệp
đều tăng. Chăn nuôi tăng bình quân hằng năm 14,8%, tỷ trọng chăn nuôi
trong nông nghiệp tăng từ 16% năm 1990 lên 34% năm 1995. Khai thác hơn
3.000 ha đất trống, đồi trọc để trồng chè, cây ăn quả và trồng rừng…[1,
tr.373-374]. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có nhịp độ tăng bình
quân hằng năm là 14,5% (mức đề ra là từ 8 - 10%). Cơ cấu kinh tế địa

14


phương có bước chuyển dịch tích cực hơn; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng
từ 22% năm 1990 tăng lên 25% năm 1995; dịch vụ từ 21% lên 25%; nông
nghiệp từ 57% xuống còn 50%. Những thành quả phát triển kinh tế này có tác
động trực tiếp đến vấn đề xã hội nói chung và xóa đói nghèo nói riêng.
Đại hội khẳng định: Việc xóa đói, giảm nghèo được các đoàn thể, các
tổ chức xã hội động viên đông đảo nhân dân tham gia bằng nhiều việc làm
thiết thực. Toàn tỉnh có 38 vạn lượt hộ được vay hơn 1.700 tỷ đồng vốn của
Nhà nước để sản xuất, tạo thêm việc làm cho hơn 10 vạn người. Số hộ nghèo
đói giảm từ 22% năm 1990 xuống 9,12% năm 1995. Đời sống đại đa số nhân
dân ổn định, nhiều mặt được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người năm
1995 đạt 1,4 triệu đồng, tăng 43% so với năm 1990. Phong trào Đền ơn, đáp
nghĩa với người có công được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và
nhân dân quan tâm; toàn tỉnh đã xây dựng 1.000 ngôi nhà tình nghĩa, góp 2 tỷ
đồng vào sổ tiết kiệm tặng các gia đình liệt sỹ, thương binh. Các đoàn thể và
nhân dân coi trọng đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, giúp đỡ những người tàn
tật, rủi ro giảm bớt khó khăn, đặc biệt là một số trẻ em nghèo được giúp đỡ
học tập tốt [1, tr.376]. Công tác y tế có tiến bộ, mạng lưới y tế cơ sở được
chăm lo củng cố; toàn tỉnh có 81% số trạm y tế xã được trang bị dụng cụ y tế,
72% số trạm y tế có y sỹ sản nhi, 20,8% số trạm có bác sỹ. Việc tiêm chủng

Thứ nhất, so với mặt bằng chung của cả nước, nhiều lĩnh vực Hà Tây
còn có những yếu kém. Theo Cục thống kê, GDP năm 1991, Hà Tây đạt
605,8 tỷ đồng, năm 1992 đạt 716,8 tỷ đồng, năm 1993 đạt 807,5 tỷ đồng, nhịp
độ tăng trưởng bình quân là 10%, cả nước là 7,49%. Tỷ lệ huy động ngân
sách từ GDP năm 1992 là 132,9 tỷ và 151,8 tỷ năm 1993, trong khi đó chi
ngân sách năm 1992 là 170,3 tỷ, năm 1993 là 258,4 tỷ. Ngân sách Trung ương
trợ cấp thêm phần thiếu hụt là 78 tỷ năm 1992 và 106,6 tỷ năm 1993. GDP
bình quân đầu người năm 1991 là 149 USD, năm 1992 là 172 USD/230 USD
của cả nước, năm 1993 là 189 USD/242 USD của cả nước…[47, tr.30]. Tuy
kinh tế có tăng trưởng với tốc độ cao, nhưng so với bình quân của cả nước,

16


Hà Tây thấp hơn trên một số mặt chủ yếu: GDP bình quân đầu người, tỷ lệ
huy động ngân sách và đặc biệt là chưa cân bằng được ngân sách.
Trong khi đó, các lĩnh vực chủ yếu của một nền kinh tế, Hà Tây vẫn
còn nhiều hạn chế.
Trong sản xuất nông nghiệp, Hà Tây vẫn còn mang nặng tính độc canh
cây lúa, đã hạn chế tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp và thu nhập của nông
dân. Tiềm năng của vùng đồi, vùng bãi, vụ đông trong nội đồng chưa được
khai thác để tạo ra những hướng tăng trưởng mới theo hướng đa dạng hoá cây
trồng, vật nuôi phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch và cho xuất khẩu, cải
thiện đời sống dân cư trong khu vực này. Bên cạnh đó, còn tồn tại tình trạng
lãng phí tài nguyên; đất 1 vụ còn lớn (10.000 ha), diện tích mặt nước của 5
con sông và 6.000 ha ao hồ chưa được sử dụng, đất chưa có rừng và đất trống,
đồi, núi trọc có khả năng sử dụng cho nông - lâm nghiệp còn 20.000 ha…
Trong lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp Trung ương và địa phương
trên địa bàn tỉnh còn quá nhỏ bé, chiếm tỷ trọng thấp trong GDP; công nghệ
và thiết bị còn lạc hậu (90% xí nghiệp có trình độ công nghệ trung bình và lạc

Tây, Hoài Đức, Chương Mỹ… nhưng có 9 xã miền núi và các xã đồi gò, ở
những nơi này tỷ lệ nghèo là rất cao, bình quân tỷ lệ nghèo ở các xã miền núi
là 38,42%, cao gấp 3,8 lần so với các xã đồng bằng; vùng đồi gò là 41,68%,
gấp 4 lần xã đồng bằng) [24, tr.39].
Trong nền kinh tế hàng hóa, nền kinh tế thị trường, việc thuận tiện giao
thông, gần các trung tâm kinh tế là yếu tố rất quan trọng trong phát triển kinh
tế - xã hội. Với địa bàn phân bố khá phức tạp, có 2 thị xã, có các địa bàn giáp
gianh với Thủ đô Hà Nội như Thanh Oai, Chương Mỹ, Hoài Đức… đời sống
nhân dân ở những địa bàn này khá cao về vật chất, tinh thần. Song cũng có
các địa bàn rất xa trung tâm như Mỹ Đức, Ba Vì… thậm chí còn có những xã
miền núi có đồng bào dân tộc sinh sống, các xã vùng trũng, đồi gò và bãi giữa
sông Hồng… đời sống nhân dân ở những địa bàn này lại rất khó khăn bởi
nhiều yếu tố đặc biệt là hạn chế về tư duy, nhận thức, trình độ trong phát triển
kinh tế - xã hội. Do đó, khoảng cách giàu nghèo của Tỉnh là khá cao so với

18


các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng (Phụ lục 12). Đây là một khó
khăn lớn trong việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh.
Thứ tư, đặc điểm dân số, là tỉnh liền kề với Thủ đô Hà Nội, có nhiều lợi
thế để phát triển, yêu cầu xây dựng Hà Tây thành tỉnh giầu mạnh trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và bối cảnh hội nhập cao đang đặt ra những thách
thức to lớn cho công tác dân số, với nhiệm vụ điều chỉnh tốc độ gia tăng dân
số, đảm bảo quy mô dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số đáp ứng
nguồn nhân lực chất lượng cao; hiện đại hóa quản lý dân cư làm căn cứ hoạch
định chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, xây dựng kế hoạch cung
cầu hàng hóa và dịch vụ nói riêng.
Hà Tây là tỉnh có mật độ dân số cao, gấp 26 lần mức bình quân chung
của thế giới; gấp 5,1 lần bình quân chung của cả nước và gấp 1,24 lần bình

260.000 đồng/người/tháng được coi là hộ nghèo.
Như vậy, tính đến năm 2006, Chính phủ đã 4 lần thay đổi chuẩn nghèo,
theo đó, tỷ lệ hộ nghèo đói ở Hà Tây cũng luôn có sự biến đổi:
Theo số liệu điều tra đầu năm 1996 của Cục thống kê tỉnh Hà Tây, tính
theo chuẩn nghèo của Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 1996 - 2000 thì tỷ lệ
nghèo đói ở Hà Tây là 9,15%. Sau 5 năm thực hiện công tác xóa đói, giảm
nghèo, đến năm 2000 tỷ lệ nghèo đói ở Hà Tây là 5,8%. Nhưng theo chuẩn
nghèo mới của Chính phủ áp dụng cho giai đoạn (2001- 2005) thì tỷ lệ nghèo
đói của Hà Tây là 10,42%. Tương tự như vậy, đến năm 2005, tỷ lệ nghèo đói
của Hà Tây giảm xuống còn 5%. Nhưng khi áp dụng chuẩn nghèo mới của giai
đoạn 2006 - 2010 của Chính phủ thì tỷ lệ đói nghèo của Hà Tây lên tới 13,85%.
Sự thay đổi liên tục chuẩn nghèo của Chính phủ dẫn tới một thực trạng
là các hộ cận nghèo theo chuẩn cũ sẽ trở thành các hộ nghèo theo chuẩn mới,
đồng thời còn có tình trạng các hộ đã thoát nghèo lại rơi vào tình trạng tái
nghèo. Vì vậy, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh và các Ban, Ngành liên quan phải luôn
chú ý quan tâm, rà soát để có chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo phù
hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn.

20


1.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xóa
đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006
1.2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói, giảm nghèo

Ngay từ khi ra đời, nhờ vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của cách mạng thế giới, hiểu rõ thực
tiễn đất nước, Đảng ta xác định rõ con đường phát triển của cách mạng Việt
Nam là hoàn thành độc lập dân tộc rồi tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua chế độ
TBCN. Thực tiễn lịch sử gần 8 thập kỷ qua đã kiểm nghiệm đường lối đúng
đắn đó. Sau khi hoàn thành Độc lập dân tộc, bước sang thời kỳ xây dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status