Đảng bộ huyện nga sơn (tỉnh thanh hóa) lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

MAI THỊ HÀ

ĐẢNG BỘ HUYỆN NGA SƠN (TỈNH THANH HÓA)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

MAI THỊ HÀ

ĐẢNG BỘ HUYỆN NGA SƠN (TỈNH THANH HÓA)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số

: 60 22 56

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. CAO VĂN LIÊN

Hà Nội, 2012



2.2.1. Chủ trương của tỉnh Thanh Hóa và Đảng bộ huyện Nga Sơn về
xóa đói, giảm nghèo giai đoạn (2006-2010) ......................................... 50
2.2.2. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn thực hiện xóa
đói, giảm nghèo giai đoạn (2006-2010) ................................................ 55
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN
NGA SƠN (TỈNH THANH HÓA) LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI,
GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010..................................... 70
3.1. Thành tựu và hạn chế ...................................................................... 70
3.1.1. Thành tựu ................................................................................... 70
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................ 78
3.2. Kinh nghiệm ..................................................................................... 81
KẾT LUẬN ................................................................................................. 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 92
PHỤ LỤC.................................................................................................. 102

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay,
vấn đề phân biệt giàu - nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức
lớn đối với sự phát triển và bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn
bộ nền văn minh hiện đại. Đói nghèo và chống đói nghèo luôn luôn là mối
quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giàu mạnh gắn liền
với sự hưng thịnh của một quốc gia. Đói nghèo thường gây ra xung đột chính
trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn định về xã hội, chính trị. Mọi dân tộc tuy
có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là

đói nghèo. Vì vậy mà Đại hội VIII của Đảng đã xác định xóa đói giảm nghèo
là một trong những chương trình phát triển kinh tế xã hội vừa cấp bách trước
mắt, vừa cơ bản lâu dài. Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà
Nước về phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo thì cho đến nay tất cả
các tỉnh, thành trong cả nước đã xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo
phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương,
từng khu vực nhằm XĐGN và lạc hậu góp phần tích cực vào công cuộc cải
cách nền kinh tế.
Quá trình thực hiện chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo ở
nước ta thời gian qua đã đạt được một số thành tựu nhất định như số hộ nghèo
theo chuẩn cũ giảm cả tuyệt đối và tương đối, số hộ nghèo vươn lên làm giàu
ngày một nhiều hơn. Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá là nước có
thành tích vượt trội trong xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, kết quả xóa đói
giảm nghèo ở nước ta thời gian qua chưa vững chắc, số hộ nghèo theo chuẩn
mới còn cao. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt
Nam nhận định: Thành tựu xóa đói giảm nghèo chưa thật vững chắc. Số hộ
nghèo và tái nghèo ở một số vùng còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn
cao. Đời sống nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn gặp

4


nhiều khó khăn, nhiều vùng dân tộc thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn so với
bình quân cả nước. Thực trạng đó đòi hỏi nước ta cần nỗ lực hơn nữa trong
tìm tòi giải pháp hiệu quả để tiếp tục tổ chức thực hiện chương trình xóa đói
giảm nghèo ở tầm cao hơn.
Nga Sơn là một huyện nằm ở phía Đông bắc tỉnh Thanh Hóa, cách
thành phố Thanh Hóa khoảng 42km, gồm 26 xã và một thị trấn với diện tích
tự nhiên là 150 km2, có dân số trên 15 vạn người (trong đó khoảng trên 3 vạn
người theo đạo Thiên Chúa Giáo). Hiện nay Nga Sơn vẫn là một huyện

xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay,
Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội; Đỗ Thế Hạnh (2000): Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm
xóa đói giảm nghèo ở vùng định canh định cư Thanh Hoá, Luận văn thạc sĩ
kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Xóa đói giảm nghèo cũng là những đề tài khoa học các cấp độ Nhà
nước, cấp Bộ và cấp cơ sở. Đề tài “Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung bộ (bao gồm các tỉnh từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế) xóa đói giảm
nghèo và giải quyết việc làm, bảo vệ nguồn tài nguyên đất” do TS Trần Ngọc
Ngoạn làm chủ nhiệm. Đề tài đã xem xét đánh giá thực trạng tình hình nông
thôn Bắc - Trung bộ Việt Nam dưới góc độ thực hiện các mục tiêu bền vững và
các mục tiêu thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết trên các lĩnh vực như xóa
đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo vệ nguồn tài nguyên và đa dạng sinh
học. Đề tài phát triển kinh tế với vịêc xóa đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh,
Thanh Hoá của Phạm Thế Dũng. Công trình đã đề cập đến xóa đói giảm nghèo
kết hợp với phát triển kinh tế trên phạm vi huyện Như Thanh, Thanh Hoá.
Có những công trình đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước
nhưng liên quan đến xóa đói giảm nghèo. Nguyễn Thị Hằng (2001): Bàn về
mục tiêu, nhiệm vụ và những biện pháp lớn của công tác di dân xây dựng kinh
tế mới đến năm 2000, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội; Lê Huy Ngọ (2001): Phát
triển nông nghiệp, nông thôn miền núi trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

8


đại hoá, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội; Ngôn Nghiệp (2004): Công tác tuyên
truyền ở vùng dân tộc và miền núi trong tình hình mới, Nxb. Văn hoá Dân
tộc, Hà Nội; Lê Hải Đường (2004): Đổi mới phương thức chuyển giao khoa
học và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi, Nxb. Văn hoá Dân tộc, Hà
Nội; Hoàng xuân Thuận (2004): Quản lý Nhà nước về khoa học công nghệ ở
vùng dân tộc miền núi, Nxb. Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.

4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Nga Sơn lãnh đạo thực hiện công
tác xóa đói giảm nghèo, tập trung vào chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) từ năm 2000 đến năm 2010.
4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
huyện Nga Sơn thực hiện xóa đói giảm nghèo.
- Về không gian: Huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa)
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện
Nga Sơn lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến
năm 2010.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận của luận văn:
Hệ thống những quan điểm, tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
XĐGN.
Các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, VII, VIII, IX,
X, XI; những tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt
Nam có liên quan đến luận văn có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và
phương pháp luận đối với những vấn đề được đề cập trong luận văn.

10


Khi viết luận văn, tác giả chú ý sử dụng, tham khảo một số công trình
nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học ở trong nước; số liệu thống kê, điều
tra xã hội học của các cơ quan nghiên cứu, tổng hợp, lưu trữ. Những vấn đề
có liên quan đến luận văn mà các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các công
trình khoa học đi trước đã nêu ra được xem như là những chỉ dẫn, gợi ý khoa
học có ý nghĩa phương pháp luận cho tác giả luận văn.

liệu lịch sử về huyện Nga Sơn nói chung và làm cơ sở giáo dục truyền thống
cho thế hệ trẻ trong quá trình xây dựng huyện Nga Sơn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết:
Chƣơng 1: Quan niệm về xóa đói, giảm nghèo và đặc điểm địa lý, kinh
tế xã hội của huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa)
Chƣơng 2: Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh
Thanh Hóa) thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010
Chƣơng 3: Kết quả và kinh nghiệm của Đảng bộ huyện Nga Sơn (tỉnh
Thanh Hóa) lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2010.

12


Chƣơng 1
QUAN NIỆM VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN,
KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN NGA SƠN (TỈNH THANH HÓA)

1.1. Quan niệm về đói nghèo và chủ trƣơng của Đảng về xóa đói,
giảm nghèo
1.1.1. Quan niệm về đói nghèo
Đói nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Cho đến nay, đói nghèo
vẫn là nỗi ám ảnh đối với các quốc gia trên thế giới. Loài người chúng ta đã
chứng kiến những thảm họa của các cuộc chiến tranh tàn sát, thiên tai, dịch
bệnh và những hậu quả do nạn đói gây ra vô cùng khủng khiếp. Nó cướp đi
nhiều sinh mạng, làm cho hàng triệu người không được hưởng thụ những
thành quả của nền văn minh tiến bộ mà còn gây ra hậu quả nghiêm trọng về
kinh tế xã hội đối với sự phát triển, tàn phá môi trường sinh thái.
Vấn đề đói nghèo nếu không được giải quyết thì không một mục tiêu

cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng
và địa phương đang xét. Nghèo có nhu cầu tối thiểu là tình trạng một bộ phận
dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc,
đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.
Trên đây là những khái niệm chung nhất, phương pháp đánh giá, nhận
diện nét chủ yếu, phổ biến về nghèo đói. Trọng tâm của vấn đề là nhu cầu của
con người. Tuy vậy, trong khái niệm chưa thể hiện rõ chuẩn mực đánh giá về
mặt định lượng, chưa tính đến sự khác biệt, chênh lệch giữa các vùng lãnh
thổ, quốc gia, các điều kiện cụ thể. Sự phát triển của sản xuất, tăng trưởng
kinh tế làm tăng thêm nhu cầu của đời sống con người, tạo ra những biến đổi
của xã hội. Do đó, khái niệm về “nghèo” và “đói nghèo” cũng biến động theo
nó. Thực tế cho thấy các chỉ số xác định đói nghèo thường được gắn liền với

14


điều kiện kinh tế - xã hội. Hiện tượng đói nghèo có tính lịch sử và đang có sự
biến động trong sự vận động chung của đất nước.
Ở nước ta, việc xác định chuẩn nghèo luôn thay đổi theo từng thời kỳ. Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm
nghiên cứu và xem xét chuẩn mực nghèo đói của cả nước qua từng thời kỳ.
Chuẩn mực nghèo đói là một khái niệm động phụ thuộc vào phương pháp tiếp
cận, điều kiện kinh tế và thời gian. Từ đó xác lập được chuẩn mực đói nghèo.
Năm 1996 chuẩn mực đói được đánh giá như sau:
Bảng 1: Chuẩn mực đói nghèo năm 1996
Thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng
Loại hộ

Địa bàn



Dưới 13 kg

< 52.000

(Nguồn: Bộ lao động – thương binh xã hội năm 1996)

Chuẩn mực đói nghèo năm 1997 được đánh giá tại quy định số
1751/LĐTBXH ngày 20/5/1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
như sau:
Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng
quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương với 45.000 đồng/người/tháng (tính cho
mọi vùng)
Hộ nghèo: là những hộ có mức thu nhập bình quân quy ra gạo: vùng
nông thôn, miền núi, hải đảo dưới 15kg/người/tháng (tương đương với

15


700.000 đồng); vùng nông thôn đồng bằng, trung du dưới 20kg/người/tháng;
vùng thành thị dưới 25kg/người/tháng (tương đương với 90.000 đồng). Chuẩn
mực này áp dụng đến hết năm 2000.
Từ ngày 1/1/2001 nước ta áp dụng chuẩn nghèo mới theo quyết định số
1143/2000 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định:
Vùng nông thôn miền núi và hải đảo: Hộ nghèo là những hộ có thu
nhập bình quân dưới 80.000 đồng/người/tháng; 960.000 đồng/người/năm.
Vùng nông thôn đồng bằng: hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập
dưới 100.000 đồng/người/ tháng; 1.200.000 đồng/người/năm.
Vùng thành thị: hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới
150.000 đồng/người/tháng; 1.800.000 đồng/người/năm.


Nông thôn đồng bằng

Thành phố

< 70.000đ ~ 200kg gạo

< 90.000đ ~ 25kg gạo

< 80.000đ ~ < 20.000 kg gạo < 100.000đ ~ < 20 kg gạo < 15.000đ ~ < 35kg gạo
< 200.000đ

2006 - 2010

< 260.000đ

(Nguồn: Tạp chí khoa học, số 2, năm 2007)

Như vậy, chuẩn nghèo đói luôn thay đổi biến động, phụ thuộc vào
phương pháp, cách tiếp cận, điều kiện kinh tế - xã hội và thời gian.
Đói nghèo là hậu quả của nhiều nguyên nhân, nhưng những nguyên
nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:
Nhóm nguyên nhân do điều kiện kinh tế - xã hội: khí hậu khắc nghiệt,
thiên tai, bão lụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó
khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả chiến tranh để lại.
Nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu
vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội hay
lười lao động.
Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng
bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn;

ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, yêu nước và thương dân là hai yếu
tố quan trọng nhất. Người đã từng khẳng định rằng: Lòng yêu nước của tôi với
nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi. Đó chính là sự đồng cảm của
những con người cùng cảnh ngộ, những người dân mất nước, nô lệ lầm than.
Chăm lo đời sống của nhân dân chính là chăm lo đến lợi ích của họ. Hồ
Chí Minh trong tư tưởng cũng như trong hành động, luôn xuất phát từ nhu
cầu, lợi ích của người lao động. Khi cách mạng mới thành công, tại phiên họp
ngày 3/9/1945 của Hội đồng Chính phủ, Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ

18


cấp bách, trong đó có nhiệm vụ chống nạn đói. Điều này thể hiện bản chất của
Chính quyền cách mạng và tình yêu thương của Bác đối với những người
nghèo khổ. Người đã kêu gọi đồng bào cả nước “Sẻ cơm nhường áo”: “Hỡi
đồng bào yêu quý. Từ tháng giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bắc bộ nước ta
đã có 2 triệu người chết đói. Kế đó lại bị nước lũ, nạn đói càng tăng lên, nhân
dân càng khốn khổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm lên mà ăn, nghĩ đến kẻ đói
khổ, chúng ta không khỏi động lòng” [67, tr. 31]. Trong bài phát biểu tại cuộc
họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc (thành lập ngày
31/12/1945), Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “…Chúng ta giành được tự do, độc
lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân
chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ.
Chúng ta phải thực hiện ngay:
1. Làm cho dân đủ ăn
2. Làm cho dân đủ mặc
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân được học hành.
Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta
xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức cho tự do độc lập” [67, tr. 152]. Bác

thích cho ai nấy đều hiểu rõ, đều thực hành. Các bạn phải có sáng kiến để tìm
ra cách làm được việc mà không mất lòng dân. Nhất là đối với chữ Cần, chữ
Kiệm, chữ Hy sinh, chữ Công bằng thì các bạn phải thực hành trước; phải
làm gương cho dân chúng noi theo”[67, tr. 94].
Trong “Lời kêu gọi nhân dịp phát động phong trào sản xuất và tiết
kiệm” (3/1952), Hồ Chủ tịch đã nói: “Lâu nay, chúng ta đòi hỏi nhân dân
đóng góp. Từ đây, chúng ta phải ra sức hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân hơn
nữa trong việc sản xuất và tiết kiệm, cải thiện đời sống nhân dân, để làm cho
dân giàu, nước mạnh. Có như thế nhân dân mới càng thấy Chính phủ hết lòng,
hết sức phục vụ nhân dân” [69, tr. 441]. Như vậy, xuất phát từ bản chất của chế

20


độ ta và nhạy cảm trước nhu cầu cấp thiết của nhân dân, Người đã đưa ra nhiều
chính sách và giúp đỡ nhân dân hơn nữa trong sản xuất và tiết kiệm.
Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói (13/6/1955), Người đã
nói: “Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên” nghĩa là dân lấy ăn làm trời,
nếu không có ăn là không có trời. Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo”.
nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả. Vì vậy, chính sách của
Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân.
Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ
có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và
Chính phủ có lỗi”[70, tr. 572]. Bác luôn là người quan tâm, chăm lo cho dân
từ “miếng cơm manh áo”. Người hiểu rõ những nhu cầu thiết yếu của họ. Từ
đó đã thu phục lòng dân và tập hợp sức mạnh của quần chúng nhân dân đoàn
kết đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. “Vì vậy cán bộ Đảng và Chính
quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân
dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm.
Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ

giảm nghèo với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói giảm nghèo
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đảng ta đã quyết tâm, kiên định theo con đường chủ nghĩa xã hội, xây dựng
một chế độ xã hội mới vì con người. Phấn đấu vì mục tiêu cao cả dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Không chỉ chú trọng đúng
mức đến vấn đề xóa đói giảm nghèo trong xã hội, với nhãn quan chính trị
nhạy bén và với trách nhiệm cao cả trước nhân dân, Đảng đã đưa ra chương
trình mục tiêu quốc gia “xóa đói giảm nghèo”. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã có
14 chương trình cấp quốc gia và dự án đang được thực thi có nội dung gắn
với xóa đói giảm nghèo.

22


Xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ lâu dài, vừa là nhiệm vụ trọng
tâm trước mắt. Trước đổi mới, với cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao
cấp, mặc dù thu nhập và đời sống của các tầng lớp dân cư phần nào được cải
thiện, nhưng vẫn có hơn 70% dân số nghèo. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI của Đảng (12/1986), chúng ta đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,
chuyển từ bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta bắt đầu có bước phát triển, đem lại sự phát
triển năng động trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và lĩnh vực khác của đời
sống xã hội. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường nảy sinh những mặt tiêu
cực cần chú ý giải quyết như sự phân hóa giàu nghèo gây nên bất bình đẳng
trong xã hội, cho nên xóa đói giảm nghèo là nội dung và nhiệm vụ cần thực
hiện để đảm bảo công bằng xã hội. Thực tiễn cho thấy có nhiều nguyên nhân
nảy sinh nghèo đói, do đó việc xóa đói giảm nghèo được Đảng và Nhà nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status