1
MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá theo nghĩa rộng bao gồm hệ tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo
dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng, các
thiết chế văn hoá và giao lưu văn hoá với nước ngoài.
Theo nghĩa rộng này, văn hoá bao quát và có những tác động không
nhỏ đến mọi lĩnh vực của đời sống con người. Đó là kết quả của quá trình
hướng tới cái chân - thiện - mỹ của con người. Văn hoá là nền tảng tinh thần,
là mục tiêu và là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người. Văn
hoá đóng vai trò quan trọng với sự phát triển của xã hội; xây dựng một nền
văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng cho sự phát triển kinh
tế - xã hội, trong đó văn hoá ở khu dân cư là một bộ phận, là cơ sở, là nền
tảng cơ bản để xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng luôn luôn
coi trọng và phát huy vai trò của văn hoá. Nghị quyết Trung ương 5, khoá
VIII (7/1998) khẳng định:
Làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã
hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng
địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người,
tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí
cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội [19, tr.54].
Chủ trương phát động cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
đề bức xúc, nhất là xu thế do “đô thị hoá” nông thôn diễn ra nhanh chóng.
Nông thôn và bản sắc văn hoá làng xã, văn hoá làng và làng văn hoá được xã
hội quan tâm đến nhiều hơn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài
viết bàn về văn hoá làng xã, về xây dựng đời sống làng xã Việt Nam. Đặc
biệt là sau Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII (7/1998), Kết luận Hội nghị
Trung ương 10 khoá IX (7/2004) và các chủ trương của Đảng về nâng cao
5
đời sống văn hoá ở cơ sở cho đồng bào, đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng
xa, vùng dân tộc thiểu số thì vấn đề văn hoá làng xã càng được quan tâm
hơn bao giờ hết.
Nhiều công trình liên quan đến đề tài đã được công bố với các cách tiếp
cận khác nhau về văn hóa và xây dựng văn hóa. Trước hết phải kể đến một số
công trình, bài viết của các tác giả: như: “Nếp cũ - Làng xóm Việt Nam” của Toan
Ánh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 2, 1999; “Lệ làng Việt Nam” của Hồ Hữu
Thọ, Nxb Hà Nội, 1999; “Bản sắc dân tộc và hiện đại hoá trong văn hoá” của
Hoàng Trinh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; “Bản sắc văn hóa làng
trong xây dựng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ” của TS. Lê Quý Đức, Nxb Văn
hoá Thông tin, Hà Nội, 2001...
Về tạp chí có: “Xây dựng thiết chế văn hoá cơ sở như thế nào” của Võ Anh
Tuấn, Báo đại đoàn kết dân tộc, số 8/2007; “Văn hoá và phát triển ở Việt Nam
trong quá trình đổi mới” của Đinh Quang Ty, Tạp chí Tuyên giáo, tháng 9/2008;
“Giá trị văn hoá cổ truyền trong điều kiện xã hội hiện nay” của Tô Ngọc Thanh,
Tạp chí Tuyên giáo, tháng 10/2010...
Các tác giả đã bàn về văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất ở làng xã; đề
cập đến hội làng, nếp sống, phong tục, sân khấu dân gian, phân tích những mặt
tích cực và tiêu cực của văn hóa làng xã trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên nào cứu dưới góc độ Lịch sử
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi: Địa bàn huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
Về nội dung: Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá
trong quá trình thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư”.
Về thời gian: Từ năm 2000 đến 2010 sau khi cuộc vận động triển khai.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, luận văn trình bày các quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của
Đảng và Nhà nước về văn hoá và xây dựng nền văn hoá mới.
7
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu là
phương pháp lịch sử, logic, điều tra, phương pháp diễn giải và quy nạp, phương
pháp so sánh, đối chiếu… trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn
khách quan, để làm rõ việc triển khai chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây
dựng văn hoá ở khu dân cư của Đảng bộ huyện Như Xuân.
6. Cái mới của luận văn
- Làm rõ những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá về cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
- Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Như Xuân lãnh đạo thực hiện cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trên
địa bàn huyện (2000-2010).
- Chỉ ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số kiến nghị nhằm đẩy
mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư” thời gian tới.
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẢNG BỘ
HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG
“TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
VĂN HOÁ Ở KHU DÂN CƯ”
1.1. Cơ sở khách quan và sự cần thiết của cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”
1.1.1. Khái niệm chung về văn hoá
Theo khảo sát của PGS. Phan Ngọc, cho đến nay đã có trên 400 định
nghĩa về văn hoá. Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: Văn hoá là tổng thể nói
chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá
trình lịch sử. Văn hoá là những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu
cầu đời sống tinh thần [77, tr.1014].
Theo Từ điển chính trị:
Văn hoá là toàn bộ những giá trị về mặt vật chất và tinh thần, do
loài người sáng tạo ra trong quá trình của thực tiễn và lịch sử. Văn
hoá là sự thống nhất của hai mặt vật chất và tinh thần. Văn hoá vật
chất là sự tổng hợp những tư liệu sản xuất và những giá trị vật chất
khác của xã hội, tuỳ theo từng trình độ phát triển lịch sử của xã hội
[50, tr.867].
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm về văn hoá:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng
10
11
một cách có lý trí và tình cảm trong khát vọng vươn tới chân - thiện - mỹ.
Cũng chính nhờ văn hóa mà con người thể hiện được phẩm chất, tự ý thức
được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành, đặt ra để xem
xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới
mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân mình.
Theo như ý nghĩa nêu trên, chúng ta có thể hiểu đời sống văn hoá và
đời sống văn hoá ở khu dân cư như sau:
Đời sống văn hoá:
Là một bộ phận của đời sống xã hội. Đời sống xã hội là phương thức
hoạt động sống của con người, với các nhu cầu vật chất và tinh thần
được đáp ứng làm cho con người tồn tại và phát triển. Nhu cầu tinh
thần giúp cho con người tồn tại và phát triển như là nhân cách văn
hoá. Hai nhu cầu cơ bản này xuất hiện ngay từ khi con người hình
thành. Khi xã hội phát triển lên mức cao, thì sự đáp ứng nhu cầu cũng
đạt tới trình độ phát triển tương ứng. Từ hai nhu cầu cơ bản nên trên
hình thành nhu cầu văn hoá [29, tr. 373-377].
Nhu cầu văn hoá là biểu hiện nhu cầu tinh thần. Nhu cầu tinh thần
hướng tới các giá trị tốt đẹp góp phần phát triển con người thì mới xem là nhu
cầu văn hoá. Nhu cầu văn hoá luôn thay đổi và phát triển, vì thế, sự đáp ứng
nhu cầu cũng phải thường xuyên nâng lên.
Con người là chủ thể sáng tạo ra thế giới và các giá trị, sản phẩm văn
hoá. Các sản phẩm văn hoá vật chất và tinh thần phối hợp với mạng lưới hoạt
động văn hoá của con người hình thành nên môi trường văn hoá. Đó là môi
trường tạo nên nhân cách văn hoá của con người. Con người vừa là chủ thể
sáng tạo văn hoá, lại vừa là người hưởng thụ các giá trị văn hoá, sản phẩm của
chính họ.
Muốn cho các sản phẩm văn hoá nảy sinh và được vận hành trong đời
sống xã hội, thì phải có các yếu tố: sản phẩm văn hoá, thể chế văn hoá, các
hoá của mọi thành viên trong khu dân cư, nhằm đáp ứng nhu cầu của cả cộng
13
đồng dân cư đem lại sự an sinh, bền vững và hạnh phúc cho mọi cá nhân và
cộng đồng dân cư đó.
1.1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
đời sống văn hoá
1.1.2.1. Chủ nghĩa mác - Lênin về xây dựng đời sống văn hoá
Kế thừa những tinh hoa văn hoá của nhân loại, C.Mác, Ph.Ăngghen và
V.I.Lênin đã xây dựng nên một học thuyết.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã khẳng định: “Văn hoá là một
trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh thực trạng xã hội và những
quan hệ xã hội. Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, văn hoá tác động
tích cực trở lại đối với đời sống xã hội” [25, tr.31]. “Lao động được tiến hành
trong xã hội và do xã hội” là nguồn gốc của văn hoá. C.Mác và Ph.Ăngghen
đã vận dụng học thuyết đấu tranh giai cấp để lý giải mọi hiện tượng văn hoá
và khẳng định văn hoá có tính chất giai cấp, nhân dân, dân tộc và nhân loại.
Trong các bài viết của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định văn
hoá là phương thức sản xuất tinh thần, phản ánh và chịu sự quy định của sản
xuất vật chất. Bên cạnh đó, những sinh hoạt vật chất của những giai cấp khác
nhau trong xã hội đã làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm khác nhau. Chính
vì vậy, trong xã hội có giai cấp, văn hoá luôn mang tính giai cấp.
Văn hoá còn có tính nhân dân sâu sắc. Trong xã hội tư bản, giai cấp tư
sản đã biến những nhà trí thức, nghệ sĩ... thành những người làm thuê. Và họ,
những người sáng tạo ra văn hoá, lại trở thành kẻ bị bóc lột và bị ngay những
sản phẩm văn hoá ấy thống trị. Giai cấp tư sản đã “tước đoạt” các giá trị văn
hoá của quần chúng lao động, biến những giá trị văn hoá ấy thành tài sản của
giai cấp thống trị. Chính sự mâu thuẫn ấy khiến cho quần chúng bị tách biệt
sản, phải thành một bánh xe nhỏ và một cái đinh ốc trong bộ máy dân
chủ - xã hội vĩ đại, thống nhất do toàn đội tiên phong giác ngộ của toàn
bộ giai cấp công nhân điều khiển [30, tr.123].
Lênin cũng đã chỉ ra phương thức xây dựng nền văn hoá mới: Phải tiếp
thu toàn bộ nền văn hoá của chủ nghĩa tư bản để lại và dùng nền văn hoá đó
15
để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải tiếp thu toàn bộ khoa học, kỹ thuật, tất cả
những kiến thức, tất cả nghệ thuật. Không có cái đó chúng ta không thể xây
dựng được cuộc sống của xã hội cộng sản được [32, tr.67].
Tiếp thu toàn bộ nền văn hoá không có nghĩa là tiếp thu một cách
không có chọn lọc, tiếp thu cả mặt xấu lẫn mặt tốt mà là tiếp thu những giá trị
văn hoá đích thực mà nhân loại thừa nhận.
Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, tính giai cấp, tính nhân
dân, tính dân tộc của văn hoá có quan hệ mật thiết với tính nhân loại phổ
biến của văn hoá. Khẳng định bản chất của văn hoá là phát huy năng lực của
bản chất người, nói tới văn hoá là nói tới con người, các nhà kinh điển đã
khẳng định tính nhân loại của văn hoá. Các ông cho rằng, khi những yếu tố
văn hoá phản ánh hiện thực khách quan và hướng đến sự tiến bộ xã hội thì
chúng là tài sản của toàn dân, mang tính nhân loại phổ biến, bất kể nó do
giai cấp nào tạo ra.
Như vậy, những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hoá
đã trở thành nền tảng, soi sáng cho đường lối phát triển văn hoá của Đảng ta.
1.1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hoá
Chủ tich Hồ Chí Minh được UNESCO khẳng định là Anh hùng giải
phóng dân tộc - nhà văn hoá lớn, luôn quan tâm đến văn hoá và để lại di sản
to lớn về văn hoá.
Hồ Chí Minh đã có những quan điểm tư tưởng về bản chất, vai trò của
Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh coi việc đầu tư cho văn hóa là đầu tư
cho con người, phát triển văn hóa chính là phát huy nguồn lực con người nguồn lực to lớn và quyết định nhất đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước. Tạo cho con người có trình độ văn hóa cao, nhân cách đẹp và vị tha,
giàu lòng yêu nước, có ý thức trách nhiệm đối với xã hội là việc làm thường
xuyên và lâu dài. Bởi vậy, Người đã hết lòng chăm lo cho việc đào tạo, bồi
dưỡng nhân tố con người. Người nhận định: Phải xúc tiến văn hóa để đào tạo
con người mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc. Khẳng định vai trò của
17
việc đào tạo con người, Người dạy: "Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích
trăm năm trồng người".
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, xây dựng đời sống cho nhân dân phải
được tiến hành xây dựng nếp sống văn hóa. Từ những năm 1946, trong công
cuộc kháng chiến kiến quốc, Người đã viết tác phẩm "Đời sống mới" nhằm
động viên, kêu gọi các tầng lớp nhân dân thực hành đời sống mới với tinh
thần rất rõ là làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn,
tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới.
Quan điểm xây dựng đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức
rõ ràng, cụ thể, thiết thực, có kế thừa và phát huy những phong tục tập quán
tốt đẹp mang tính truyền thống, loại trừ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp:
Đời sống mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì mới
cũng làm. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa
đổi cho hợp lý. Thí dụ: đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm
bớt đi. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Thí dụ: ta phải
tương thân, tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân", "Cái gì
mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc
cho có ngăn nắp. Nếu mọi người đều làm đúng đời sống mới, thì
dân tộc nhất định sẽ phú cường [43, tr.95].
Huyện Như Xuân có 01 di tích lịch sử văn hóa, cách mạng cấp tỉnh là
di tích Đình Thi, và các danh lam thắng cảnh như thác Đồng Quan, rừng quốc
gia Bến En, Thác Mơ, các hang đá xếp tầng tự nhiên quý hiếm như núi đá Bọt
xã Xuân Bình, động Lèn Hung...
Như Xuân là một huyện có bề dày về lịch sử dựng nước và giữ nước.
Từ giữa năm 1941, khu vực đồn điền Yên Lạc (Như Xuân) được Tỉnh uỷ lựa
chọn để xây dựng căn cứ cách mạng phía Tây Nam của tỉnh Thanh Hoá.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng bào các dân tộc Như Xuân
do Tỉnh uỷ trực tiếp chỉ đạo đã đấu tranh xoá bỏ chính quyền Thổ ty Lang
19
đạo, xây dựng chính quyền cách mạng. Đảng bộ huyện Như Xuân ra đời
(tháng 8 năm 1949) đã lãnh đạo đồng bào các dân tộc Như Xuân tích cực
xây dựng và bảo vệ hậu phương, dũng cảm tham gia kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc, xây dựng, bảo
vệ chủ nghĩa xã hội.
1.1.3.2. Thực trạng đời sống văn hoá ở khu dân cư huyện Như Xuân,
tỉnh Thanh Hoá
- Thành tựu
Từ xưa tới nay, nhân dân các dân tộc trong huyện một lòng vững tin
theo Đảng. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đồng bào tích cực
góp sức người sức của tham gia kháng chiến. Trong hoà bình, đồng bào cần
cù trong lao động sản xuất, phong trào xoá đói giảm nghèo đã đạt được những
kết quả quan trọng, góp phần thiết thực cải thiện đời sống nhân dân, nhiều nét
mới về giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức từng bước được hình thành.
Tính năng động và tích cực công dân được phát huy, sở trường và năng lực cá
nhân được khuyến khích. Không khí dân chủ trong xã hội được mở rộng.
Tinh thần đoàn kết, các phong tục tập quán tiến bộ được duy trì và phát triển.
Thiết chế văn hóa của huyện nổi bật là 01 trung tâm Văn hóa lớn của
toàn huyện, bao gồm: bộ phận bảo tồn bảo tàng, nhà thư viện, bộ phận tuyên
truyền, 01 hội trường có sức chứa đến 300 người; 02 sân bóng chuyền; 01 sân
vận động chuyên tổ chức các hoạt động thể thao lớn như: giao lưu Bóng đá,
chạy, nhảy và các môn thể thao truyền thống của các dân tộc trong toàn
huyện, rộng khoảng 8.000 m2; 01 sân tennis; 04 sân cầu lông và hàng chục
điểm bóng bàn. Huyện có 01 di tích lịch sử văn hóa, cách mạng cấp tỉnh là di
tích Đình Thi và các danh lam thắng cảnh.
Tính đến tháng 12/2010, huyện Như Xuân có 02 xã văn hoá (trong đó,
01 xã và 01 thị trấn); có 02 thư viện xã; có 11/18 xã, thị trấn có nhà văn hoá
kiêm hội trường Uỷ ban Nhân dân xã, thị trấn. Toàn huyện có 183 khu dân
21
cư. Trong đó, số khu dân cư tiên tiến là 147 khu dân cư; 147 khu dân cư đã
khai trương làng văn hoá và có nhà văn hoá; 125 khu dân cư có sân chơi, bãi
tập; 157 khu dân cư đảm bảo về môi trường xanh, sạch, đẹp và không có tội
phạm, tệ nạn xã hội; 140 khu dân cư không có người sinh con thứ 3 trở lên; có
04 khu dân cư có đèn chiếu sáng công cộng; 14 khu dân cư được cấp Tỉnh
công nhận là khu dân cư văn hoá và được cấp huyện công nhận là 91 khu dân
cư văn hoá.100% khu dân cư có hệ thống cống rãnh thoát nước; 100% khu
dân cư đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Có 11.544 hộ gia đình đạt gia đình
văn hoá; 10.185 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình “Ông bà, cha mẹ mẫu
mực, con cháu hiếu thảo” [59, tr.11].
Và hiện nay, Như Xuân có nhiều khu dân cư được đánh giá là thực
hiện tốt nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Có được kết quả
thiết thực nêu trên, xuất phát từ nhu cầu của đông đảo các tầng lớp nhân dân
trong huyện.
Phong trào Văn hóa - Thể thao phát triển khá mạnh, hiện có 02 đội
không dùng loa để phát đi xa và không diễn ra sau 22 giờ. Các đội phục vụ
này phải ký cam kết với Phòng văn hoá huyện và phải chấp hành nghiêm khi
đi phục vụ ở trong hoặc ngoài xã của mình.
Những việc làm thiết thực hướng về cội nguồn, tưởng nhớ các anh
hùng dân tộc, phong trào đền ơn đáp nghĩa trở thành phong trào quần chúng
sâu rộng. Lễ tôn vinh anh hùng dân tộc và những người có công ở Như Xuân
là Lễ rước kiệu Thành Hoàng làng hay Lễ hội Đình thi diễn ra hàng năm và
Đại lễ 3 năm một lần vào ngày 16/3 âm lịch.
Đình Thi - đền Thi hay nhà thờ họ Lê là theo cách gọi của đồng bào
dân tộc Thổ. Đình Thi theo cách gọi của đồng bào dân tộc Thổ ở thôn Trung
Thành, xã Yên Lễ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh hóa, là nơi thờ phúc thần: Lê
Phúc Thành, người có công trong việc lập làng.
Đình Thi (lấy tên của cánh đồng Thi để đặt tên cho Đình) được xây
dựng trên một gò đất cao, có xóm làng và những ruộng nước bao quanh, ở
23
phía Nam có núi Mùn Tượng, phía Bắc có núi Đồng Cổ, trước mặt là cánh
đồng Lánh và những xóm làng ven chân núi. Có thể nói, Đình Thi là di tích
duy nhất và là lễ hội truyền thống có quy mô lớn nhất của tộc người Thổ
huyện Như Xuân.
Ngoài việc giết trâu tế Lễ, Lễ hội còn được thể hiện dưới các hoạt động
văn hoá và được biểu hiện bằng nhiều hình thức như đốt lửa trại, biểu diễn
văn nghệ, thi thiếu nữ đẹp trong sắc phục dân tộc, thi ẩm thực và các trò chơi
dân gian như ném còn, kéo co...
Lễ hội Đình Thi tuy chỉ mang tầm vóc địa phương nhưng đã trở thành
nét sinh hoạt quen thuộc hàng trăm năm của người dân nơi đây. Hội lễ là môi
trường sản sinh, bảo lưu các trò chơi, điệu múa dân gian. Giá trị văn hoá tinh
thần mà lễ hội mang lại mãi mãi trường tồn cùng thời gian.
văn hoá truyền thống, việc giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao tạo
điều kiện để mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng tham gia. Vì vậy, xây dựng
đời sống văn hoá ở khu dân cư trong giai đoạn hiện nay là một việc làm thiết
thực và là quy luật khách quan, qua đó nhằm phát huy những giá trị văn hoá
truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hoá mới làm giàu thêm nền
văn hoá dân tộc. Và thực trạng những thành tựu, hạn chế của đời sống văn
hoá ở khu dân cư huyện Như Xuân những năm qua đã thể hiện rõ điều này.
1.2. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh
Thanh Hoá về cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá ở khu dân cư”
1.2.1. Chủ trương của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
về cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu
dân cư”
1.2.1.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt nam phát động cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”
Chủ trương phát động cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư” với 6 nội dung (Đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển
25
kinh tế; đoàn kết phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”; đoàn kết
phát huy dân chủ, gìn giữ kỷ cương; đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá;
đoàn kết chăm lo sự nghiệp giáo dục, bảo vệ sức khoẻ, phát triển thể dục thể thao
và thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ môi trường; đoàn kết xây
dựng cơ sở chính trị vững mạnh gắn bó mật thiết với nhân dân, tổ chức tốt
“Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư) của cuộc vận động nhằm
gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá tryền thống của dân tộc, khơi dậy
tinh thần yêu nước, tình làng nghĩa xóm ở mọi cộng đồng dân cư trên cả nước.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạnh, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của