LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ HUYỆN kỳ sơn TỈNH NGHỆ AN LÃNH đạo xóa đói GIẢM NGHÈO TRONG GIAI đoạn từ 2005 đến 2015 - Pdf 43

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Bảo hiểm y tế

BHYT

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân

CNH, HĐH
HĐND

Kinh tế - xã hội

KT - XH

Nhà xuất bản

Nxb

Mặt trận tổ quốc

MTTQ

Ủy ban nhân dân

UBND

2.1. Những yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện

38

Kỳ Sơn về đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo (2010-2015)
2.2. Đảng bộ huyện Kỳ Sơn chỉ đạo đẩy mạnh xóa đói,

38

giảm nghèo (2010 - 2015)
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
3.1.

Nhận xét

3.2.

Kinh nghiệm

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

44
61
61
71
82
84
91

xa, vùng đặc biệt khó khăn và cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém. Đảng bộ
huyện Kỳ Sơn lãnh đạo công tác XĐ, GN nhằm nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ huyện, sự nỗ lực

3


phấn đấu của các ngành, các cấp và toàn thể nhân dân, huyện Kỳ Sơn đã đạt
được những thành tựu lớn trong công tác XĐ, GN, tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 là
60,90%, năm 2010 giảm xuống còn 24,64% (Theo chuẩn 2005). Tuy nhiên, vẫn
còn gặp nhiều khó khăn cả về khách quan và chủ quan, những nguồn lực sẵn có
chưa phát huy hết hiệu quả. Để lãnh đạo XĐ, GN trong những năm tới đạt kết
quả cao hơn, cần làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, rút ra những bài học kinh
nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện XĐ, GN nhằm góp phần đáp ứng mục
tiêu công tác XĐ, GN, tôi chọn và thực hiện đề tài “Đảng bộ huyện Kỳ Sơn,
tỉnh Nghệ An lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo từ năm 2005 đến năm 2015” làm
luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đói, nghèo và XĐ, GN là vấn đề lớn, bức thiết ở nước ta, đã và đang
thu hút các cơ quan, các nhà khoa học nghiên cứu để tìm giải pháp tháo gỡ.
Sau đây là kết quả nghiên cứu của các công trình đã được các nhà khoa học
đang tải trong sách, luận văn, luận án và các phương tiện truyền thông báo chí
liên quan trực tiếp đến đề tài:
Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về XĐ, GN
trên phạm vi cả nước:
Chu Tiến Quang (2001), “Đói nghèo ở Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp, Hà
Nội; Nguyễn Trọng Xuân (2003), “Quân đội tham gia xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Luận án Tiến sĩ kinh tế chính trị, Học viện
Chính trị quân sự, Hà Nội; Lê Trọng (2004), “Hướng dẫn kế hoạch làm ăn xóa
đói giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội;

và quan trọng để tác giả nghiên cứu, kế thừa trong quá trình viết luận văn.
Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu XĐ, GN ở các
địa phương như:
Nguyễn Tuấn Cảnh (2003), “Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với
tiến bộ và công bằng xã hội ở tỉnh Thái Bình”, Tạp chí Kinh tế xã hội (số 8);
Trần Văn Phong (2006), “Tác động của chính sách xóa đói, giảm nghèo đối

5


với sự phân hóa xã hội ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, (số 4); Lê Như
Nhất (2007), “Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo trong
giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Luận Lê Đức An (2008), “Xóa đói, giảm nghèo ở khu vực
duyên hải miền Trung”, văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học kinh tế Hà Nội; Trịnh
Sơn (2010), “Các Huyện ủy ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm
nghèo trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Vũ Thị Thanh Thủy (2011), “Vấn đề xóa đói giảm
nghèo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Luận văn thạc sĩ Quan hệ
quốc tế, Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội; Lương Thị Thuần
(2011), “Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng ở tỉnh
Yên Bái từ năm 1996 đến năm 2010”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Đại học
khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội; Hoàng Thị Ngọc Hà (2012), “Đảng bộ
tỉnh Cao Bằng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm
2010”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn
thạc sĩ lịch sử Đảng của Vũ Thế Thực (năm 2013), Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2005”, Học viên Chính
trị; Vũ Bình Tuyển (2014),“Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xóa đói, giảm
nghèo từ năm 2001 đến năm 2010”, Luận văn thạc sĩ lịch sử Đảng, Học viện
Chính trị, Hà Nội; Lê Xuân Trường (2014), “Đảng bộ tỉnh Phú Yên lãnh đạo

"Một số kết quả ứng dụng khoa học - công nghệ tại các vùng dân tộc thiểu số và
miền núi trên đại bàn Nghệ An", Tạp chí Thông tin khoa học - công nghệ Nghệ
An,( số 2); Trần Xuân Bí (2010), "Chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và
chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
và miền núi giai đoạn 2004 - 2010 ở Nghệ An", Tạp chí Thông tin khoa học công nghệ Nghệ An, (số 6); Hồ Thị Thanh Vân (2011), "Lý thuyết “cực phát triển”
và vấn đề phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An", Tạp chí thông tin khoa
học Nghệ An, (số 12); Trần Thị Kim Châu (2015), “Xây dựng vùng tộc người
thiểu số "Đan Lai" tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sĩ kinh
doanh và quản lý, Đại học kinh tế, Hà Nội.

7


Các công trình nghiên cứu về hình thức, bước đi, cách làm trong XĐ, GN
trong địa bàn tỉnh Nghệ An, rút ra một số giải pháp trong XĐ, GN bền vững.
Đây là những tài liệu quý liên quan trực tiếp đến quá trình nghiên cứu, hoàn
thiện luận văn. Tuy nhiên, các công trình trên chưa đề cập một cách toàn diện,
đầy đủ về những thuận lợi, khó khăn của tỉnh Nghệ An trong XĐ, GN. Đặc biệt
là chưa có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, có tính hệ thống về quá
trình Đảng bộ huyện Kỳ Sơn lãnh đạo XĐ, GN từ năm 2005 đến năm 2015. Vì
thế, đề tài là vấn đề mới, không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ huyện Kỳ Sơn lãnh đạo XĐ, GN giai đoạn 20052015; nhận và xét rút ra một số kinh nghiệm để tiếp tục vận dụng trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải yêu cầu khách quan về lãnh đạo XĐ, GN của Đảng bộ huyện
Kỳ Sơn từ năm 2005 đến năm 2015.
Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Kỳ Sơn lãnh đạo XĐ, GN giai đoạn 2005-2015.
Nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm về quá trình Đảng bộ huyện Kỳ
Sơn lãnh đạo XĐ, GN từ năm 2005 đến năm 2015.

cứu, vận dụng trong lãnh đạo XĐ, GN trong thời gian tiếp theo.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.

9


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN KỲ SƠN
VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO (2005-2010)

1.1. Những yếu tố tác động và chủ trương xóa đói,
giảm nghèo của huyện Kỳ Sơn
Huyện Kỳ Sơn là địa phương có trên 90% đồng bào dân tộc thiểu số sinh
sống, có 20 xã với 129 thôn, bản thuộc diện khó khăn và đặc biệt khó khăn.
Điều kiện địa hình, địa bàn, thời tiết và giao thông phức tạp, là một trong
những yếu tố ảnh hưởng đến việc cụ thể hóa các chủ trương chính sách của
Đảng, Nhà Nước và tỉnh Nghệ An.
1.1.1. Những yếu tố tác động đến xóa đói, giảm
nghèo ở huyện Kỳ Sơn
* Quan niệm về nghèo và đói
Một là, nghèo là tình trạng một bộ phận người dân chỉ có điều kiện thỏa
mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống
thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng trên mọi phương diện.
Hai là, đói là tình trạng một bộ phận người dân nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu, thu nhập không đáp ứng nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc
sống; là tình trạng thiếu cái ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần
thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động sản xuất.
Ba là, nghèo và đói là hai khái niệm khác nhau, phản ánh cấp độ và mức

Toàn huyện có 59 nghìn ha rừng, chiếm 28% diện tích tự nhiên và trên 40
nghìn ha đất làm nương rẫy, đất ruộng, chiếm gần 20% diện tích đất tự nhiên.
Tổng dân số: Năm 2007 là 65.881 người, năm 2009 là 62.300 người và
năm 2014 là 74.017 người thuộc 05 dân tộc (Kinh, Thái, Mông, Khơ Mú, Hoa).
Có nhiều phong cảnh thiên nhiên đẹp như Đỉnh núi Phu xai lai leng ở xã
Na Ngoai, hang phỉ ở xã Mường Lống, hang Tù ở xã Nậm Cắn, Tháp cổ ở xã
Mỹ Lý là những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn.

11


Văn hóa phi vật thể rất phong phú như Đền Pu Nhạ Thầu ở xã Hữu Kiệm,
đền Cây Đa, lễ hội chọi trâu chọi bò, múa thổi khèn, phong tục uống rượu
vòng, lễ hội Xang Khăn, hát múa khắp, lễ mừng nhà mới, hát Rer Rer, hát tơm,
cồng chiêng trong các ngày lễ và các sự kiện chính trị xã hội ở địa bàn huyện.
Với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, những nguồn tài nguyên sẵn có,
đã góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, tạo thuận lợi
nhất định trong công tác XĐ, GN. Tuy nhiên, có những khó khăn nhất định,
sự chênh lệch trong mức sống của nhân dân huyện Kỳ Sơn còn rất lớn.
* Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo
Trong giai đoạn 2005 - 2010, Đảng ta tiếp tục gắn phát triển kinh tế với giải
quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, nhất là trong công cuộc XĐ, GN. Đồng
thời làm tốt việc “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển là
thể hiện sự nhìn nhận nghiêm túc, khách quan về tình hình đất
nước hiện nay, đồng thời cổ vũ nhân dân ta vươn lên với tinh thần
tự tôn dân tộc và quyết tâm cao để đưa đất nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, không chỉ ở mức thu nhập bình quân đầu
người thấp mà còn ở những lĩnh vực khác như kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội” [13, tr.24] và thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh, không ngừng phát triển sản xuất, nâng cao

trước năm 2005 nổi lên những ưu điểm và hạn chế cơ bản sau:
Ưu điểm
Một là, Đảng bộ huyện Kỳ Sơn thường xuyên xây dựng kế hoạch, xác
định các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT - XH gắn với XĐ, GN; thực hiện
tốt các chính sách trợ giúp người nghèo. Chủ trương giao đất giao rừng cho
hộ dân sử dụng và quản lý, đầu tư vốn, tạo việc làm, đẩy mạnh thực hiện
chương trình xóa nhà dột nát, tiếp nhận vốn tài trợ của các tổ chức chính trị xã
hội giúp đỡ làm nhà tình nghĩa, giúp đỡ những gia đinh khó khăn, ổn định
cuộc sống và phát triển sản xuất. Có nhiều chuyển biến trong nhận thức về
XĐ, GN, nguồn nhân lực của huyện được tham gia lao động, sản xuất, tăng
thu nhập, nâng cao đòi sống nhân dân, góp phần XĐ, GN trong huyện.

13


Hai là, kinh tế có hướng phát triển đi lên, cơ sở hạ tầng như đường,
trường, trạm, điện, nhà văn hóa, thông tin, liên lac, phát thanh truyền hình, vệ
sinh môi trường, bảo vệ rừng được tập trung đầu tư, làm thay đổi rõ rệt diện
mạo của huyện, công tác XĐ, GN được cấp ủy chính quyền quan tâm. Trong
sản xuất nông, lâm, đẩy mạnh phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Mô
hình kinh tế trang trại phát triển đa dạng và có hiệu quả, tích cực chuyển dịch
cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi, đưa giống mới có năng xuất vào sản xuất.
Hạn chế
Một là, hệ thống đường giao thông đang xây dựng chưa hoàn thanh,
trước 2005 có 10/21 xã thị trấn chưa mở đường ô tô đến trung tâm xã. Công
tác XĐ, GN đạt hiệu quả thất, công tác quản lý, điêu hành, tuyên truyền, vận
động thực hiện XĐ, GN còn chậm, lúng túng, chưa khai thác hết nội lực và
tiềm năng sẵn có của từng địa phương để thực hiện công tác XĐ, GN.
Hai là, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo còn cao, các giải pháp hỗ trợ XĐ,
GN chưa phát huy quả, thiếu thiết thực. Các xã ở vùng sâu vùng xã chưa có

trong phát triển kinh tế, là tập trung chuyển dịch cơ cấu theo hướng nông lâm
nghiệp kết hợp gắn với tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời khoanh
nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên nhằm hạn chế tối đa tình trạng phát nương làm rẫy,
tăng cường đầu tư phát triển chan nuôi, trồng cây ăn quả, thâm canh ruộng
nước là yếu tố quan trọng bảo đảm sự ổn định, phát triển kinh tế, phát huy
tinh thần nhân ái lá lành đùm lá rách, tương thân tương ái để giúp người
nghèo đói. Đẩy mạnh cuộc vận động XĐ, GN là nhiệm vụ chính trị, trách
nhiệm của toàn Đảng bộ, toàn hệ thống chính trị xã hội trong huyện.
Hai là, thực hiện mục tiêu XĐ, GN cần phát huy sức mạnh tổng hợp của
các ngành, các cấp cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội và sự đồng thuận
của toàn dân. Đồng thời “khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả,
chỉ đạo đầu tư có trọng điểm cho những ngành, những vùng sớm tạo ra hiệu
quả kinh tế - xã hội, giải quyết được nguồn lao động địa phương” [16, tr.19].
Công tác XĐ, GN sẽ không có hiệu quả cao nếu không phát huy sức mạnh
tổng hợp của mọi lực lượng, sức mạnh của toàn dân. Chính vì vậy, muốn thực
hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu XĐ, GN trên địa bàn huyện, trước hết

15


phải “quan tâm giải quyết cơ bản hạ tầng kỹ thuật, đời sống dân sinh ở
những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, tạo đòn bẩy tác động vào cả quá
trình phát triển chung của huyện” [16, tr.19] và phải phát huy sức mạnh tổng
hợp của các cấp Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể chính trị xã hội và
sự đồng thuận hưởng ứng của nhân dân để hướng tới công bằng xã hội, thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của người dân. Mở rộng và
khai thác hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài là sự bổ trợ quan trọng cho các
nguồn lực trong huyện; trong xu thế hội nhập, mở cửa với khu vực và thế giới,
huyện Kỳ Sơn có nhiều khả năng tìm kiếm đối tác, phát triển các dự án phối
hợp, tài trợ, viện trợ nhân đạo và XĐ, GN; làm tốt công tác quản lý, kiểm tra và

thành sức mạnh tổng hợp. XĐ, GN không phải là chủ trương riêng tách biệt khỏi
các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, mà luôn nằm trong tổng thể của quá
trình phát triển; các hộ nghèo tồn tại bên cạnh các hộ không nghèo, các vùng
nghèo tồn tại bên cạnh các vùng không nghèo, giữa hai bộ phận này luôn có sợ
tác động qua lại lẫn nhau, khuyên khích tạo điều kiện thuận lợi cho một bộ phận
dân cư có điều kiện giàu lên, thúc đẩy kinh tế phát triển, ưu tiên đối với các hộ
nghèo là đối tượng chính sách như: Gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình có
công với nước để các hộ này có thể nhanh chóng thoát khỏi tình trạng đói nghèo.
Bốn là, “Quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội giữ vững khối đại
đoàn kết các dân tộc trong huyện vì mục tiêu phát triển ổn định và bền vững”
[15, tr.19] và nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho
người dân để ổn định nâng cao mức sống và hưởng thụ các dịch vụ xã hội.
Thực hiện công tác XĐ, GN phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát
triển KT - XH của huyện, trên cơ sở quán triệt các chính sách hỗ trợ hộ
nghèo phải đi liền với công tác tư vấn, hướng dẫn sử dụng vốn vay có hiệu
quả, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng hộ gia đình để cho vay vốn
trong thời gian vừa đủ phát triển kinh tế có hiệu quả; Ngân hàng Chính
sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn cho hộ nghèo
vay vốn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế gia đình, cơ bản các hộ nghèo đã
sử dụng số tiền vay được vào phát triển kinh tế, cải thiện đời sống cho gia

17


đình; bên cạnh đó, còn một số hộ chưa biết cách sử dụng số tiền vay ở ngân
hàng, phải cho hộ khác sử dụng, đây là biểu hiện dấu hiệu lợi dụng danh
nghĩa hộ nghèo để vay vốn ngân hàng. Thực hiện những quan điểm của
Đảng, Nhà nước và tỉnh Nghệ An, Đảng bộ huyện Kỳ Sơn triển khai kịp
thời cụ thể hoá bằng kế hoạch, chương trình, dự án phát triển KT - XH của
huyện nhằm các Chương trình 134, Chương trình 135, Quyết định

rừng kinh tế” [16, tr19]. Thường xuyên duy trì các giải pháp ổn canh ổn cư,
cải thiện mức sống cho người nghèo, hộ nghèo và vùng nghèo. Đồng thời
phát huy nội lực của chính người nghèo tự thoát nghèo một cách bền vững.
Mục tiêu cụ thể: Đảng bộ huyện Kỳ Sơn xác định năm 2008, 100% xã có
đường ô tô từ trung tâm huyện đến trung tâm xã, 90 % thôn (bản) có đường xe
mô tô. Xây dựng 5 chợ vùng, 50 công trình nước hợp sinh, 27 công trình thủy
lợi, 10 trạm thủy điện nhỏ, 10 trạm bưu điện văn hoá xã, 58 nhà văn hoá cộng
đồng, 1.050 phòng học kiên cố, 3 nhà điều trị và 10 trạm y tế xã. 100% trạm
trưởng trạm y tế xã có trình độ y sĩ, 4 bác sĩ/vạn dân và hơn 96,6% dân số được
dùng nước sạch sinh hoạt. Tỷ lệ gia hộ nghèo và hộ đói hằng năm giảm xuống
10% - 11% (theo chuẩn nghèo 2005), năm 2010 giảm tỷ lệ hộ đói nghèo 20% 25% và cơ bản xoá hết nhà tạm bợ, dột nát và bảo đảm 96,6% dân số được
dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Đồng thời hằng năm tạo việc làm cho 400
đến 500 người lao động, duy trì 11.100 ha diện tích gieo trồng cây lương thực,
1.000 ha cây chề chất lượng cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 12,5% - 13% và
thu nhập bình quân theo đầu người đạt 06 triệu đồng/năm.
* Nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu chỉ tiêu Đại hội, Đảng bộ huyện xác
định lãnh đạo thực hiện tốt bốn nhóm nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, thực hiện tốt chủ trương chính sách của trên về phát triển KT - XH
và “chỉ đạo sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa
các giống cây, con có năng suất cao vào sản xuất. Tăng cường

19


phát triển và nhân điện 7 mô hình kinh tế đã được xây dựng.
Tập trung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản
xuất hàng hoá, ưu tiên phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế
trang trại” [16, tr.20] và tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất,
tăng thu nhập.

chính sách xã hội. Đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh và chăm sóc
sức khoẻ cho nhân dân, nhất là người nghèo. Đồng thời đầu tư xây dựng phát
triển mạng lưới các công trình kết cấu hạ tầng như điện, nước, giao thông,
thông tin liên lạc và các công trình kết cấu hạ tầng xã hội như trường học, tập
trung ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu như
công trình cấp nước sạch, y tế, giáo dục, giao thông đường bộ và vay vốn
ngân hàng lãi suất thấp cho người nghèo.
Ba là, đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá mới ở khu dân cư gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới.
“Tiếp tục tổ chức quán triệt, học tập, nghiêm cứu lồng ghép
nghị quyết của Đảng về lĩnh vực văn hóa trong các buổi sinh
hoạt, hội họp” [32, tr.02], tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia các
hoạt động văn hóa và thực hiện tốt công tác xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa.
Đồng thời chăm lo giải quyết tốt các vấn đề dân tộc, tôn giáo và phát huy các
mối quan hệ truyền thống dòng họ, bản sắc văn hóa dân tộc. Đảng bộ huyện
lãnh đạo thực hiện thống nhất thành lập Ban chỉ đạo, bộ giúp việc và văn
phòng điều phối chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn
mới là nhiệm vụ của liên ngành. Đồng thời quan tâm đến công tác già làng,
trưởng bản, những người có uy tín tham gia tuyên truyền nhân dân góp công
sức xây dựng nông thôn mới.
Bốn là, thực hiện tốt đề án nâng cao nhận thức và kỹ năng sử dụng khoa
học kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ tham gia XĐ, GN và người nghèo.
Tăng cường tập huấn khuyên nông, khuyến lâm, áp dụng những tiến bộ khoa
học kỹ thuật, phát triển các loại cây trồng thu lại năng suất cao và có giá trị kinh
tế. Đồng thời, mở rộng diện tích trồng chè, cây dược liệu và cây gỗ chế biến

21


nguyên liêu công nghiệp. Các phòng, ban, ngành, cơ quan cấp huyện phối hợp với


GN, huyện tập trung chỉ đạo thực hiện làm tốt các vấn đề cơ bản như sau:
1.2.1. Quán triệt và thực hiện tốt các chương trình, chính sách giảm
nghèo của Đảng, Nhà nước và tỉnh Nghệ An
Giai đoạn (2005-2010), huyện được thụ hưởng các chương trình, dự án,
chính sách lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; chủ
yếu là tập trung triển khai thực hiện Quyết định 134, Chương trình 135 giai
đoạn II, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ và các văn bản hướng
dẫn thực hiện của tỉnh Nghệ An về XĐ, GN:
* Quyết định 134: Là chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và
nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn,
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày
20/7/2004. Đảng bộ huyện Kỳ Sơn mở hội nghị chuyên đề chỉ đạo quán triệt
thực hiện các nội dung khai hoang ruộng bậc thang, công trình thủy lợi miền
núi, hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng và thực hiện tốt 02 văn bản của tỉnh Nghệ
An liên quan đến Quyết định 134 (Nghị quyết 06 - NQ/TU ngày 06/10/2006
của Tỉnh ủy về thông qua kế hoạch triển khai phát triển kinh tế xã hội miền
Tây Nghệ An đến năm 2010 và Kết luận 02-KL/TU ngày 22/5/2005 về
chương trình giải quyết việc làm và chương trình mục tiêu giảm nghèo năm
2006-2010) và Đảng bộ huyện ban hành 02 văn bản (Quyết định 107-QĐ/HU
ngày 26/4/2006 về thành lập kiểm tra tiến độ thực hiện dự án đầu tư trên
huyện Kỳ Sơn và Kết luận 03-KL/HU ngày 16/3/2006 về việc triển khai thực
hiện Chương trình 134 trên địa bàn huyện Kỳ Sơn) để chỉ đạo thực hiện
Chương trình 134 của Chính phủ; Đồng thời tổ chức nhiều hội nghị chỉ đạo
các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể chính trị tuyên truyền
vị trí ý nghĩa và triển khai thực hiện các dự án đầu tư thuộc Chương trình 134.
Trong giai đoạn 2005 - 2008, huyện Kỳ Sơn tập trung triển khai thực hiện
đầu tư hỗ trợ nhà ở cho nhân dân và xây dựng hệ thống công trình nước hướng
hợp vệ sinh ở các thôn (bản) vùng sâu vùng xa thuộc Chương trình 134 của



24


qua kế hoạch triển khai Quyết định 147/2005/QĐ-TTg, Thông báo 112-TB/TU,
ngày 05/6/2006, Thông báo 565-TB/TU ngày 29/4/2008 và Thông báo 651TB/TU ngày 27/8/2008 của Tỉnh ủy Nghệ An về phát triển kinh tế xã hội đến
năm 2010). Đồng thời tổ chức nhiều cuộc hội nghị chỉ đạo các cơ quan ban
ngành đoàn thể chính trị xã hội cấp huyện và 21 cấp ủy Đảng chính quyền xã thị
trấn triển khai thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II. Đảng bộ huyện Kỳ Sơn
ban hành 02 văn bản chỉ đạo (Kế hoạch 03-KH/HU ngày 16/5/2006, Kết luận
06-KL/HU ngày 23/6/2007 về việc triển khai thực hiện Thông báo 403-TB/TU
ngày 12/9/2007 của Tỉnh ủy) thực hiện phát triển kinh tế liên quan đến Chương
trình 135 của Chính phủ, UBND huyện mở nhiều hội nghị triển khai và đánh giá
việc thực hiện các dự án đầu tư thuộc diện Chương trình 135 của Chính phủ.
Nhìn chung huyện Kỳ Sơn chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình 135 của
Chính phủ có trọng tâm trọng điểm và đã góp phần phát triển kinh tế huyện nhà,
đồng thời thu hẹp khoảng cách mức sống giữa người dân nghèo với người giàu.
Huyện Kỳ Sơn tập trung triển khai thực hiện các nội dung xây dựng
đường giao thông, trường học, trạm y tế và hỗ trợ con giống cây trồng, con
giống gia súc cho nhân dân thuộc hộ nghèo nằm trong Chương trình 135 giai
đoạn II của Chính phủ. Từng bước kiên cố hóa hệ thống hạ tầng giao thông là
một trong những nhân tố quan trọng quyết định trong thực hiện công tác XĐ,
GN ở các xã vùng sâu, vùng xa trong địa bàn huyện, vì vậy trong 05 năm
(2005-2010) huyện Kỳ Sơn đã nâng cấp được 130 km đường biên giới, 180 km
đường giao thông liên xã và 140 km đường dân sinh, hoàn thành kế hoạch Đại
hội Đảng bộ huyện xác định 20/20 xã có đường ô tô đến trung tâm xã. Đồng
thời đã đầu tư xây dựng được 357 phòng học kiên cố cho 13 trường học ở 13
xã thuộc Chương trình 135 và chữa sữa nâng cấp 21 trạm y tế xã, thị trấn. Xây
dựng 357 phòng học cho các trường học trong huyện và các trạm y tế có đủ số
lượng đội ngũ y sĩ bác sĩ khám chữa bệnh cho nhân dân, trong đó 57% xã có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status