LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ HUYỆN CHƯƠNG mỹ, TỈNH hà tây LÃNH đạo CÔNG tác xóa đói GIẢM NGHÈO từ năm 2001 đến năm 2008 - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Ban Chấp hành Trung ương
Chính trị quốc gia
Hội đồng nhân dân

BCHTW
CTQG
HĐND

Nhà xuất bản
Ủy ban nhân dân

Nxb
UBND

Trang
Xóa đói, giảm nghèo

tr
XĐ, GN

1


MỤC LỤC


2.1

Nhận xét quá trình Đảng bộ huyện Chương Mỹ lãnh đạo
58

2.2

xóa đói, giảm nghèo (2000-2008)
Một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ huyện Chương
Mỹ lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo (2000-2008)

66

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

80
82
90

2


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo và chống nghèo đói là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các
quốc gia trên thế giới bởi vì, giàu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của một quốc
gia. Có thể nói, đói nghèo diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác

đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị-xã hội.
Từ quá trình phát triển kinh tế-xã hội gắn với nhiệm vụ XĐ, GN trên địa
bàn huyện Chương Mỹ đã đặt ra vấn đề cần phải tổng kết thực tiễn lãnh đạo, chỉ
đạo để thấy được những thành tựu, hạn chế qua đó vạch ra những nguyên nhân,
rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong công tác XĐ, GN nhằm đánh giá
đúng và vận dụng trong những năm tiếp theo để bảo đảm thực hiện phát triển
kinh tế-xã hội nhanh, bền vững, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân
dân. Từ những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ huyện Chương Mỹ,
tỉnh Hà Tây lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2008” làm
luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
XĐ, GN là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà
nước trong thời kỳ đổi mới. Vì thế, XĐ, GN đã trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều nhà khoa học, với nhiều công trình nghiên cứu, đề cập dưới
nhiều góc độ khác nhau.
Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về XĐ, GN trên bình diện
cả nước
Nguyễn Thị Hằng, “Xóa đói, giảm nghèo – từ phong trào cơ sở đến
chương trình quốc gia”, Tạp chí Cộng sản (số 22) năm 1998; Báo cáo phát
triển của Việt Nam: Tấn công nghèo đói, Báo cáo chung của nhóm công tác
chuyên gia Chính phủ - Nhà tài trợ - Tổ chức phi Chính phủ, Hội nghị nhóm
tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam, 14-15/12-1999; Lê Xuân Bá, Chu Tiến
Quang, Nguyễn Hữu Tiến, Lê Xuân Đình, Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo
ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2001; Nguyễn Trọng Xuân, Quân đội
4


tham gia xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án
Tiến sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2003; Hoàng
Xuân Thuận, Quản lý Nhà nước về khoa học công nghệ ở vùng dân tộc miền

quyết việc làm, phát triển làng nghề. Các ban chỉ đạo XĐ, GN và cán bộ làm
công tác XĐ, GN ở các địa phương đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát
huy tốt vai trò tham mưu cho các cấp ủy chính quyền địa phương trong việc
đề ra những chủ trương, biện pháp XĐ, GN phù hợp với lợi thế từng địa
bàn ...Tuy nhiên, các bài viết cũng đã chỉ ra những khuyết điểm trong công
tác XĐ, GN như việc chạy theo thành tích mà không chú ý đến tính bền vững
của công cuộc XĐ, GN, vì vậy hộ cận nghèo còn nhiều nên chỉ gặp phải
những rủi ro nhỏ là lại rớt xuống hộ nghèo. Đặc biệt trong nhận thức của
người nghèo và cán bộ làm công tác XĐ, GN ở cấp cơ sở (xã, phường, thị
trấn) chưa có sự chuyển biến rõ nét. Biểu hiện là thiếu dân chủ trong bình xét
hộ nghèo hay còn trông chờ, dựa dẫm vào sự trợ cấp của chính quyền Nhà
nước mà không có nội lực vươn lên để thoát nghèo. Từ những thành tựu và
hạn chế được rút ra trong quá trình nghiên cứu, các công trình khoa học cũng
đã đưa ra những kinh nghiệm trong XĐ, GN, tuy nhiên, kinh nghiệm đó
không phải là mẫu số chung cho các địa phương áp dụng mà chỉ có tính chất
tham khảo để vận dụng phù hợp. Đây cũng là nguồn tư liệu quý cho tác giả kế
thừa trong quá trình nghiên cứu.
Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về quá trình XĐ, GN của
các địa phương
Hoàng Thị Hiền, Xóa đói, giảm nghèo với đồng bào dân tộc ít người
tỉnh Hoà Bình - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Hoàng Lý, Xóa đói, giảm
nghèo ở tỉnh Gia Lai - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học
viện Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Thanh Hùng, “Xóa đói, giảm nghèo ở vùng
Bắc Trung Bộ ”, Tạp chí Cộng sản (số 5) năm 2006; Nguyễn Thị Thanh Vân,
“Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo
6


đảm an sinh xã hội”, Tạp chí Lịch sử Đảng (số 1) năm 2008 ; Võ Văn Dũng,

nghiệm từ sự lãnh đạo XĐ, GN của Đảng bộ huyện Chương Mỹ từ năm 2000
đến năm 2008 để tham khảo, vận dụng trong thời kỳ tiếp theo.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ yêu cầu khách quan XĐ, GN ở huyện Chương Mỹ trong
những năm 2000-2008.
- Phân tích, luận giải chủ trương, sự chỉ đạo XĐ, GN của Đảng bộ
huyện Chương Mỹ từ năm 2000 đến năm 2008.
- Nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ
huyện Chương Mỹ lãnh đạo XĐ, GN trong những năm 2000-2008.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ huyện Chương Mỹ về
XĐ, GN.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
huyện Chương Mỹ về XĐ, GN.
- Về thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2008. Tuy nhiên, đề tài có đề cập
đến trước và sau khoảng thời gian trên để làm rõ các vấn đề nghiên cứu.
- Về không gian: Trên địa bàn huyện Chương Mỹ. Tuy nhiên, đề tài có
đề cập đến các địa phương khác để so sánh nhằm làm nổi bật những vấn đề
nghiên cứu.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận:
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời dựa trên phương pháp luận sử
học Mácxít.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp lịch
8

huyện Thanh Oai; phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức; phía Tây giáp
với huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình). Tổng diện tích tự nhiên của Huyện là
232,94 km2, là Huyện có diện tích lớn thứ 2 của tỉnh Hà Tây. Dân số trên
278.000 người. Toàn Huyện có 32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 30 xã và 2
thị trấn (trước năm 2003 huyện Chương Mỹ có 33 xã, thị trấn). Mật độ dân số
trung bình 1.211 người/km2. Toàn Huyện có trên 60.000 hộ dân; người dân
tộc Kinh chiếm đại đa số, dân tộc Mường có 01 thôn Đồng Ké (thuộc xã Trần
Phú) với 123 hộ dân, 471 nhân khẩu; ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu số
khác ở rải rác tại các xã, thị trấn...
Địa hình: được chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng Đồi gò, vùng “Núi sót” và
vùng đồng bằng với hệ thống sông Bùi - sông Tích phía Tây, sông Đáy bao
bọc phía Đông Huyện đã tạo tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp trồng lúa
nước ở vùng này từ rất sớm. Đồng thời kết hợp với hệ thống đồi núi, sông hồ,
đồng ruộng tạo nên những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, thơ mộng và đầy ắp
những huyền thoại: Quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
thuộc các xã Phụng Châu, Tiên Phương, Ngọc Hoà, Hoàng Văn Thụ, Thủy
Xuân Tiên… dải núi rừng và hồ phía Tây của Huyện vừa là cảnh quan đẹp
vừa là tuyến phòng thủ tự nhiên vững chắc về phía Tây Nam của Tỉnh.

10


Khí hậu: Chương Mỹ nằm trong vùng khí hậu khí hậu cận nhiệt đới ẩm,
mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa
phùn về nửa cuối mùa. Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo
mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C. Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là
mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C.
Về kinh tế:
Cơ cấu kinh tế: nông, lâm, thủy sản, công nghiệp - xây dựng, thương
mại - dịch vụ năm 2005 là 36,4%, 30,3%, 33,3% nhịp độ tăng trưởng giai

[65, tr.6]. Dân cư phân bố không đều. Dân tộc Kinh chiếm hơn 90% dân số.
Giáo dục đào tạo: quy mô giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng,
chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, cơ sở vật chất được tăng cường.
Năm 2005, toàn Huyện có 87/117 trường (74%) trong tổng số các trường mầm
non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông được xây dựng kiên cố và
cao tầng, coi trọng xã hội hóa giáo dục, khuyến học nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học, chăm lo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Đến năm
2005 có 98,8% số giáo viên tiểu học và 99,2% số giáo viên trung học cơ sơ đạt
chuẩn, 69% số giáo viên vượt chuẩn [65]. Số trường đạt chuẩn quốc gia là 14
trường, chiếm 17,7% tổng số trường trong Huyện.
Chăm sóc sức khỏe nhân dân: công tác y tế và chăm sóc sức khỏe nhân
dân được chú trọng. Hệ thống y tế không ngừng được củng cố và phát triển,
cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, nhân lực được tăng cường. Thực hiện đạt và
vượt các chỉ tiêu về các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng; 100% trạm
y tế xã, thị trấn có bác sĩ; 227/229 thôn, xóm (99%) có nhân viên y tế hoạt
động; tỷ lệ sinh là 1,5%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm 2005 còn 18%
(giảm 14% so với năm 2000), 6/32 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia (chiếm 19%) [65].

12


Với những tiềm năng, lợi thế về tự nhiên, kinh tế, xã hội đã tạo điều
kiện cho huyện Chương Mỹ phát huy thế mạnh, khắc phục những khó khăn,
nỗ lực vươn lên để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần thực hiện
thắng lợi công cuộc XĐ, GN.
Truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái: Huyện Chương Mỹ là
đơn vị giàu truyền thống cách mạng, toàn Đảng bộ luôn đoàn kết, thống nhất
khắc phục mọi khó khăn, thử thách hoàn thành tốt mọi kế hoạch đề ra.
* Thực trạng đói nghèo ở huyện Chương Mỹ trước năm 2000
- Một số khái niệm về đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo

- Ưu điểm
Thứ nhất, Đảng bộ Huyện đã nhận thức đúng về tình trạng thực tiễn của
địa phương và sớm có chủ trương XĐ, GN
XĐ, GN là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta
nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc,
nhóm dân cư. Với huyện Chương Mỹ, nhận thức rõ thực trạng đời sống xã hội
còn ở mức khá thấp, kinh tế chưa phát triển, còn có tới 22/33 xã khó khăn nên
chương trình XĐ, GN đã được Huyện xây dựng, triển khai từ năm 1996. Đến
năm 2000 toàn Huyện còn gần 3.000 hộ đói, nghèo chiếm 5% so với tổng số
hộ toàn Huyện (năm 1995 là 12%), trong đó, số hộ đói chiếm 1%, giảm 80%
so với năm 1995 [62, tr.8]. Người dân đã có nhận thức bước đầu về chuyển
dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, về sản xuất hàng hóa. Đồng thời qua thực hiện
chương trình XĐ, GN, sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, điều hành của chính
quyền và vai trò của các tổ chức đoàn thể có sự đổi mới, gắn bó hơn với cơ
sở, với nhân dân.
Thứ hai, triển khai thực hiện các chương trình XĐ, GN đã thu được một
số kết quả khích lệ
Về giải quyết việc làm, trong 5 năm (1996-2000) đã giải quyết cho trên
40% lao động có thêm việc làm. Cho vay giải quyết việc làm 112 dự án với

14


8,44 tỷ đồng thu hút trên 6.000 lao động [62, tr.8]. Những kết quả đó đã góp
phần vào tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội trên địa
bàn của Huyện.
Trong 5 năm (1995-1999) đã thanh toán 100% nhà dột nát của các đối
tượng chính sách, các đối tượng chính sách đã có mức sống bằng hoặc cao
hơn mức sống trung bình ở địa phương. Xây dựng được 97 nhà tình nghĩa;

chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho nhân dân luôn được quan tâm. Hằng năm,
đều tăng cường củng cố, ổn định tổ chức, chăm lo đào tạo đội ngũ cán bộ,
chuyên môn. Phát triển công tác bảo hiểm y tế. Cơ sở vật chất y tế được củng
cố, tăng cường về nhiều mặt, 95% số xã có trang thiết bị y cụ, đủ điều kiện
bảo đảm cho nhiệm vụ phòng và chữa bệnh. Công trình nước sạch và vệ sinh
môi trường được triển khai và được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng.
Công tác kế hoạch hóa gia đình được coi trọng, vì đây là một nhiệm vụ
thường xuyên liên tục đảm bảo cho việc XĐ, GN đạt được những kết quả tốt.
Gia đình đông con, thiếu việc làm, đồng thời tỷ lệ sinh tăng lên là một khó
khăn rất lớn đối với người dân, chính quyền và xã hội. Đến năm 1999 tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên là 1,2% (năm 1995 là 1,85%). Tỷ lệ sinh con thứ ba là
13,8%, giảm gần 14% so với năm 1994 [57, tr.299].
Quan tâm xây dựng gia đình, làng xã văn hóa, gắn xây dựng nếp sống
văn hóa mới với xây dựng nông thôn mới. Nhiều địa phương đã xây dựng
quy ước làng văn hóa (có 75 làng), trên 22.000 gia đình được công nhận là
gia đình văn hóa, chiếm 44,8% số hộ. Có 34 di tích lịch sử, văn hóa được
xếp hạng [62, tr.9].
Nguyên nhân đạt được những thành tựu bước đầu về xóa đói, giảm
nghèo của Huyện là do Đảng có chủ trương, Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo
quyết liệt công tác xóa đói, giảm nghèo... Về chủ quan, Đảng bộ Huyện quán
triệt thực hiện nghiêm túc, đề ra chủ trương, giải pháp phù hợp với điều kiện
cụ thể của địa phương; nhân dân trong Huyện có quyết tâm vươn lên thoát
khỏi nghèo, đói bằng những phong trào cụ thể, thiết thực.
16


- Hạn chế, khuyết điểm
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong nhiệm vụ XĐ, GN của
toàn Huyện trong những năm 1995-1999 cũng còn những mặt chưa đạt yêu cầu.
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế thiếu bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh

(gần 3000 hộ), trong đó số hộ đói chiếm 1%. Trong khi đó, Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ huyện Chương Mỹ lần thứ XIX (1996-2000) xác định là phấn
đấu đến năm 1997 không còn hộ đói [59, tr.45].
Nguyên nhân là do: trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thiếu sâu sát,
buông lỏng quản lý trong kinh tế, quản lý đất đai của một số địa phương; hạn
chế trong nhận thức của tổ chức cơ sở đảng, chính quyền các cấp và người
dân về chương trình XĐ, GN; có nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với hộ
nghèo nên chưa tạo được ý thức chủ động của các cấp và người dân; các hoạt
động truyền thông XĐ, GN còn hạn chế nên người dân chưa có nhận thức
đúng nhu cầu trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo; một bộ phận không
nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ
của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo. Mặt khác, bệnh thành
tích đã khiến một số địa phương khống chế tỷ lệ nghèo thấp hơn so với thực
tế, dẫn đến một số người nghèo chưa tiếp cận được các chính sách, gây ra
những hiểu biết sai lệch về chính sách của Nhà nước.
Đánh giá đúng thực tế tình hình đói, nghèo trên địa bàn Huyện để từ đó
Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Chương Mỹ có những đánh giá đúng đắn về
thực trạng và nguyên nhân dẫn đến đói, nghèo đề ra những chủ trương, giải
pháp hiệu quả để nhiệm vụ XĐ, GN của Huyện đạt được mục tiêu, yêu cầu
của các kỳ Đại hội Đảng bộ của huyện Chương Mỹ đã xác định.
* Những yếu tố mới tác động đến hoạt động lãnh đạo XĐ, GN của
Đảng bộ huyện Chương Mỹ (2000-2008)
Tác động của tình hình trong nước: Xóa đói, giảm nghèo là chủ trương
lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng,

18


địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Thành tựu xóa đói, giảm nghèo

bình quân đầu người còn ở mức thấp hơn so với bình quân chung của cả nước
và bình quân các tỉnh trong vùng kinh tế Bắc Bộ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra còn chậm. Hiệu quả hoạt
động của các hợp tác xã nông nghiệp còn thấp, một số hợp tác xã yếu kém
chậm được khắc phục. Quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai còn nhiều mặt yếu
kém, khuyết điểm. Đầu tư cho phát triển ở một số lĩnh vực hiệu quả chưa cao.
Đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải. Huy động các nguồn vốn cho đầu tư
phát triển các lĩnh vực còn hạn chế. Kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông chưa
đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế; chưa tạo
được nền tảng vững chắc về kinh tế để thúc đẩy nhanh quá trình phát triển ở
giai đoạn tiếp theo. Thực hiện chủ trương xã hội hóa một số lĩnh vực về văn
hóa, giáo dục – đào tạo, y tế, thể dục – thể thao… còn lúng túng và kém hiệu
quả. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tăng.
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Chương Mỹ về xóa đói, giảm
nghèo (2000-2008)
* Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Hà
Tây về XĐ, GN
- Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về XĐ, GN
Đảng ta luôn luôn coi trọng nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo trong suốt
quá trình lãnh đạo của mình. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa
VII) Đảng ta xác định rõ: trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng
dẫn cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, hình thành quỹ xóa đói giảm
nghèo ở các địa phương trên cơ sở dân giúp dân, Nhà nước giúp dân và tranh
thủ các nguồn tài trợ quốc tế, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xóa đói, giảm
nghèo. Hội nghị đã đưa ra tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ kinh tế xã
hội nông thôn. Đối mặt với tình trạng đói nghèo, lạc hậu nhất là ở vùng nông
thôn, do đó phải khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp, đi đôi với xóa
đói giảm nghèo, phấn đấu để mọi gia đình đều khá giả, đủ ăn, thu hẹp diện
20




Nhằm đạt được mục tiêu: “Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm cho
khoảng 7,5 triệu lao động, bình quân 1,5 triệu lao động/năm; nâng tỷ lệ lao
động qua đào tạo lên 30% vào năm 2005. Cơ bản xoá hộ đói, giảm tỷ lệ hộ
nghèo xuống còn 10% vào năm 2005” [36, tr. 265].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng đã đánh giá về
những kết quả đạt được về XĐ, GN đồng thời chủ trương trong giai đoạn
2006-2010 “Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức thực hiện xóa đói,
giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu
quả sự giúp đỡ của quốc tế... nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo,
vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống” [39, tr.217].
“Phấn đấu tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm xuống còn 10-11% vào năm
2010” [39, tr.189].
Đại hội X đã xác định trong phương hướng, mục tiêu XĐ, GN là bảo
đảm cho người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải
thiện mức sống một cách bền vững, đây là một điểm nhấn so với Đại hội IX.
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 về Chương
trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo và một
loạt các chính sách khác nhằm tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật
chất tinh thần của người dân của huyện nghèo. Quan điểm chỉ đạo của Chính
phủ là xóa đói giảm nghèo là sự nghiệp của toàn dân, kết quả thành công phụ
thuộc trước hết vào nỗ lực vươn lên của người nghèo. Nhà nước giành nguồn
lực ưu tiên đầu tư tạo điều kiện để các huyện nghèo phát triển nhanh hơn, cải
thiện và nâng cao nhanh đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo.
Những giải pháp XĐ,GN: Để thực hiện phương hướng, mục tiêu, nhiệm
vụ xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn (2000-2010), Đảng đã đề ra
một số giải pháp chủ yếu sau:



theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, Đại hội đã đề ra những vấn
đề nổi bật như sau: đói nghèo đi liền với lạc hậu, chậm phát triển và là trở
ngại lớn đối với sự phát triển toàn diện của Tỉnh. Xóa đói, giảm nghèo không
phải là vấn đề kinh tế thuần túy mà là vấn đề kinh tế xã hội, do đó phải thống
nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
Xuất phát từ thực tế của tỉnh Hà Tây, xóa đói, giảm nghèo về kinh tế là
điều kiện tiên quyết để xóa đói, giảm nghèo về văn hóa, xã hội. Muốn xóa
đói, giảm nghèo có kết quả thiết thực, tích cực và vững chắc cần thực hiện tốt
phương châm chủ động, tích cực vượt lên giải quyết tại chỗ, cộng đồng phải
có trách nhiệm và kết hợp với sự hỗ trợ phát triển. Tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng và chỉ đạo tiến hành, quản lý thống nhất các cấp chính quyền trên
phạm vi cả tỉnh bằng chương trình quốc gia về xóa đói, giảm nghèo.
Trong Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà
Tây lần thứ XII; phương hướng, nhiệm vụ 5 năm (2000-2005) đã xác định rõ:
Mục tiêu, phương hướng về xóa đói, giảm nghèo: Tốc độ tăng trưởng
(GDP) hàng năm 8%, bình quân đầu người đạt 450 USD; tổng sản lượng
lương thực 1 triệu tấn trở lên, phấn đấu 1ha canh tác thu trên 28 triệu
đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm giảm 1%, không còn hộ đói kinh
niên; 25% lao động qua đào tạo nghề; tỷ lệ sinh hằng năm giảm 0,6%, tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên đến năm 2005 là 1,1%. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
còn 25%. 100% các trạm y tế xã có bác sĩ; giữ vững phổ cập tiểu học và hoàn
thành phổ cập trung học cơ sở, nâng cao chất lượng dạy và học [84, tr.38].
Về phương hướng: Trong quá trình tổ chức thực hiện phải lựa chọn ưu
tiêu đầu tư cho các huyện khó khăn, những vùng điểm. Tiếp tục thực hiện tốt
hơn chính sách kinh tế - xã hội đối với các vùng, các địa phương còn gặp
nhiều khó khăn. Từ đó khai thác phát huy tiềm năng, nguồn lực tại chỗ, tự lực
tại cộng đồng là chính, cộng với sự hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn lực

24


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status