Đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo thực hiện chính sách chắm sóc sức khỏe nhân dân tu nam 1997 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------***-------

NGUYỄN THỊ GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC
KHỎE NHÂN DÂN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Hà Nội 11/2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------***-------

NGUYỄN THỊ GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC
KHỎE NHÂN DÂN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc

2.1. Một số quan điểm mới của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ .......................................................................................................... 51
2.1.1. Một số quan điểm mới của Đảng ....................................................... 51
2.1.2. Quá trình tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ ................. 54


2.2. Kết quả đạt đƣợc. ................................................................................... 70
2.2.1. Phát triển và hoàn thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân. ........ 72
2.2.2. Đổi mới chính sách tài chính y tế. ...................................................... 77
2.2.3. Phát triển nguồn nhân lực y tế. .......................................................... 78
2.2.4. Tăng cƣờng sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp đối với
công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. ..................... 80
2.2.5. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nƣớc về y tế. .................................. 81
2.2.6. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân
dân................................................................................................................... 82
2.2.7. Nâng cao hiệu quả thông tin, giáo dục, truyền thông về bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe nhân dân. ....................................................................... 82
CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ...................... 85
3.1. Đánh giá, nhận xét.................................................................................. 86
3.1.1. Thành tựu và nguyên nhân ................................................................ 86
* Thành tựu .................................................................................................... 86
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân. ................................................................... 94
3.2. Một số kinh nghiệm................................................................................ 96
3.2.1. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. ....................................................... 96
3.2.2. Nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng để chỉ đạo thực hiện
phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn của địa phương. ..................... 97
3.2.3. Chú trọng thực hiện đồng bộ các chính sách, giải pháp, xã hội hóa
các loại hình chăm sóc sức khỏe nhân dân. ................................................. 98
3.2.4. Coi trọng xây dựngvà phát triển hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở, đầu

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng đã
khẳng định: “Thực hiện đồng bộ các chính sách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
nhân dân nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát
triển giống nòi. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt là ở cơ sở.
Xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu, đẩy mạnh sản xuất dược phẩm,


bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đến mọi địa bàn dân cư. Thực hiện công
bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới cơ chế chính sách viện phí, có
chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế
toàn dân. Nhà nước ban hành chính sách quốc gia về y học cổ truyền, kết hợp
y học cổ truyền từ khâu đào tạo đến khâu khám bệnh và điều trị.” [16; tr.107].
Hơn 20 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên mọi
mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Trong những thành tựu đó, có sự đóng góp quan
trọng của ngành y tế trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Bước vào thế kỷ XXI, cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, Đảng và Chính phủ cũng đã tiếp tục chỉ đạo chặt chẽ công tác
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010 đã vạch ra phương hướng phát triển và
các giải pháp tổng thể phát triển công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân
dân trong tình hình mới. Đặc biệt ngày 22/01/2002, Ban chấp hành Trung
ương Đảng đã vạch ra chỉ thị 06 – CT/TW về củng cố và hoàn thiện mạng
lưới y tế cơ sở nhằm tăng cường hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe ban
đầu, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế.
Thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đối với
một tỉnh trung du miền núi nghèo, người dân tộc thiểu số đông là một thách
thức đối với Ngành y tế Phú Thọ.
Trong hơn 10 năm qua, xác định rõ sức khỏe là vốn quý, đầu tư cho sức
khỏe là đầu tư cho phát triển, góp phần cùng địa phương xóa đói giảm nghèo,

thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân từ năm 1997 đến năm
2010” làm luận văn thạc sỹ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam của mình.


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân là một yếu tố vô cùng quan
trọng đối với sự phát triển của đất nước, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để
phát triển bền vững, ổn định, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Do vậy,
việc nghiên cứu về chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân và các biện pháp
thực hiện chính sách này đã được nhiều tập thể, cá nhân, các nhà khoa học
quan tâm.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác chăm sóc sức
khỏe nhân dân. Ngay từ năm 1941, dưới sự lãnh đạo của Người, chương trình
Việt Minh ghi: “Cần khuyến khích nền thể dục quốc dân, làm cho giống nòi
ngày càng thêm mạnh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của sức khỏe và vị trí của
công tác chăm sóc sức khỏe: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu
ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe". "Dân cường thì
quốc thịnh". "Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần
càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng
lợi, kiến quốc càng mau thành công". Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người
là vị trí trung tâm của mọi hoạt động và quyền được sống là quyền cao nhất
của con người. Khi được sống thì sức khỏe là yếu tố quan trọng nhất, nếu
không có sức khỏe thì chẳng làm được gì. Chính vì vậy mà Người dạy chúng
ta: "Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần
có sức khỏe mới làm thành công". Ðó chính là tư tưởng nhân văn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về vai trò của sức khỏe và vị trí của công tác chăm sóc sức
khỏe. Ngay từ khi cách mạng còn nhiều khó khăn, gian khổ, đời sống của
nhân dân còn gian nan, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng vị trí

sâu vào việc nghiên cứu thực trạng về bệnh tật, tiếp cận và sử dụng các dịch
vụ y tế của người cao tuổi; việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi của gia
đình; việc triển khai thực hiện các chính sách chăm sóc sức khỏe cho người


cao tuổi để cung cấp bằng chứng khoa học cho việc xây dựng chính sách và
chiến lược nhằm “ nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi”.
Đề tài nghiên cứu khoa học về “Nhận thức, thái độ và thực hiện của
đảng viên là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và tổ chức đảng đối với Nghị quyết về
chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình” do Tiến sỹ Đào Trọng Cảng và
cộng sự tiến hành năm 1994 - 1995; “Thực trạng nhận thức và chỉ đạo của
đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết TW4 của
Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) về chính sách Dân số - Kế hoạch hóa
gia đình” do Giáo sư Chung Á và cộng sự tiến hành năm 1993 - 1995. Các
nghiên cứu này đã khẳng định vai trò quan trọng của các cấp uỷ Đảng và cán
bộ lãnh đạo quản lý trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác Dân số - Kế
hoạch hóa gia đình.
Năm 1999, nghiên cứu của Hoàng Xuân Trường, TS. Nguyễn Phương
Hồng đã tiến hành “Khảo sát, đánh giá vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng và
cán bộ chủ chốt các cấp trong việc thực hiện Nghị quyết TW4 (Khoá VII) về
chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình ở nước ta”. Nghiên cứu này đã chỉ
ra thực trạng lãnh đạo của các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể xã
hội ở tỉnh, huyện và cơ sở trong việc thực hiện Nghị quyết TW4 (Khoá VII)
về chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình. Qua đó đề xuất và khuyến
nghị, các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của tổ chức đảng và cán bộ chủ
chốt với công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình.
Cuốn sách “Chăm sóc sức khỏe”, do Bác sỹ Lê Bạch Mai chủ biên,
Viện thông tin thư viện y học trung ương, VDC Media. 2001. Cuốn sách đã
tiếp cận vấn đề chăm sóc sức khỏe trên phương diện y học, đi sâu nghiên cứu
về cách chăm sóc sức khỏe và chế độ dinh dưỡng hợp lý đối với từng đối

- Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong quá
trình thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân ở tỉnh từ năm 1997
đến năm 2010.


- Rút ra một số kinh nghiệm bước đầu nhằm góp phần tích cực trong
việc hoạch định và triển khai thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe nhân
dân ở địa phương trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối
với việc thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân từ năm 1997 đến
năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung: Luận văn tìm hiểu, nghiên cứu việc hoạch định đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về chăm sóc
sức khỏe nhân dân; Quá trình chỉ đạo,tổ chức thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách… về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe
nhân dân ở tỉnh Phú Thọ.
* Về thời gian: Từ năm 1997 đến năm 2010.
* Về không gian: Tỉnh Phú Thọ.
5. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn đưa ra một số giải pháp có tính khả thi
và những kinh nghiệm cơ bản đối với việc thực hiện chính sách chăm sóc sức
khỏe nhân dân ở tỉnh Phú Thọ
Từ những nghiên cứu cụ thể về tình hình thực hiện chính sách chăm
sóc sức khỏe nhân dân ở địa phương, luận văn góp phần nhỏ bé của mình cho
Đảng ta làm cơ sở để tiếp tục bổ sung, hoạch định, xây dựng và phát triển sự
nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đối với vùng trung
du, miền núi nói riêng và cả nước nói chung.

kể tạo ra những nguy cơ đối với sức khỏe. Đó là sự di biến động dân cư khó
kiểm soát do các hoạt động kinh tế và du lịch, đặc biệt ở khu vực giáp ranh,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc lây truyền các bệnh dịch trong đó có những
bệnh nguy hiểm (như SARS, HIV/AIDS, cúm gia cầm H5N1) và phát triển
một số tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm. Việc kiểm soát dịch bệnh cũng


gặp không ít khó khăn do đường giáp ranh dài và đi qua nhiều khu vực có địa
hình hiểm trở.
Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam
(Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc),
quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La cùng với các tỉnh bạn trong cả
nước và quốc tế.
Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính gồm Thành phố Việt Trì, Thị xã Phú
Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao,
Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn và Yên Lập. Thành phố Việt Trì là trung
tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh; 274 đơn vị hành chính cấp xã gồm
14 phường, 10 thị trấn và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao
và 50 xã đặc biệt khó khăn nên việc tiếp cận các cơ sở y tế vẫn là điều khó
khăn đối với người dân một số xã miền núi. Ở nhiều nơi địa bàn rộng, đường
độc đạo khó đi lại nên cũng hạn chế cho việc tiếp cận các cơ sở y tế.
b. Khí hậu
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông
lạnh. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong năm
khoảng 1.600 đến 1.800 mm. Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn,
khoảng 85 – 87%. Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát
triển cây trồng, vật nuôi đa dạng. Tuy nhiên đây cũng là điều kiện thuận lợi
cho một số bệnh phát triển, đặc biệt là các bệnh đường hô hấp như viêm họng,
viêm amidan, viêm phế quản, viêm phổi ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người
già, trẻ em nói riêng và nhân dân nói chung. Bên cạnh đó, sự chênh lệch đáng

hội còn thấp, tốc độ phát triển kinh tế chưa cao, cơ sở vật chất kỹ thuật còn
nghèo nàn, kết cấu hạ tầng thấp kém, nguồn tài chính còn hạn hẹp và mất cân
đối, đầu tư cho phát triển hạn chế, chưa có tích lũy nội bộ từ nền kinh tế.
Công nghiệp tuy đã có một số cơ sở nhưng công nghệ còn lạc hậu, cũ kỹ,
nhiều cơ sở thua lỗ, ô nhiễm môi trường nặng nề. Tập quán canh tác còn lạc


hậu: diện tích, năng suất và sản lượng nông, lâm nghiệp thấp và chưa ổn định.
Lợi thế về thu hút đầu tư nước ngoài so với các tỉnh trong khu vực còn thua
kém. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là
các vùng sâu, vùng xa… Đó là những trở ngại ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình xây dựng và phát triển của tỉnh nói chung, đến công tác bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân nói riêng.
Kể từ sau khi tái lập tỉnh, Phú Thọ có tốc độ tăng trưởng kinh tế năm
sau cao hơn năm trước, bình quân đạt trên 10% năm. Cơ cấu kinh tế có sự
chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm
tỷ trọng nông nghiệp. Năm 1997, nông lâm nghiệp 33% - công nghiệp, xây
dựng 33% - dịch vụ 34%; năm 2011, nông, lâm nghiệp, thủy sản 25,1% công nghiệp, xây dựng 39,7%, dịch vụ 35,2%. Thu nhập bình quân đầu người
năm 1997 là 1.792.600 đồng, đến năm 2011 đạt 14.500.000 đồng.
Kết cấu hạ tầng được đầu tư nâng cấp nhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật
của nền kinh tế được tăng cường. Đến năm 2011, đã nhựa hóa 90% tỉnh lộ,
cứng hóa 70% huyện lộ và 30% đường giao thông nông thôn; đưa vào sử
dụng cầu Hạ Hòa, cầu Ngọc Tháp; tỉnh cũng đang tích cực cùng các bộ,
ngành đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án: Đường cao tốc Nội Bài – Lào
Cai, Đường Hồ Chí Minh, các cầu qua sông Hồng, sông Lô, sông Đà; nâng
cấp quốc lộ 2 (đoạn Vĩnh Yên – Việt Trì); đường sắt Hà Nội – Lào Cai,
đường sông Việt Trì – Tuyên Quang; diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu
chủ động đạt 83,1%, cơ bản hoàn thành đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp Thụy
Vân giai đoạn II, Khu liên hợp thể thao tỉnh, Bảo tàng Hùng Vương; một số
hạng mục chính của Khu di tích lịch sử Đền Hùng, Đại học Hùng Vương; tỷ

hóa mới, phát động các phong trào để người dân tự bảo vệ và chăm sóc sức


khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng là một nhiệm vụ khó khăn mà
ngành y tế Phú Thọ phải hoàn thành.
b. Lao động và việc làm.
Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh tăng từ 60% năm 2010 lên 65%
năm 2011. Tỷ lệ lao động thành thị thất nghiệp là 3% (năm 2010).
Phú Thọ đã quan tâm và thực hiện tốt các chính sách xã hội, đời sống
của các tầng lớp nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người đã
tăng từ 5,7 triệu đồng/người năm 2006 lên 6,8 triệu đồng/người năm 2007
(tăng 19,3%) và 8,3 triệu đồng/người năm 2008 (tăng 20,5%). Tuy nhiên, tỷ
lệ hộ nghèo vẫn cao 22% năm 2007 so với cả nước là 14,8%. Số đối tượng
thuộc diện bảo trợ xã hội được hưởng chế độ ưu đãi trong chăm sóc sức khỏe
của tỉnh chiếm tỷ lệ đáng kể.
Tỷ lệ lao động thiếu việc làm còn cao, thu nhập của người lao động,
nhất là lao động nông nghiệp thấp là một trong những nguyên nhân hạn chế
khả năng sử dụng các dịch vụ y tế, đặc biệt là dịch vụ chất lượng cao.
c. Đời sống
Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao cùng với sự
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ năm 2006, tỷ lệ xã có điện, có đường ô
tô về tận Ủy ban Nhân dân, có trường tiểu học và có trạm y tế đã đạt 100%.
Đến năm 2008, tỷ lệ các xã có đài truyền thanh cũng đạt 100%; 90% số trạm
y tế được kiên cố hóa và 100% số trạm y tế có bác sỹ phục vụ (một con số mà
không phải tỉnh nào ở vùng đồng bằng cũng có được); số máy điện thoại/100
dân đạt trên 35 máy (tăng 34,6% so với năm 2006); tỷ lệ khu dân cư có nhà
văn hóa đạt 62%; tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 62%; tỷ lệ người dân được dùng
nước sạch của tỉnh tăng lên 72,4% (trong đó khu vực nông thôn đạt 68%) và
đặc biệt là đã có 17,4% Điểm bưu điện văn hóa xã có kết nối Internet (tăng
15,4% so với năm 2006).



.v.v.. chưa được quan tâm đúng mức. Y tế cơ sở nhiều nơi chưa ổn định, đội
ngũ cán bộ thiếu đồng bộ, chưa được đào tạo có hệ thống. Hệ thống khám,
chữa bệnh xuống cấp nghiêm trọng cả về cơ sở vật chất, tổ chức quản lý điều
trị và tinh thần phục vụ. Việc chữa bệnh bằng y học dân tộc còn coi nhẹ, công
tác đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ đầu đàn, cán bộ chuyên sâu chưa chú ý
đúng mức. Công tác quản lý Nhà nước có nhiều sơ hở, số tư nhân khám chữa
bệnh phát triển nhanh nhưng Nhà nước quản lý không chặt chẽ. Công tác
quản lý kinh doanh thuốc còn lỏng lẻo nên còn để xảy ra những trường hợp vi
phạm các quy định của Nhà nước, dịch vụ tư nhân bán thuốc lộn xộn.
Những tồn tại trên đây làm tổn hại đến đạo lý, uy tín của ngành y tế và
đạo đức của người thầy thuốc dưới chế độ ta, gây bất bình trong nhân dân.
Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, yếu kém trên là:
Ngành Y tế chậm đổi mới; công tác quản lý còn nhiều yếu kém, ít quan
tâm đến các giải pháp xã hội như giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe, tuyên
truyền vệ sinh phòng bệnh, chưa động viên tốt tiềm năng của cộng đồng, của
nền y học cổ truyền dân tộc; chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa các
hiện tượng tiêu cực.
Các cấp bộ Đảng và chính quyền còn xem nhẹ việc lãnh đạo, chỉ đạo
chăm sóc sức khỏe. Các đoàn thể và các tổ chức xã hội chưa chú trọng tổ
chức và vận động nhân dân tham gia các phong trào vệ sinh phòng bệnh, rèn
luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe.
Đầu tư của Nhà nước còn hạn chế, không kịp thời có chính sách hỗ trợ
cho y tế cơ sở ở nông thôn khi thực hiện cơ chế khoán mới trong nông nghiệp.
Tâm lý ỷ lại, hậu quả của nhiều năm thực hiện các chính sách bao cấp còn khá
phổ biến.
Kinh tế phát triển chậm, dân số tăng nhanh, hậu quả của chiến tranh và
thiên tai nặng nề là những khó khăn đối với sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe nhân dân”. (trích Đề án 05 của Tỉnh ủy Vĩnh Phú Tổ chức thực hiện Nghị


Duy trì tỷ lệ tiêm chủng mở rộng phòng 6 bệnh ở trẻ em dưới 6 tuổi đạt
95%, đến năm 1995 không còn bệnh nhiễm khuẩn trong 6 bệnh trẻ em ở độ
tuổi tiêm chủng. Thực hiện tiêm chủng cho 80% phụ nữ có thai và phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ, riêng huyện Mê Linh là huyện điểm chỉ đạo của tỉnh,
đảm bảo phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được tiêm chủng
100%. Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi từ 51% hiện nay xuống 30% và tỷ lệ trẻ
sơ sinh nặng dưới 2,5 kg từ 10% xuống còn 8% vào năm 2000. Tổ chức thực
hiện có hiệu quả các chương trình Vitamin A, (bổ sung Vitamin A chống khô
mắt ở trẻ em), chương trình PAM (chống suy dinh dưỡng trẻ em), chương
trình ARI (chương trình chống nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ em).
Giáo dục cho mọi người hiểu rõ bệnh Hoa liễu và SIDA, khống chế và
thanh toán bệnh giang mai bẩm sinh và lậu mắt ở trẻ em vào năm 1995. Các
ngành y tế, công an, lao động thương binh xã hội, các đoàn thể và tổ chức xã
hội, nhất là Đoàn Thanh niên và Hội Phụ nữ phối hợp giải quyết có hiệu quả
các tệ nạn xã hội (mại dâm, ma túy) là nguyên nhân gây lan tràn bệnh Hoa
liễu và SIDA. Năm 1993, triển khai xét nghiệm máu ở bệnh viện tỉnh, nâng
cấp trạm da liễu thành trung tâm da liễu phòng chống SIDA và từng bước
hình thành trung tâm xét nghiệm virut SIDA; chỉ đạo và hướng dẫn các cơ sở
y tế chữa các bệnh do nạn mại dâm, ma túy gây ra; quản lý chặt chẽ các loại
thuốc tân dược có tác dụng gây nghiện ma túy. Thực hiện tốt chương trình dự
án chống phong do quốc tế tài trợ, đến năm 1995 thanh toán bệnh phong ở các
vùng trọng điểm.
Củng cố mạng lưới chống lao để phát hiện và quản lý bệnh nhân lao,
phấn đấu giảm tỷ lệ người mắc bệnh lao xuống dưới 1,5% dân số.
Phát hiện và quản lý người mắc bệnh tâm thần, đảm bảo đủ thuốc
chuyên khoa tâm thần, quản lý được 50-60% bệnh nhân tâm thần phân liệt và
động kinh, thực hiện chương trình phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm



Các cơ sở khám chữa bệnh nhanh chóng lập lại kỷ cương khám chữa
bệnh và trật tự vệ sinh, trở thành các đơn vị gương mẫu về vệ sinh sạch đẹp,
đồng thời tuyên truyền, giáo dục, chỉ đạo phong trào vệ sinh phòng bệnh
trong nhân dân, thực hiện tốt các chương trình y tế và chăm sóc sức khỏe ban
đầu, tổ chức thu viện phí vào một mối, quản lý chặt chẽ việc thu chi.
Tiếp tục triển khai bảo hiểm y tế bắt buộc trên phạm vi toàn tỉnh trong
năm 1993; làm thí điểm bảo hiểm y tế tự nguyện và nhân rộng ra trong năm
1994; phấn đấu có 50% dân số tham gia mua bảo hiểm y tế tự nguyện vào
năm 1995.
c. Chấn chỉnh công tác sản xuất, kinh doanh dược và trang thiết bị y tế.
Nhanh chóng chấn chỉnh lại hệ thống bán thuốc, không để hiện tượng bán
thuốc chồng chéo và người không có nghiệp vụ về bán thuốc. Thực hiện đúng
chế độ dược chính và chống thuốc giả, thuốc kém phẩm chất lưu hành. Năm
1993, thực hiện mỗi xã có 1 quầy bán thuốc, khuyến khích tư nhân đầu tư vốn
làm đại lý nhưng phải có giấy phép hành nghề và phải chịu sự kiểm tra chặt
chẽ. Đổi mới công nghệ sản xuất dược để sản phẩm đạt chất lượng cao và phù
hợp với thị hiếu người sử dụng.
d. Phát triển mạng lưới y học dân tộc, huy động các lương y đăng ký
hành nghề khám chữa bệnh; đưa cán bộ tây y đi học bổ túc đông y; bổ sung
kinh phí, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo cán bộ chuyên sâu cho
bệnh viện y học dân tộc. Các bệnh viện đầu tư thỏa đáng cho công tác đào tạo
đông y và việc khai thác, kế thừa kinh nghiệm, chữa bệnh của y học cổ
truyền. Khuyến khích việc nuôi trồng dược liệu trong toàn dân, nhất là các cơ
sở y tế. Đầu tư hợp lý cho các vùng tròng dược liệu, sớm lựa chọn nhân nhanh
các cây dược liệu mũi nhọn để sản xuất bào chế thuốc.
đ. Đổi mới phương thức hoạt động của ngành y tế nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả quản lý Nhà nước ở tất cả các cấp. Sở Y tế xây dựng quy
chế cho các cơ sở và cán bộ trong ngành yêu cầu các đơn vị và cá nhân thực



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status