ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
---------------------------
TỐNG THỊ NGA
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 – 1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2011
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
4
Chƣơng 1:
ỈNH PHÚ THỌ
ỰC HIỆN
22
22
,
trên đị
.
30
ệm vụ hậu phương cách mạng
Chƣơng 2:
ỈNH PHÚ THỌ
ỰC HIỆN
NHIỆM VỤ
50
1954
ững vấn đề đặ
2.1 Bối cảnh của cuộc kháng chiế
50
.
ạn chế
79
thực hiện nhiệm vụ
.
80
3.2 K
3.2.1 Hậu phương là nhân tố thường xuyên, quyết định thắng
81
lợi của chiến tranh, vì vậy dù ở thời chiến hay thời bình đều phải
nhận thức đúng đắn quan điểm đó.
3.2.2 Để xây dựng hậu phương vững mạnh, phải đảm bảo và
83
phát huy mạnh mẽ, đầy đủ sự lãnh đạo của Đảng bộ về mọi mặt.
3.2.3 Căn cứ vào đặc điểm dân tộc, xã hội và chính trị của
85
tỉnh, muốn xây dựng hậu phương kháng chiến, Phú Thọ phải giữ
vững ổn định chính trị, coi trọng bồi dưỡng sức dân, mở rộng khối
: Quân đội nhân dân
UBHCKC
: Ủy ban hành chính kháng chiến
UBHC
: Ủy ban hành chính
UBKC
: Ủy ban kháng chiến
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi bàn về chiến tranh cách mạng, Lênin có một luận điểm nổi tiếng:
“Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự phải có một hậu phương được
tổ chức vững chắc, một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với
sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt nếu họ không
được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ” [73, tr. 497]. Trong
các cuộc cách mạng, để giành được thắng lợi nhất thiết phải có hậu phương,
bởi vì hậu phương là nơi có thể triển khai xây dựng và dự trữ tiềm lực của
chiến tranh cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật; hậu
phương là địa bàn đứng chân, là cơ sở lãnh đạo, tổ chức của tiền tuyến; là nơi
chi viện sức người, sức của và động viên chính trị - tinh thần cho tiền tuyến
khí hiện đại, Đảng ta đã chủ động xây dựng đường lối kháng chiến, xây dựng
căn cứ địa hậu phương kháng chiến phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Xây
dựng hậu phương ở cả vùng rừng núi lẫn đồng bằng, thậm chí ở ngay trong
vùng tạm bị địch chiếm.
, vi
,
.
,
vũ trang
,
.D
phương,
đấu
cách mạng
5
trong hoạt động
.
, đã
1945 – 1954
, chưa
và bài học của Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị,
Nxb CTQG, HN 2000, đã tổng kết vấn đề xây dựng căn cứ địa, hậu phương
dưới góc độ những bài học kinh nghiệm.
Các công trình nghiên cứu trên khẳng định Đảng sớm nhận thức được
tầm quan trọng của hậu phương, do đó đã hết sức coi trọng xây dựng hậu
phương trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội. Đảng đã
giải quyết thành công vấn đề hậu phương và phát huy sức mạnh của hậu
phương, xây dựng hậu phương thành địa bàn chiến lược cung cấp tối đa sức
người, sức của cho kháng chiến, đánh bại hai tên đế quốc có tiềm lực kinh tế,
quân sự và khoa học kỹ thuật mạnh hơn ta nhiều lần. Do đó, đây là nguồn tài
liệu quan trọng để tác giả luận văn tham khảo.
Liên quan đến đề tài còn có các công trình, các bài báo, bài đăng trên
tạp chí như: Hậu phương Thanh – Nghệ - Tĩnh trong kháng chiến chống
Pháp (1946 – 1954) của Ngô Đăng Tri, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001; Đảng
lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 – 1954) của Vũ
Quang Hiển, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001; Căn cứ địa U Minh (1945 – 1975)
của Trần Ngọc Long, Nxb QĐND, Hà Nội, 2007;
ta
, 1970;
, 1974; Về xây dựng căn cứ địa – Hậu phương
K
trong kháng chiến chống Pháp của Ngô Vi Thiện, đăng trên T
18 (6/1987);
, đăng trên T
4/1995;
đăng trên T
thống
thực hiện nhiệm vụ
tr
(1945 – 1954). Mặc
dù vậy, kết quả nghiên cứu các ấn phẩm của các tác giả nêu trên là nguồn
8
tham khảo quý, nguồn tư liệu phong phú, tin cậy để tác giả kế thừa trong quá
trình thực hiện đề tài
.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
việc
.
Nêu lên được kết quả cơ bản của việc xây dựng và bảo vệ hậu phương
Phú Thọ thời kỳ 1945 – 1954, qua đó làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Đảng
bộ Phú Thọ. Từ đó rút ra những nhậ
ời kỳ cách mạng tiế
.
3.2 Nhiệm vụ
Tập hợp các nguồn tài liệu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, Ủy ban nhân
1945 - 1954
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu như: Phương pháp lịch sử và logíc. Ngoài ra còn kết hợp với các
phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… các phương
pháp trên được sử dụng phù hợp với từng nội dung của luận văn.
6. Đóng góp khoa học của đề tài
của tỉnh Phú Thọ, qua đó làm rõ vai trò
lãnh đạo của Đảng trong xây dựng hậu phương và vai trò lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ hậu phương trên địa bàn tỉnh.
lịch sử
và bảo vệ
, góp phần bổ sung nguồn tư liệu về kháng chiến chống thực dân
Pháp ở Phú Thọ.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1:
phương
1945
thực hiện nhiệm vụ
1950.
Chương 2:
Chiến tranh là thử thách lớn đối với mỗi quốc gia, dân tộc trên tất cả
các mặt của đời sống xã hội. Thử thách đó càng lớn hơn nhiều với nước ta
vào cuối nǎm 1946. Nền độc lập mới giành được 16 tháng, chính quyền chưa
được củng cố vững mạnh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, nên các mặt đời
sống xã hội chưa thật sự ổn định, dân tộc ta đã phải đương đầu với cuộc chiến
tranh trên quy mô toàn quốc.
mở rộng chiến tranh
,
- -
. Ngày 17 và 18-12, tàn sát đồng bào ta
1946, tại Hà Nội, quân Pháp
các phố Yên Ninh, Hàng Bún
an ninh
. Ngày 18-12-1946,
đại diện Chính phủ Pháp cắt đứt những liên hệ với đại diện Chính phủ ta.
Hành động của thực dân Pháp đã đặt Đảng và Chính phủ và nhân dân ta trước
một tình thế không thể nhân nhượng, vì tiếp tục nhân nhượng sẽ dẫn đến họa
mất nước, nhân dân sẽ trở lại cuộc đời nô lệ.
, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng tại làng
Vạn Phúc (Hà Đông), do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì.
11
Chủ tịch
lượng
Đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến, Người nói:
“Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ… Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người
trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải
đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có
gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng
phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. [49, tr. 480]
Đường lối kháng chiến của Đảng được xác định trong Chỉ thị “Toàn
dân kháng chiến” của Trung ương Đảng (12/12/1946), “Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946) và được giải thích cụ
thể trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Tổng bí
thư Trường Chinh. Đường lối kháng chiến của Đảng là thực hiện cuộc chiến
tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Cụ
thể là:
Mục đích kháng chiến: “đánh phản động thực dân Pháp xâm lược;
giành thống nhất và độc lập”. Nhiệm vụ và tính chất của cuộc kháng chiến là
“kế tục sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, nhằm hoàn thành nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, mở rộng và củng cố chế độ cộng hòa dân chủ Việt Nam phát
triển trên nền tảng dân chủ mới, nên có tính chất dân tộc giải phóng và dân
13
chủ mới. Kháng chiến của ta là tự vệ, chính nghĩa và có “thiên thời, địa lợi,
nhân hòa”.
Phương châm tiến hành kháng chiến là toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa
vào sức mình là chính.
Kháng chiến toàn dân là “tất cả già trẻ, trai gái, không phân biệt đảng
nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đi tới
thắng lợi.
Để tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng hậu phương, coi đó là
một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh
giải phóng dân tộc.
1.1.2 Chủ trương của Đảng về xây dựng hậu phương trong kháng
chiến
Hậu phương hiểu theo nghĩa hẹp: “Là nơi đối xứng với tiền tuyến, có
sự phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian, là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự,
phía sau chiến tuyến, có dân cư và tiềm lực mọi mặt, nhất là về nhân lực, vật
lực. Là nơi xây dựng và huy động sức người, sức của, đáp ứng nhu cầu của
lực lượng vũ trang ngoài tiền tuyến”. [65, tr. 231]
Theo nghĩa rộng, đây là chỗ dựa để tiến hành chiến tranh, nơi cung cấp
sức người, sức của cho chiến tranh, không phân biệt rạch ròi với tiền tuyến về
mặt không gian.
Như vậy, có thể thấy ngay rằng, trong các cuộc chiến tranh, hậu
phương là một trong những điều kiện cơ bản quyết định thắng bại, được thua
của hai bên tham chiến. Bởi vì, chiến tranh là cuộc đọ sức toàn diện giữa hai
bên tham chiến. Muốn thắng lợi phải có tiềm lực chiến tranh, bao gồm tiềm
lực kinh tế (trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ kinh tế), tiềm
lực chính trị - tinh thần (chế độ chính trị - xã hội, hệ tư tưởng và tinh thần của
nhân dân), tiềm lực quân sự (sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang).
Những tiềm lực đó phải được tạo ra và dự trữ tại hậu phương. Chiến tranh
15
phải dựa vào hậu phương hùng mạnh. Quân đội nào tách khỏi hậu phương thì
không thể giành thắng lợi trong chiến tranh, không thể tồn tại được.
Kháng chiến càng lâu dài và ác liệt, càng phải huy động cao nhất sức người,
sức của của căn cứ địa, hậu phương. Vì vậy, nhất thiết phải xây dựng căn cứ,
hậu phương vững mạnh toàn diện về mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn
hóa…
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền nhân dân vừa mới
thành lập đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách nghiêm trọng. Ở
miền Nam, quân Pháp được quân Anh trợ giúp, ngày 23 tháng 9 năm 1945 đã
khởi hấn ở Sài Gòn, kế đó đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Ngoài
Bắc, gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch (sau đây
viết tắt là quân Tưởng), được Mỹ tiếp tay, kéo vào với danh nghĩa giải giáp
quân Nhật nhưng còn mục tiêu bóp chết cách mạng, dựng nên chính quyền
tay sai của chúng. Trong khi đó, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa được
nước nào trên thế giới công nhận. Chính quyền nhân dân mới được thành lập,
chưa được kiện toàn, kinh nghiệm quản lý nhà nước còn rất hạn chế. Lực
lượng vũ trang non trẻ, vũ khí thô sơ, kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu ít ỏi.
Ách áp bức phong kiến cùng chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và
phát xít Nhật khiến nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng suy sụp thảm hại.
Nhân dân vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, chỉ trong vòng ba tháng giữa năm
1945, gần hai triệu đồng bào chết vì đói và dịch bệnh. Công thương nghiệp
hàng hóa đình đốn, ngoại thương đình trệ, thủ công nghiệp tiêu điều. Về tài
chính, kho bạc của chính quyền cách mạng chỉ còn hơn 1 triệu đồng nhưng
quá nửa là rách nát. Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay Pháp, đồng
tiền Quan kim do quân Tưởng tung ra buộc ta phải lưu hành khiến cho thị
trường càng thêm rối loạn. Do hậu quả của chính sách ngu dân của thực dân
17
Pháp, 95% dân số nước ta không biết chữ và còn nhiều tệ nạn xã hội khác do
hậu quả của chế độ thực dân để lại hết sức nặng nề.
4 năm 1947. Năm 1948, Trung ương Đảng có nghị quyết về xây dựng hậu
phương để kháng chiến lâu dài. Năm 1950, với ý định phối hợp với cách
mạng Trung Quốc, Đảng chủ trương đẩy mạnh xây dựng hậu phương, thực
hiện tổng động viên nhân tài vật lực để chuyển mạnh sang tổng phản công.
Tháng 2-1951, Đại hội lần thứ II của Đảng được triệu tập, đã nhấn mạnh xây
dựng hậu phương toàn diện, đẩy mạnh sản xuất, tiết kiệm, xây dựng lực lượng
vũ trang, tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em để đẩy mạnh phản công,
đưa kháng chiến phát triển đến thắng lợi.
Trong khi chủ trương động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, xây dựng
lực lượng vũ trang nhân dân, Đảng chủ trương dựa vào quần chúng nhân dân
được giác ngộ cách mạng để xây dựng căn cứ địa cách mạng. Đó là một trong
những điều kiện căn bản để tiến hành kháng chiến và đưa kháng chiến đến
thắng lợi. Đồng chí Trường Chinh vạch rõ: Để huy động sức người, sức của
cho kháng chiến, phải xây dựng hậu phương, xây dựng căn cứ địa khắp nơi.
“Căn cứ địa là một vùng tương đối an toàn ở đó ta đóng các cơ quan đầu não,
huấn luyện bộ đội chủ lực, đào tạo cán bộ, chế tạo vũ khí, đạn dược, chữa
chạy thương binh…”. [22, tr. 310]
Do nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của hậu phương, ngay từ
những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã chủ động xây
dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến mang những đặc điểm phù hợp với
hoàn cảnh đất nước. Nước ta hẹp lại dài, hai mặt Đông và Tây Nam giáp biển,
nếu có chiến tranh, địch có thể chia cắt nước ta thành nhiều chiến trường.
Trước khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cả nước được chia làm 12 khu để
thuận tiện cho việc chỉ đạo chiến tranh, Mỗi chiến khu, thậm chí ở từng tỉnh,
từng huyện hoặc liên tỉnh, liên huyện phải chọn những vùng “có thế chiến
19
lược lợi hại, tiến có thể đánh, lui có thể giữ” để xây dựng thành căn cứ địa,
làm chỗ đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, có tiềm năng xây
cựng vi k ch trong mt quỏ trỡnh khỏng chin trng k, to ra ngun sc
mnh vụ tn ca chin tranh nhõn dõn, trong ú mi ngi dõn l mt ngi
lớnh, mi lng xó l mt phỏo i, ỏnh gic mt cỏch ton din v bng mi
v khớ cú trong tay. Vỡ th hu phng khụng cũn l i xng ca tin tuyn
theo ngha c in, cng khụng th xỏc nh ch bng yu t khụng gian. ú
l hin tng k l ca chin tranh nhõn dõn Vit Nam.
ng li khỏng chin ca ng l ng li chin tranh nhõn dõn. Vỡ
th ch trng xõy dng hu phng c rng nỳi v ng bng cú ý ngha
ht sc quan trng. Nú cho phộp ng viờn ton dõn tham gia chin tranh, gii
quyt ngun sc ngi, sc ca di do, phc v yờu cu ngy cng ln ca
cuc khỏng chin, to kh nng m mt trn bt c ni no cú búng ch.
Nhỡn chung, trong quỏ trỡnh khỏng chin, ng ó lónh o xõy dng,
bo v cỏc vựng t do trờn tt c cỏc mt chớnh tr, kinh t, quõn s, vn húa,
bin cỏc vựng t do ln thnh hu phng chin lc ca cuc khỏng chin.
Ch trng xõy dng hu phng cỏch mng ca ng c vch ra ngay t
nhng ngy u cuc khỏng chin v c ng tip tc phỏt trin v sau.
1.2 ng b tnh Phỳ Th lónh o thc hin nhim v xõy dng, bo v
i k t 1945
1950
1.2.1 iu kin t nhiờn, con ngi, truyn thng lch s Phỳ Th v
n
trờn a bn
,
.
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, đ-ợc thành lập từ năm
23
xõy
.
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi duy nhất không có đ-ờng biên giới
quốc gia (kể cả đ-ờng bộ và đ-ờng biển). Nh-ng Phú Thọ có vị trí địa lý quan
bt ngu
trọng về quốc phòng.
aN
thụng quan
thiờn nhiờn
.
liờn huyn,
, liờn
-
. Ngo
24
-