ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006
Luận văn thạc sỹ chuyên nghành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HOÀNG HỒNG
năm 2006…………………………………………………………………………
2.2. Phương hướng giải quyết việc làm cho người lao động của Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ từ năm 2001 đến năm 2006……………………………………………
3
2.3. Quá trình tổ chức thực hiện vấn đề giải quyết việc làm của Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ từ năm 2001 đến năm 2006
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH PHÚ THỌ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006……………………………..
3.1. Một số nhận xét về quá trình lãnh đạo giải quyết việc làm cho người lao
động của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2006…………………..
3.1.1 Ưu điểm……………………………………………………………………….
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân……………………………………………………
3.2. Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo
giải quyết việc làm cho người lao động từ năm 1997 đến năm 2006…………..
3.2.1 Kinh nghiệm về tăng cường vai trò và hiệu lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động…………………
3.2.2 Kết hợp lồng ghép các dự án, chương trình chính sách với giải quyết vấn
đề lao động và việc làm……………………………………………………………
3.2.3 Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để phát triển kinh tế xã hội thực hiện giải quyết việc làm cho người lao động………………………...
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
ra những thách thức trong việc giải quyết việc làm cho người lao động đòi hỏi
Đảng bộ tỉnh Phú Thọ có những chủ trương, quyết sách trong lãnh đạo và tổ chức
thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề việc làm, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển
đất nước nói chung và của tỉnh Phú Thọ nói riêng đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo
giải quyết việc làm cho người lao động từ năm 1997 đến năm 2006” làm đề tài
luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên nghành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là một vấn đề đã được nhiều
cơ quan của Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều
góc độ khác nhau. Tiêu biểu:
- Các bài báo khoa học viết về vấn đề đào tạo nguồn lao động và việc làm
trên các báo, các tạp chí như: GS.TS Đỗ Thế Tùng có bài: “Ảnh hưởng của nền
kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam”, Tạp chí Lao động và
công đoàn số 6 năm 2002. Tác giả Nguyễn Đức Nhật có bài: “Những giải pháp
giải quyết việc làm từ nay đến năm 2000”, Thông tin kho bạc Nhà nước 1997.
Nguyễn Thị Hằng với bài: “Triển khai thực hiện công tác đào tạo nghề và chương
trình mục tiêu quốc gia về việc làm”, tạp chí Lao động vfa xã hội số 4 năm 1994.
Dương Ngọc có bài: “Lao động và việc làm vẫn là vấn đề bức xúc”, Thời báo kinh
tế Việt Nam, số 85 ngày 23 tháng 10 năm 1999. Tác giả Tạ Trung: “Xóa đói, giảm
nghèo và việc làm - vấn đề có giá trị nhân văn sâu sắc”, tạp chí Thông tin công tác
tư tưởng lý luận của Ban tư tưởng - Văn hóa Trung ương, tháng 11 năm 2003. Tác
giả Lê Thị Ngân có bài viết: “Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn”, tạp chí Cộng sản số 36 năm
2003…Qua các bài viết, các tác giả đã có những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề
6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7
3.1. Mục đích
- Làm sáng tỏ chủ trương, đường lối và phương hướng giải quyết việc làm
cho người lao động của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2006.
- Góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong lĩnh vực
giải quyết việc làm cho người lao động, từ đó rút ra những kinh nghiệm để vận
dụng trong giai đoạn mới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, tập hợp những tư liệu lịch sử có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh Phú Thọ.
- Thứ hai, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ vận dụng chủ trương của
Đảng, Nhà nước về vấn đề giải quyết việc làm, định ra chủ trương chính sách và
chỉ đạo thực hiện trên địa bàn tỉnh từ năm 1997 đến nă 2006.
- Thứ ba, đánh giá thành tựu, hạn chế và rút ra kinh nghiệm từ quá trình lãnh
đạo thực hiện giải quyết việc làm của Đảng bộ tỉnh phú Thọ từ năm 1997 đến năm
2006.
4. Đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các chủ trương, đường lối của Đảng bộ Phú Thọ đối với vấn đề giải quyết
việc làm cho người lao động từ năm 1997 đến năm 2006.
- Thực tiễn vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Phú Thọ từ
năm 1997 đến năm 2006.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
9
- Việc thực hiện nghiên cứu đề tài nhằm hệ thống hóa những chủ trương
chính sách, biện pháp, cách thức mà Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã thực hiện để lãnh
đạo chỉ đạo vấn đề giải quyết việc làm của tỉnh.
- Khẳng định sự lãnh đạo tập trung có hiệu quả của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
- Tổng kết đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
lãnh đạo thực hiện giải quyết việc làm cho người lao động từ năm 1997 đến năm
2006.
- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các Đảng bộ huyện, thành phố
viết lịch sử địa phương mình, ngoài ra còn phục vụ cho việc nghiên cứu giảng day
lịch sử tại các trường Đảng, các Trung tâm chính trị, các trường phổ thông ở địa
phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giải quyết việc làm cho người lao
động từ năm 1997 đến năm 2001
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giải quyết việc làm cho người lao
động từ năm 2001 đến năm 2006
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm về quá trình giải quyết việc làm
cho người lao động của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2006
10
Chương 1
trang trại. Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải
đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy. Vùng này thuận lợi cho việc trồng các
loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi.
Về khí tượng, thủy văn, Phú Thọ mang đặc điểm khí hậu vùng trung du,
miền núi có gió mùa và thuỷ văn miền trung du lưu vực hệ thống sông Hồng. Các
đặc điểm đó được tóm tắt qua các đặc trưng của khí tượng, thuỷ văn như sau:
- Nhiệt độ trung bình năm từ 220C -: - 240C
- Độ ẩm trung bình 84% -: - 86%
- Số giờ nắng trung bình trong năm: từ 1300 -: - 1550 h
- Lượng bốc hơi năm từ 900 -: - 1.100 mm/năm.
- Bão: hàng năm trung bình có từ 4 -: - 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh
hưởng đến Phú Thọ, gây gió cấp VII, VIII, IX và mưa diện rộng.
- Mưa: mưa là yếu tố chi phối và ảnh hưởng nhiều nhất đến mùa màng và
việc xây dựng quản lý, khai thác các công trình thuỷ lợi của tỉnh.
+ Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, chiếm khoảng 80% lượng
mưa hàng năm.
+ Lượng mưa năm thực đo:
Lớn nhất 3.057,2 mm (xảy ra vào năm 1980)
Trung bình: 1.790 mm
Nhỏ nhất: 1.192,5 mm (xảy ra năm 1977)
Đặc điểm sông ngòi, Phú Thọ nằm ở trung lưu của hệ thống sông Hồng, tiếp
nhận nguồn nước của 3 sông lớn: sông Lô, sông Thao, sông Đà ngoài ra còn có các
sông nhỏ, ngòi lớn như: sông Bứa, ngòi Lao, ngòi Giành, ngòi Me chảy ra sông
Thao: sông Chảy chảy ra sông Lô, ngòi Lạt chảy ra sông Đà...Nhìn chung các sông
trên địa bàn tỉnh Phú thọ có đặc điểm như sau:
12
13
- Thuận lợi:
Phú Thọ có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản.
Khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt,
may vì ở Phú Thọ có nguồn nguyên liệu, lực lượng lao động tại chỗ; đã xây dựng
được một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đầu tư với tốc độ nhanh.
Khu di tích lịch sử Đền Hùng gắn liền với lịch sử dựng nước của dân tộc; đầm Ao
Châu, vườn quốc gia Xuân Sơn, vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ, khu du lịch
núi Trang… là những tiềm năng lớn để Phú Thọ phát triển du lịch.
- Khó khăn:
Thứ nhất, xuất phát điểm kinh tế tỉnh Phú Thọ còn thấp, trong khi đó tiềm
năng khoáng sản trên địa bàn còn nghèo về số lượng, thấp về chất lượng. Sự đầu tư
về khoa học công nghệ còn hạn chế đặc biệt là việc huy động các nguồn vốn đầu tư
từ bên ngoài vào Phú Thọ còn chưa cao. Lực lượng lao động ở Phú Thọ khá dồi
dào, lao động trẻ song chất lượng nguồn lao động có trình độ chuyến môn chưa
cao, khả năng tiếp thu kiến thức về tiến bộ khoa học và công nghệ tiến tiến còn
nhiều hạn chế, lúng túng trong việc sử dụng các thiết bị tiên tiến hiện đại. Do đó
chưa thể khai thác và tận dụng hết nguồn thế mạnh về điều kiện tự nhiên mà tỉnh
đang sở hữu.
Thứ hai, Phú Thọ cũng như các địa phương khác trong cả nước cũng đang
phải gánh chịu ảnh hưởng của biển đổi khí hậu toàn cầu, tác động của hạn hán,
thiên tai, bão lũ, nhiệt độ nóng lên, sâu bệnh nhiều cũng là một vấn đề khó khăn tác
động đến lao động và việc làm. Để giải quyết được Phú Thọ cần phải tập chung tất
cả các ngành, các cấp, các cơ quan đoàn thể cùng nghiên cứu đế tìm ra biện pháp
giải quyết tốt nhất.
Như vậy, với điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo cho Phú Thọ vị thế đặc biệt
mà ít tỉnh trong vùng có được. Tuy nhiên Phú Thọ cũng gặp phải một số khó khăn
nhất định đòi hỏi sự giải quyết một cách đồng bộ mới tạo ra sức bật để Phú Thọ có
Dân số 1.290.514 người, mật độ dân số bình quân: 368,05 người/km2, hơn
90% dân số thuộc khu vực nông thôn. bình quân diện tích đất nông nghiệp theo
đầu người là 0,7ha/người. Đất canh tác là 0,4ha/người.
15
Tổng diện tích tự nhiên của Phú Thọ là 3.519,56 km2, theo kết quả điều tra
thổ nhưỡng gần đây, đất đai của Phú Thọ được chia theo các nhóm sau: đất feralít
đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, diện tích 116.266,27 ha chiếm tới 66,79%
(diện tích điều tra). Đất thường có độ cao trên 100 m, độ dốc lớn, tầng đất khá dày,
thành phần cơ giới nặng, mùn khá. Loại đất này thường sử dụng trồng rừng, một số
nơi độ dốc dưới 25o có thể sử dụng trồng cây công nghiệp.
Hiện nay, Phú Thọ mới sử dụng được khoảng 54,8% tiềm năng đất nông lâm nghiệp; đất chưa sử dụng còn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìn
ha. Đánh giá các loại đất của Phú Thọ thấy rằng, đất đai ở đây có thể trồng cây
nguyên liệu phục vụ cho một số ngành công nghiệp chế biến, nếu có vốn đầu tư và
tổ chức sản xuất có thể tăng năng suất ở nhiều nơi; đưa hệ số sử dụng đất lên đến
2,5 lần (hiện nay hệ số sử dụng đất mới đạt khoảng 2,2), đồng thời bảo vệ và làm
giàu thêm vốn tài nguyên này; cho phép phát triển công nghiệp và đô thị.
Diện tích rừng hiện nay của Phú Thọ nếu đem so sánh với các tỉnh trong cả
nước thì được xếp vào những tỉnh có độ che phủ rừng lớn (42% diện tích tự nhiên).
Với diện tích rừng hiện có 144.256 ha, trong đó có 69.547 ha rừng tự nhiên, 74.704
ha rừng trồng, cung cấp hàng vạn tấn gỗ cho công nghiệp chế biến hàng năm. Các
loại cây chủ yếu như bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề và một số loài cây bản địa đang
trong phát triển (đáng chú ý nhất vẫn là những cây phục vụ cho ngành công nghiệp
sản xuất giấy).
Phú Thọ không phải là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, nhưng lại có một số
loại có giá trị kinh tế như đá xây dựng, cao lanh, fenspat, nước khoáng. Cao lanh
có tổng trữ lượng khoảng 30 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa
khai thác lên đến 24,7 triệu tấn. Fenspat có tổng trữ lượng khoảng 5 triệu tấn, điều
du lịch.
Phú Thọ có nhiều di tích nổi tiếng như: khu di tích Đền Hùng (Lâm Thao),
đầm Ao Châu, Ao Giời, Suối Tiên, khu rừng nguyên sinh Xuân Sơn (33.687 ha,
trong đó 15.000 ha rừng nguyên sinh), vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ, đền
Mẫu Âu Cơ, đình Lâu Thượng, Hùng Lô, Đào Xá, chùa Xuân Lãng, chùa Phúc
Khánh; các khu di chỉ; Phùng Nguyên, Sơn Vi, Gò Mun…Các di tích kháng chiến:
17
chiến khu Hiền Lương (Hạ Hoà). Vạn Thắng (Cẩm Khê), tượng đài kháng chiến
sông Lô (Đoan Hùng), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cổ Tiết (Tam Nông),
Chu Hoá (Lâm Thao)…
Phú Thọ còn là miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc của tổ
tiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn; lễ hội Đền Hùng, hội
phết (Hiền Quang), hội làng Đào Xá, Sơn Vi…; nhiều làn điệu dân ca, xoan ghẹo,
nhiều trò diễn dân gian, nhiều truyền thuyết - huyền thoại về dựng nước, nhiều
truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười giàu tính nhân văn, mang nét đặc sắc của
vùng đất Tổ, đặc trưng văn hoá Lạc Hồng.
Tỉnh Phú Thọ đã có rất nhiều thuận lợi song cũng phải đối mặt với không ít
những khó khăn, thách thức:
- Khó khăn:
Thứ nhất, là một tỉnh trung du miền núi, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm,
một số ngành và lĩnh vực tuy tăng trưởng khá nhưng giá trị tuyệt đối chưa cao, thu
nhập bình quân tính theo đầu người mới bằng 59,69% mức bình quân cả nước.
Thứ hai, trình độ công nghệ, máy móc thiết bị còn lạc hậu chưa đồng bộ.
Đặc biệt để phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH thì phải có một cơ cấu kinh
tế công, nông nghiệp, dịch vụ hợp lý. Tuy nhiên cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp
ở Phú Thọ còn lạc hậu: tỷ trọng nông nghiệp lớn trong khi đó tỉ trọng công nghiệp
và dịch vụ chưa cao.
Thứ ba, trong phát triển kinh tế xã hội thì yếu tố quan trọng là lực lượng lao
trình độ cho chuyên gia; bố trí cơ cấu ngành nghề thích hợp; chọn lựa người đúng
tiêu chuẩn; quản lý chặt chẽ về tổ chức và tư tường [20, tr. 87-88].
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng,
Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã vận dụng năng động sáng tạo các nghị quyết của Đảng
vào tình hình cụ thể của địa phương nhất là vấn đề lao động, việc làm và giải quyết
việc làm của tỉnh.
Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ VII (4- 1991) được tiến hành
trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi, đồng thời có những khó
khăn phức tạp, nhiều vấn đề mới nảy sinh tác động sâu sắc đến đòi sống nhân dân
trong toàn tỉnh.
19
Dân số 1.290.514 người, mật độ dân số bình quân: 368,05 người/km2, hơn
90% dân số thuộc khu vực nông thôn. bình quân diện tích đất nông nghiệp theo
đầu người là 0,7ha/người. Đất canh tác là 0,4ha/người.
Tổng diện tích tự nhiên của Phú Thọ là 3.519,56 km2, theo kết quả điều tra
thổ nhưỡng gần đây, đất đai của Phú Thọ được chia theo các nhóm sau: đất feralít
đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, diện tích 116.266,27 ha chiếm tới 66,79%
(diện tích điều tra). Đất thường có độ cao trên 100 m, độ dốc lớn, tầng đất khá dày,
thành phần cơ giới nặng, mùn khá. Loại đất này thường sử dụng trồng rừng, một số
nơi độ dốc dưới 25o có thể sử dụng trồng cây công nghiệp.
Trước thời kỳ đổi mới, Phú Thọ là tỉnh có 1 số ngành công nghiệp khá phát
triển, đặc biệt là công nghiệp dệt may đã thu hút tạo mờ việc làm đảm bảo đời sống
cho trên 2 vạn lao động.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt vào thời kỳ 1986 - 1995,
nền kinh tế của tỉnh Phú Thọ gặp rất nhiều khó khăn. Từ năm 1988 đổ về trước
công; nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương hoạt động theo cơ chế bao cấp, sản
xuất, gia công cho các nước xã hội chủ nghĩa theo sự chỉ đạo của Nhà nước nên
phát huy được thế mạnh vốn có của địa phương. Từ năm 1989, sau Đại hội Đảng
nghiệp và công nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề sức ép lao động và việc làm
trở nên bức xúc, gay gắt.
Nhưng, nhân dân Phú Thọ lại có truyền thống văn hiến, lao động cần cù
sáng tạo với tay nghề và óc thẩm mỹ cao đã phát triển nghề thủ công cổ truyền ở
nhiều địa phương trong tỉnh. Đặc biệt ở huyện Thanh Sơn với nghề mộc truyền
thống đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ.
Phú Thọ có 1.269 nghìn lao động, trong đó lao động kỹ thuật chiếm khoảng
8%. Tạo khả năng thuận lợi cho công cuộc đổi mới kinh tế, tiếp cận và áp dụng
khoa học kỹ thuật mới, mở rộng ngành nghề. Đồng thời xây dựng đượccác hệ
thống cơ sở vật chất - kỹ thuật đáng kể phục vụ cho các ngành sản xuất như hệ
thống thuỷ lợi, cơ khí vật liệu xây dựng, giao thông, điện...[24, tr. 35]
Từ những thuận lợi và khó khăn như vậy Đại hội đã khẳng định vấn đề việc
làm và đời sống đang là vấn đề bức xúc phải được giải quyết trong những năm
1986 - 1991. Do đó phải chú trọng “phát triển các thành phần kinh tế, đẩy mạnh
21
sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm cho người lao động; không hạn chế kinh
tế tư nhân sử dụng lao động...” [24, tr. 18].
Bên cạnh đó trong thời gian này tỉnh còn quan tâm đến “công tác tuyên
truyền vận động mọi người thực hiện kế hoạch hoá gia đình được coi trọng nên tỷ
lệ phát triến dân số nàm 1991 còn 1,9% và tiếp tục đưa người đi kinh tế mới” [22,
tr. 18]. Tuy nhiên chính sách đề ra chưa có tính thuyết phục, xử lý trường hợp vi
phạm kế hoạch hoá gia đình thiếu sự nhất quán và chưa kiên quyết, công tác kế
hoạch hoá gia đình chưa đạt kết quả cao, dân số vẫn còn gần 2,5 triệu người, tăng
260,9 nghìn người so với năm 1985. Đây là sức ép đối với lao động và việc làm
của tỉnh, số người không có việc làm và thiếu việc làm thường xuyên hàng năm
trên dưới 5 vạn người. Chưa kể số lao động nông nhàn trong nông thôn [24, tr. 18].
Để khắc phục những hạn chế nêu trên Đảng bộ tỉnh đã đề ra những chủ trương và
biện pháp cụ thể nhằm ổn định và phát triển đời sống nhân dân trong lĩnh vực dân
Khuyến khích mọi người hăng say lao động và lao động sáng tạo có năng suất cao,
biết làm giàu và làm giàu đúng pháp luật. Đồng thời tích cực tìm địa bàn để đưa
một bộ phận dân cư đi khai thác vùng kinh tế mới nội tỉnh và ngoại tỉnh bằng nhiều
hình thức nhân dân bỏ vốn là chính có sự hỗ trợ của Nhà nước, kết hợp đi có tổ
chức với đi theo nguyện vọng riêng của từng bộ phận [24, tr. 48].
Đại hội đã đưa ra các phương hướng tạo việc làm trong các lĩnh vực khác
nhau như:
Trong lĩnh vực nông nghiệp để tạo ra việc làm Đại hội cũng xác định phải
tiếp tục coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chuyển mạnh sang sản xuất hàng
hoá trọng tâm là sản xuất lương thực, thực phẩm. Phát triển nông lâm nghiệp theo
hướng toàn diện kết hợp thâm canh và tăng vụ, nhất là vụ đông, mớ thêm nhiều
diện tích, chuyên canh. Khai thác triệt để vùng đồng bàng, ven biển và đồi núi; gắn
sản xuất với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt coi trong
phát triển kinh tế hộ gia đình.
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp để tăng nhanh sản xuất hàng tiêu
dùng, hàng xuất khẩu, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nhân dân Đảng bộ
tỉnh Phú Thọ đã xác định phương hướng phát triển công nghiệp của tỉnh trong
nhũng năm tới là: Công nghiệp dệt - may chế biến nông sản, thực phẩm, sản xuất
23
vật liệu xây dựng. Đồng thời tiếp tục khai thác tốt tiềm năng tay nghề, cơ sở vật
chất kỹ thuật của ngành cơ khí của địa phương để sản xuất các công cụ phụ tùng
thay thế, công nghệ cơ khí sửa chữa. Khôi phục các làng nghề thủ công có chất
lượng cao.
Thực hiện những chủ trương và biện pháp mà Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra tại
Đại hội VII, Đảng bộ, quân và nhân dân Phú Thọ đã vượt qua nhiều khó khăn, thử
thách, vươn lên giành thắng lợi mới tron2 nhiều lĩnh vực, đặc biệt là đẩy mạnh sản
xuất, hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số và giải quyết việc làm cho người lao động là đã
góp phần quan trọng vào quá trình ổn định và cải thiện đòi sống nhân dân.
khoảng kinh tế xã hội và đang từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
từng bước hoà nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
Tuy vậy Phú Thọ vốn là tỉnh nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển, điểm
xuất phát về kinh tế thấp: Việc làm và đời sống và những mặt tiêu cực xâ hội còn
là vấn đề bức xúc. Vì vậy tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (5 - 1996) khẳng
định: “Giải quyết việc làm là nhiệm vụ của mồi ngành, mỗi cấp, mỗi đoàn thể, mỗi
gia đình và bản thân người lao động. Tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích
các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội các đoàn thể quần chúng tạo thêm nhiêu
việc làm. Tích cực đưa nhân dân đi xây dựng các vùng kinh tể mới trong và ngoài
tỉnh. Mở rộng quỹ giải quyết việc làm từ ngân sách. Đồng thời huy động các nguồn
vốn khác để trợ giúp ban đầu cho người lao động tự tạo việc làm. Mở rộng và phát
huy hiệu quả các trung tâm dạy nghề và xúc tiến việc làm của tỉnh, mở rộng hợp
tác quốc tế về xuất khẩu lao động... phấn đấu tăng thêm chỗ làm việc để đáp ứng
yêu cầu của người lao động” [25, tr. 72].
Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển là cơ sở để tạo thêm nhiều
việc làm cho người lao động, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã đưa ra các chủ trương như:
Đấy mạnh phát triển kinh tế nhiều thành phần. Bên cạnh kinh tế Nhà nước và kinh
tế tập thể giữ vai trò then chốt thì coi trọng hình thức hiệp tác, góp cổ phần sản
xuất trên tất cả các lĩnh vực kinh tế công nghiệp, dịch vụ, tín dụng, giao thông vận
tải hoạt động theo luật hợp tác xã. Coi kinh tế hộ, kinh tế tiểu chủ là một bộ phận
quan trọng của nền kinh tế nhiều thành phần.
25