Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Khoa kinh tế và phát triển nông thôn
Nguyễn Tố d
Thực trạng sử dụng lao động và một giải pháp nhằm
giải quyết việc làm cho ngời lao động trên địa bàn
xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Luận văn tốt nghiệp đại học
Hà nội 2008
LI CAM OAN
1
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ học vị nào.
Tôi xin cam đoan trong luận văn tôi có sử dụng các thông tin từ nhiều
nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin trích dẫn được sử dụng đều được tôi ghi
rõ nguồn gốc xuất xứ.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Tố Dư
Lời Cảm Ơn
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà
trường, Ban chủ nhiệm Khoa KT&PTNT, cảm ơn các thấy cô giáo đã truyền đạt
cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá trình rèn luyện và học
tập tại Trường Đại học nông nghiệp - Hà Nội.
2
Tụi xin chõn thnh cm n s hng dn, ch bo tn tỡnh ca Th.S
Lng Xuõn Chớnh, cựng ton th cỏc thy cụ giỏo trong khoa ó giỳp tụi
trong sut thi gian thc tp hon thnh Lun võn tt nghip ny.
Tụi xin trõn trng gi li cm n ti cỏc ng chớ lónh o ca UBND xó
Vnh Li cựng cng phũng ban v cỏc h dõn xó Vnh Li Huyn Lõm Thao
Tnh Phỳ Th ó to mi iu kin thun li cho tụi hon thnh cỏc cụng vic
trong thi gian thc tp ti xó nh.
2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 23
Phần III Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phơng pháp nghiên
cứu 24
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25
3.2 Phơng pháp nghiên cứu 35
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
Phần IV Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37
4.1 Thực trạng lao động, việc làm của xã 37
4.1.1 Thực trạng lao động 37
4.1.2 Thực trạng việc làm 44
4.2 Thực trạng lao động, việc làm của các hộ điều tra năm 2007 48
4.2.1 Quy mô các hộ điều tra năm 2007 48
4.2.2 Tình hình phân bổ lao động theo các ngành nghề chủ yếu của các hộ . 50
4.2.3 Tình hình sử dụng thời gian lao động của lao động ở các nhóm hộ
điều tra 54
4.2.4 Thu nhập của lao động động theo các ngành nghề trong các hộ điều
tra năm 2007 59
4.3 Các yếu tố ảnh hởng tới giải quyết việc làm cho lao động 61
4.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho ngời lao
động tại xã 64
4.4.1 Quan điểm về giải quyết việc làm. 64
4
4.2.2 Những khó khăn và trở ngại trong vấn đề giải quyết việc làm, tăng
thu nhập cho ngời lao động trên địa bàn xã Vĩnh Lại 68
4.2.3 Những giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc làm cho ngời lao
động động tại xã Vĩnh Lại 69
Phần V Kết Luận và kiến nghị 78
5.1 Kết luận 78
Bảng 4.15 Cơ cấu kinh tế trong ngành nông nghiệp 71
Bng 4.16 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo ngành 73
Danh mục Biểu đồ
Trang
Biểu đồ 1 Tình hình sử dụng đất đai của xã qua 3 năm 2005 2007 28
Biểu đồ 2 Tỷ lệ các nhóm hộ trong xã từ 2005 2007 31
Biểu đồ 3 Tỷ lệ lao động trong xã từ 2005 2007 31
Biểu đồ 4 Chất lợng lao động phân theo trình độ văn hoá 43
Biểu đồ 5 Tình hình sử dụng lao động của xã năm 2007 45
Biểu đồ 6 Lao động phân theo ngành nghề của nhóm hộ điều tra 52
Biểu đồ 7 Lao động theo ngành nghề và hớng sản xuất của các hộ điều tra 54
Biểu đồ 8 Tỷ lệ lao động phân theo trình độ văn hoá của các nhóm hộ 63
Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 1 Cơ cấu lực lợng lao động 6
Danh mục viết tắt
BQ Bình quân
6
CC Cơ cấu
CNH Công nghiệp hoá
DV Dịch vụ
DT Diện tích
GTSX Giá trị sản xuất
HĐH Hiện đại hoá
HTX Hợp tác xã
ILO International Labour Organization
(Tổ chức Lao động Quốc tế)
LĐ Lao động
NN Nông nghiệp
SL Sản lợng
TN Thu nhập
trên thế giới cho thấy có nhiều giải pháp hợp lý nhằm giải quyết công ăn việc
làm cho người lao động nông thôn nhưng việc lựa chọn thực hiện giải pháp nào
cho thích hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu lựa chọn đúng thì tạo động lực
mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
của nhân dân đảm bảo có việc làm đầy đủ cho người lao động còn ngược lại sẽ
8
làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế, nảy sinh nhiều tác động tiêu cực
cho xã hội, làm gia tăng tình trạng thất nghiệp…
Vĩnh Lại là xã thuần nông, người dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông
nghiệp, vấn đề dư thừa lao động, giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho
người lao động là cần thiết. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực
trạng sử dụng lao động và một số giải pháp giải quyết việc làm cho người lao
động tại xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng lao động - việc làm trên địa bàn xã từ đó đề xuất một
số giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề lao động và giải quyết
việc làm
- Đánh giá thực trạng lao động, việc làm. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến vấn đề giải quyết việc làm trên địa bàn xã.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động trên địa
bàn nghiên cứu trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Việc làm của lao động trong các hộ gia đình trên địa bàn xã Vĩnh Lại.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: vấn đề sử dụng lao động và giải quyết việc làm cho lao
động trên địa bàn xã Vĩnh Lại
môn.
+ Lao động chân tay: là lao động sử dụng sức lực cơ bắp để làm việc.
+ Lao động trí óc: là lao động làm việc bằng trí não, sử dụng đầu óc, trí
tuệ. Lao động trí óc có năng suất cao hơn lao động bằng chân tay
2.1.1.2 Năng suất lao động, cường độ lao động, thời gian lao động
Năng suất lao động là sức sản xuất của của lao động cụ thể có mục đích.
Năng suất lao động được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn
vị thời gian hoặc thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đó.
11
Ngày nay người ta thường tăng năng suất lao động bằng cách thay đổi
cách quản lý sản xuất, công nghệ sản xuất để làm tăng cường độ lao động nhằm
tăng khối lượng sản phẩm trên một đơn vị thời gian.
- Cường độ lao động: là mức độ khẩn trương của công việc. Tăng cường
độ lao động là tăng mức độ hao phí về sức lực và trí lực của người lao động. C.
Mác nói: “Cường độ lao động là khối lượng lao động bị ép vào trong một thời
gian nhất định”. Trong thực trạng lao động hiện nay các nhà quản lý thường
dùng cách tăng cường độ lao động để tăng năng suất lao động đặc biệt là các
ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày…
- Thời gian lao động: là thời gian cần thiết để sản xuất ra một lượng sản
phẩm nhất định. Những biện pháp nhằm nâng cao năng suất lao động chính là
làm giảm thời gian lao động, do đó nhà quản lý tốt thì phải biết sử dụng lao động
hợp lý, thời gian lao động hợp lý sẽ tạo ra năng suất lao động cao.
2.1.1.3 Nguồn lao động
Theo Luật lao động thì nguồn lao động đồng nghĩa với nguồn nhân lực.
Nguồn lao động là số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
(trừ những người tàn tật, mất sức lao động loại nặng) và những người ngoài tuổi
lao động nhưng thực tế có làm việc.
Lực lượng lao động hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm
những người từ 16 tuổi trở lên có khả năng lao động đang có việc làm, hoặc
không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc. Giữa các quốc gia có sự khác
Theo Bộ Luật Lao động nước ta khái niệm việc làm được xác định là: mọi
hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm (điều 13
- Bộ Luật Lao động). Như vậy không chỉ những người làm việc trong các ngành
kinh tế quốc dân, mà nhiều người khác cũng được coi là có việc làm, nếu họ
gián tiếp góp phần tạo thu nhập.
Các hoạt động lao động được coi xác định là việc làm bao gồm:
- Làm các công việc được trả công dưới dạng tìền mặt hoặc hiện vật.
- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo thu nhập
cho gia đình nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc
đó.
Từ các khái niệm trên có thể hiểu việc làm là sự tác động qua lại giữa con
người với điều kiện vật chất, kĩ thuật, môi trường tự nhiên, tạo giá trị vật chất,
tinh thần mới cho bản thân, gia đình và xã hội, đồng thời những hoạt động lao
động đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Nói cách khác, việc làm
là tổng thể hoạt động kinh tế có liên quan đến thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân,
gia đình người lao động hoặc cho cộng đồng.
Việc làm đầy đủ: là sự thoả mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm của các thành
viên có khả năng lao động, nói một cách khác là mỗi người có khả năng lao
động, muốn làm việc đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn.
Thiếu việc làm: là tình trạng có việc làm nhưng thời gian làm việc thấp
hơn thời gian quy định và có nhu cầu làm thêm. Thiếu việc làm còn thể hiện
dưới dạng làm việc có năng suất và thu nhập dưới mức thu nhập tối thiểu.
14
Việc làm hợp lý: là sự phù hợp về số lượng và chất lượng của các yếu tố
con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy
đủ, việc làm hợp lý có năng suất và hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn
2.1.2.2 Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động là tạo ra môi trường và các điều
kiện cần thiết để người lao động làm việc, nâng cao thu nhập cho bản thân và
cho người khác theo đúng pháp luật, phát huy đến mức cao nhất yếu tố con
Việc làm công ăn lương liên quan đến các hợp đồng lao động mà người thuê
lao động đưa ra các điều khoản với người lao động và thu nhập của người lao
động chỉ phụ thuộc vào thời gian lao động. Công việc của người lao động được
thực hiện dưới sự giám sát của người sử dụng lao động.
Các hoạt động, được xem như là “việc làm tự tạo”, liên quan đến việc tự
quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất các hàng hoá và dịch vụ.
2.1.2.4 Thất nghiệp
Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động không có việc làm
nhưng có nhu cầu làm việc, sẵn sàng làm làm việc và đang đi tìm việc.
Căn cứ vào vào thời gian thất nghiệp, người thất nghiệp được chia thành:
Thất nghiệp ngắn hạn và thất nghiệp dài hạn.
Thất nghiệp ngắn hạn là thất nghiệp liên tục dưới 12 tháng tính từ ngày
đăng kí thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước.
Thất nghiệp dài hạn: là thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày
đăng kí thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước.
16
Phần lớn các nước sử dụng khái niệm trên để xác định người thất nghiệp.
Tuy nhiên cũng có sự khác biệt khi xác định mức thời gian không có việc làm.
Trong phân loại cơ cấu thị trường lao động hiện nay, thất nghiệp được phân ra
làm ba loại khác nhau: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp theo chu kì và thất
nghiệp cơ cấu.
Thất nghiệp tạm thời là thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không
ngừng của con người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau
của cuộc sống. Thậm chí trong nền kinh tế đầy đủ việc làm vẫn luôn có một số
chuyển động nào đó do người ta đi tìm việc làm khi tốt nghiệp ra trường hoặc
chuyển đến đến một nơi sinh sống mới, do công nhân thất nghiêp tạm thời
thường chuyển công việc hoặc tìm những công việc mới tốt hơn… Cho nên
người ta thường cho rằng họ là những người thất nghiệp “ tự nguyện”.
Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi nền kinh tế có sự mất cân đối cung cầu lao
động. Sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một loại lao động
mà bán, việc chuyển nghề đối với họ là một dấu chấm hỏi. Những ngân hàng
cũng hô hào cho người dân vay vốn nhưng phải thế chấp đất đai, nhà cửa, xe,…
còn những hộ nghèo không có tài sản để thế chấp thì không thể nào vay vốn
được, mà không vay vốn được thì làm gì được, ở đây “lực bất tồng tâm” và tất
yếu trở thành người thất nghiệp
2.1.2.5 Vai trò của giải quyết việc làm
18
- Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa rất quan trọng đến
phát triển và ổn định kinh tế, xã hội đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
giải quyết việc làm càng trở nên rất cần thiết. Sự phát triển của nền kinh tế phụ
thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực, nguồn vốn trong đó sử dụng hợp lý nguồn
lao động quyết định rất lớn đến sự ổn định kinh tế chính trị, xã hội của đất nước.
- Giúp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lao động
Mỗi quốc gia đều có những nguồn lực riêng trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội: tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, kĩ thuật, công nghệ và đặc biệt là
nguồn lực về con người, nó quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Việt
Nam là một quốc gia có dân số trẻ, lực lượng dồi dào, đây là một lợi thế trong
quá trình phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, nguồn lực trên vẫn còn ở dạng
tiềm năng, chưa được sử dụng hiệu quả, do đó cần phải sử dụng hợp lý nguồn
lực này thì mới tạo ra sức mạnh trong phát triển. Khi chúng ta tạo việc làm cho
người lao động chính là phát huy yếu tố con người, chính là sử dụng hợp lý các
nguồn tài nguyên vốn, kĩ thuật, công nghệ…Đây là điều có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong sự phát triển đặc biệt là khu vực nông thôn.
- Người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định sẽ làm giảm các loại tệ
nạn xã hội. Khi việc làm trở nên khan hiếm, một bộ phận người lao động không
có việc làm sẽ dẫn tới các hoạt động phạm pháp, tệ nạn xã hội ngày càng nhiều
từ đó làm gia tăng gánh nặng cho xã hội. Vì vậy giải quyết việc làm cho người
lao động góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội.
- Tạo việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng, góp phần tăng
thu nhập cho mỗi cá nhân, hạn chế việc gia tăng phân hoá giàu nghèo giữa các
+ Ba là: Tạo môi trường thuận lợi để phát triển công nghiệp bằng các
chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển công nghiệp đặc biệt
là công nghiệp nông thôn.
+Bốn là: Thiết lập hệ thống cung cấp tài chính có hiệu quả cho các
doanh nghiệp nông thôn, giảm chi phí giao dịch để thu hút vốn và lao động
nông thôn.
+ Năm là: duy trì và mở rộng mối quan hệ hai chiều giữa các doanh
nghiệp nông thôn với Nhà nước.
• Malaysia:
Liên bang Malaysia có diện tích tự nhiên 329,8 ngìn km
2
với dân số
trên 20 triệu người. Hiện nay lao động đang được thu hút mạnh vào các
ngành công nghiệp và dịch vụ. Bằng các chính sách phát triển hợp lý
Malaysia đã giải quyết được hoàn toàn vấn đề lao động dư thừa ở khu vực
nông thôn thậm chí phải nhập khẩu lao động từ nước ngoài. Vì vậy những
bài học kinh nghiệm từ Malaysia sẽ rất có ích trong quá trình giải quyết công
ăn việc làm của chúng ta:
Thứ nhất, trong thời gian đầu chú trọng tới phát triển nông nghiệp
trong đó đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày. Đồng thời tập trung phát triển
ngành công nghiệp chế biến nông sản để thúc đẩy phát triển sản xuất nhằm
giải quyết việc làm tại chỗ cho nông dân.
Thứ hai, Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tâng phúc
lợi xã hội, kèm theo đó là cung ứng vật tư, vốn, thông tin, hướng dẫn khoa
học công nghiệp… giúp người dân ổn định cuộc sống, phát huy tính năng
động sáng tạo của người dân, gắn trách nhiệm giữa người dân và Nhà nước,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
21
Thứ ba, thực hiện nhiều chính sách ưu đãi, thông thoáng để thu hút
vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt là các ngành có sử dụng nhiều lao động trong
này có xu hướng giảm. Tuy nhiên nguồn lao động này không hoặc chưa thể đáp
ứng được các nhu cầu của một nền kinh tế công nghiệp hóa, hiên đại hóa. Vấn
đề đặt ra là cần tìm hiểu sâu trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực
này để có các giải pháp cụ thể, hữu hiệu là điều rất cần thiết cho sự phát triển
của cả một hệ thống nông nghiệp, nông thôn Việt Nam khi công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang là một quá trình tất yếu để hội nhập và
phát triển.
- Dư thừa lao động nông nghiệp ngày một gia tăng, trong khi sản xuất
nông nghiệp lại mang tính thời vụ nên tình trạng "nông nhàn" trở nên đáng
báo động
Đó là do sự mất cân đối ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp. Ngành
nghề chủ yếu hiện nay vẫn còn là trồng trọt các loại cây nông nghiệp (cây
lương thực là chính). Trong khi đó đất đai canh tác lại ít, bình quân đất canh tác
theo đầu người khoảng 800m
2
/nhân khẩu trên toàn quốc. Chăn nuôi chưa thực
sự phát triển. Chính vì vậy lao động nông thôn ở Việt Nam hiện nay rơi vào
tình trạng thiếu việc làm trầm trọng.
- Phân bố dân cư và lao động nông nghiệp đồng đều:
23
Dân số và lao động nông thôn chủ yếu tập trung ở vùng Đồng Bằng và
Duyên Hải. Hai Đồng Bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long chỉ chiếm 15,7%
lãnh thổ cả nước nhưng có tới 47,51% hộ nông nghiệp, 45,95% số khẩu nông
nghiệp và 46,29% số lao động nông nghiệp cả nước. Trong khi đó vùng núi và
vùng Trung Du đất đai nhiều nhưng dân cư thưa thớt, lao động nông nghiệp lại
quá ít, vì vậy mà diện tích đất chưa được sử dụng còn nhiều (5270m
2
/người ở
Thái Nguyên so với 421m
2
Có thể nói rằng năng suất lao động trong nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam thấp là do chất lượng lao động quá thấp cùng với sự dôi thừa về số lượng.
Thống kê cho thấy GDP tính theo giá thực tế bình quân lao động nông nghiệp
chỉ 3,5 triệu đồng/người/ năm bằng 1/7 trong công nghiệp, xây dựng và bằng
1/6 trong dịch vụ. Năng suất lao động thấp, khiến cho thu nhập bình quân của
lao động nông thôn chỉ đạt khoảng 200.000đ/tháng và chỉ bằng 37% của lao
động khu vực thành thị.
2.2.3 Tình hình sử dụng lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam
Trong nền kinh tế Việt Nam, nông nghiệp và nông thôn là khu vực tạo việc
làm chủ yếu. Cho đến năm 2004 dân số Việt Nam đã đạt tới mức 82 triệu dân
trong đó dân số nông thôn là 60,4 triệu người. Vì vậy, về cơ bản xã hội Việt Nam
vẫn là xã hội nông thôn với dân số nông thôn chiếm 73,68%. Cơ cấu dân số nông
thôn Việt Nam khá trẻ nên lực lượng lao động nông thôn vẫn tiếp tục tăng với
quy mô khoảng 0.5 triệu người/năm.
Năm 2006 lao động nông thôn chiếm 75,4% tổng số lao động cả
nước( tương đương 33.6 triệu người) và đạt tốc độ bình quân là 1,6%, thấp hơn
tốc độ tăng trưởng về việc làm của cả nước(2,3%) trong giai đoạn 1996 – 2006.
25