ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
PHAN VĂN CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
Ở TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Mai Thị Thanh Xuân
Hà Nội - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chƣa từng đƣợc công
bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phan Văn Cầu
LỜI CẢM ƠN
Ngƣời nghiên cứu: Phan Văn Cầu
Giáo viên hƣớng dẫn: PGS.TS. Mai Thị Thanh Xuân
Việc làm luôn là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu
trong các quyết sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia để hƣớng tới
sự phát triển bền vững. Tạo điều kiện cho ngƣời lao động có việc làm, một
mặt nhằm phát huy đƣợc tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nƣớc ta cho
sự phát triển kinh tế - xã hội, mặt khác là hƣớng cơ bản để xóa đói, giảm
nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân,
góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo ra động lực
mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nƣớc tiếp tục đi lên.
Trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa,
đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế cũng đặt
ngƣời lao động Việt Nam nói chung, ngƣời lao động ở nông thôn nói riêng trƣớc
cả cơ hội và thách thức mới trong tìm kiếm việc làm. Chính vì vậy, quan tâm đến
vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn vẫn luôn là vấn đề
mang tính cấp bách, là một trong những giải pháp về phát triển xã hội và là chỉ
tiêu định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đã đề ra.
Quảng Bình là tỉnh nông nghiệp, có vị trí tƣơng đối thuận lợi, có nhiều
tiềm năng, nhƣng thực tế hiện nay, vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế chƣa phát
triển, thu nhập bình quân đầu ngƣời còn thấp, số ngƣời thiếu việc làm, thất
nghiệp còn cao và xu hƣớng diễn ra phức tạp, nhất là ở khu vực nông thôn, đã
ảnh hƣởng rất lớn đối với quá trình phát trển kinh tế- xã hội của tỉnh.
Từ các yêu cầu đặt ra đối với lao động nông thôn tỉnh Quảng Bình,
dƣới góc độ tiếp cận với kiến thức kinh tế chính trị đã đƣợc học, luận văn đã
sử dụng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, phƣơng pháp trừu tƣợng hoá khoa học và các phƣơng pháp
nghiên cứu cụ thể nhƣ phƣơng pháp thu thập số liệu, thống kê - so sánh, logic
- lịch sử, phân tích - tổng hợp, để hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về
1.2.2. Nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 22
1.2.3. Tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn 26
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại một số địa
phƣơng 35
1.3.1. Thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại một số
địa phương 35
1.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Quảng Bình 42
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1. Phƣơng pháp luận 43
2.2. Phƣơng pháp cụ thể 44
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 44
2.2.2. Phương pháp thông kê- so sánh 45
2.2.3. Phương pháp logic- lịch sử 45
2.2.4. Phương pháp phân tích- tổng hợp 46
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN Ở TỈNH QUẢNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2008 - 2013 49
3.1. Thuận lợi và khó khăn trong giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn ở tỉnh Quảng Bình 49
3.1.1. Thuận lợi 49
3.1.2. Khó khăn 53
3.2. Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Quảng
Bình từ năm 2008 đến nay 55
3.2.1. Tổng quan về lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Quảng Bình
hiện nay 55
3.2.2. Chính sách và biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn của tỉnh Quảng Bình 64
3.2.3. Kết quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở tỉnh Quảng
Bình từ năm 2008 - 2013 68
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CCKT
Cơ cấu kinh tế
2
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3
ĐCĐC
Định canh định cƣ
4
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
5
GQVL
Giải quyết việc làm
6
HĐND
Hội đồng nhân dân
7
HĐKTTX
Hoạt động kinh tế thƣờng xuyên
8
HTX
Hợp tác xã
9
KT-XH
Kinh tế- xã hội
10
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 3.1
Lực lƣợng lao động nông thôn tỉnh Quảng Bình 2008-
2013
55
2
Bảng 3.2
Cơ cấu lực lƣợng lao động ở nông thôn phân theo nhóm
tuổi năm 2013
56
3
Bảng 3.3
Cơ cấu lực lƣợng lao động nông thôn chia theo trình độ
học vấn 2008 và 2013
57
4
Bảng 3.4
Lực lƣợng lao động nông thôn chia theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật năm 2008 và 2013
59
5
Bảng 3.5
Thất nghiệp của lực lƣợng lao động nông thôn tỉnh
Quảng Bình
61
6
Bảng 3.6
Tạo điều kiện cho ngƣời lao động có việc làm, một mặt nhằm phát huy
đƣợc tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nƣớc ta cho sự phát triển kinh tế
- xã hội, mặt khác là hƣớng cơ bản để xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ
sở để cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần giữ vững an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp
đổi mới đất nƣớc tiếp tục đi lên.
Chặng đƣờng hơn 25 đổi mới ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho phát
triển kinh tế- xã hội, nhờ đó nền kinh tế đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng ấn
tƣợng. Nền kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực, chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đƣợc cải thiện đáng kể, đặc biệt
diện mạo vùng nông thôn thay đổi rất nhiều. Tuy nhiên, trong thời kỳ phát
triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế cũng đặt ngƣời lao động Việt
Nam nói chung, ngƣời lao động ở nông thôn nói riêng trƣớc cả cơ hội và
thách thức mới trong tìm kiếm việc làm. Hiện nay (năm 2013), trên cả nƣớc
có 67,6% dân số và 46,9% lực lƣợng lao động đang sinh sống và làm việc tại
nông thôn, trong đó có 2,1% số ngƣời trong độ tuổi lao động thất nghiệp và
3,3% tổng số lao động ở nông thôn thiếu việc làm thƣờng xuyên. Trong khi
đó, hàng năm lao động cả nƣớc vẫn tăng thêm từ 3,0%-3,5%, riêng lao động ở
nông thôn tăng trung bình khoảng hơn 0,5 triệu ngƣời/năm, thực tế đó đã tăng
2
sức ép về việc làm rất lớn. Thêm vào đó, quá trình đô thị hoá ngày càng cao
nên dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp bình quân trên đầu ngƣời giảm xuống,
xảy ra tình trạng đất chật, ngƣời đông. Thách thức lớn nhất đối với họ là trình
độ chuyên môn kỹ thuật thấp không đáp ứng đƣợc yêu cầu của các cơ sở
tuyển dụng, nhất là của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Chính vì vậy, quan tâm
đến vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn vẫn luôn là
vấn đề mang tính cấp bách, là một trong những giải pháp về phát triển xã hội
và là chỉ tiêu định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đã đề ra.
- Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, chỉ ra khoảng
trống nghiên cứu mà luận văn cần tiếp tục tìm hiểu và làm rõ.
- Khái quát những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn.
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho ngƣời lao động
ở nông thôn tỉnh Quảng Bình từ năm 2008- 2013, rút ra những thành tựu, hạn
chế trong hoạt động này và nguyên nhân của nó.
- Đƣa ra những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giải
quyết có hiệu quả vấn đề việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn tỉnh
Quảng Bình đến năm 2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là việc làm và giải quyết việc làm cho
ngƣời lao động dƣới góc độ kinh tế chính trị. Những nhân tố tác động tới lao
động và giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn; những chính sách, cơ
chế, các chƣơng trình tạo việc làm và hỗ trợ cho lao động ở nông thôn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu việc làm và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn.
4
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2013.
4. Những đóng góp khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm nội hàm của vấn đề việc làm nói chung
và việc làm của ngƣời lao động nông thôn nói riêng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho
ngƣời lao động ở nông thôn tỉnh Quảng Bình từ 2008 đến năm 2013, chỉ rõ
những thành tựu, hạn chế trong vấn đề này và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả công tác giải quyết
việc làm ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả
đã phân tích vị trí, vai trò của chính sách việc làm trong hệ thống chính sách
xã hội ở Việt Nam, đồng thời đƣa ra các khái niệm về lao động, thị trƣờng lao
động, việc làm, thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam và phƣơng hƣớng giải
quyết, khuyến nghị, định hƣớng một số chính sách cụ thể về việc làm và mô
hình tổng quát về chƣơng trình quốc gia xúc tiến việc làm.
Cao Văn Sâm, 2012. “Dạy nghề cho nông dân là giải pháp quan trọng
phát triển tam nông bền vững”. Tạp chí Lao động và Xã hội, số 9. Trên cơ sở số
liệu thực tế đạt đƣợc tại các vùng nông thôn, bài viết đánh giá những thành tựu
căn bản đạt đƣợc ở các khu vực nông nghiệp nông thôn trong quá trình CNH,
6
HĐH, trong đó, phân tích sâu phƣơng diện chất lƣợng nguồn nhân lực và chất
lƣợng đời sống nông dân. Bài viết cho rằng để làm tăng thêm hiệu quả của
những chủ trƣơng, chính sách, đề án của Đảng và Nhà nƣớc về nâng cao chất
lƣợng nguồn nhân lực và chất lƣợng cuộc sống thì dạy nghề cho nông dân là một
giải pháp cần phải đặc biệt quan tâm. Đồng thời tác giả cũng đã đƣa ra một số
những khó khăn, thách thức gặp phải khi thực hiện chủ trƣơng này.
Nguyễn Sinh Cúc, 2003. “Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn
đề đặt ra”. Tạp chí Con số và sự kiện, số 8. Bài viết chủ yếu nêu lên thực trạng
của vấn đề giải quyết việc làm ở nông thôn, những biện pháp và kết quả cơ bản
trong việc giải quyết việc làm cho ngƣời lao động thời gian qua, trong đó, tác giả
đã đi sâu vào phân tích các hạn chế, khó khăn, nguyên nhân của những hạn chế,
từ đó đặt ra một số nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện để nâng cao hiệu quả công
tác giải quyết việc làm.
Phạm Đức Thành và các cộng sự, 2004. “Lao động và việc làm từ đổi
mới đến nay”. Trong cuốn sách Một số vấn đề kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ
đổi mới do GS.TS Nguyễn Văn Thƣờng (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội. Các tác giả đã đánh giá hiện trạng lao động và việc làm của Việt
Nam trong gần 20 năm và khẳng định, trong những năm qua, tốc độ tăng nguồn
lao động đƣợc hạn chế, cơ cấu nguồn lao động đang có xu hƣớng thay đổi tích
nông dân điều đó trở thành hết sức khó khăn. Vì vậy, tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ ở nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi phát triển rất yếu, quy
mô nhỏ và hiệu quả thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng có thể khai thác.
Thiếu việc làm ở nông thôn còn do lao động tăng nhanh, diện tích ruộng
đất trên một lao động ngày càng giảm, cơ cấu kinh tế lạc hậu. Vì vậy, hiệu quả
8
lao động cũng thấp. Điều đó ảnh hƣởng đến thu nhập và mức sống của cƣ dân
nông thôn.
Một số công trình, bài viết tiêu biểu ở nhóm 3 gồm có:
UBND tỉnh Quảng Bình và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, 2014. “Báo
cáo khoa học Hội thảo Quốc gia về Quảng Bình 410 năm hình thành và phát
triển”. Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính. Cuốn sách là tuyển tập các bài viết
của các GS, Phó GS, tiến sỹ, các nhà nghiên cứu trên mọi miền Tổ quốc và ở
Quảng Bình viết về quá trình hình thành và phát triển vùng đất và tỉnh Quảng
Bình, những chuyển biến cơ bản về kinh tế- xã hội Quảng Bình trong thực hiện
đƣờng lối đổi mới đến nay. Đặc biệt, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Quảng Bình
với bài “ Những thành tựu kinh tế- xã hội nổi bật sau 25 năm tái lập tỉnh và định
hướng phát triển trong thời gian tới”; Thạc sĩ Cái Thị Thuỳ Giang với bài
“Những chuyển biến cơ bản về kinh tế- xã hội trong thời kỳ thực hiện đường lối
đổi mới từ năm 1986 đến nay”, các bài viết đã khái quát tình hình kinh tế- xã hội
của tỉnh và vấn đề giải quyết việc làm của tỉnh trong thời gian qua đã có nhiều
chuyển biến. Cùng với việc mở mang phát triển các chƣơng trình phát triển kinh
tế trọng điểm, đa dạng hoá ngành nghề, loại hình kinh tế, tỉnh đã ban hành chính
sách tạo môi trƣờng để ngƣời lao động tự tạo việc làm. Tuy nhiên, vấn đề giải
quyết việc làm cho lao động vẫn còn nhiều khó khăn, cần phải tiếp tục tăng
cƣờng. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp đƣa Quảng Bình phát
triển nhanh và bền vững.
Phan Nam, 2013. “Đánh giá công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao
động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình”. Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Huế. Luận văn nêu
luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình
10
CNH, HĐH; đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn
tỉnh Kiên Giang trong thời gian qua đồng thời đƣa ra những phƣơng hƣớng chủ
yếu và giải pháp cơ bản giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Kiên
Giang đến năm 2015 và 2020.
Lƣu Thị Bích Ngọc, 2011.“Giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh
Quảng Nam”. Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Ngoài việc khái quát
cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động nữ, tác giả đã đƣa
ra vấn đề, quá trình đô thị hoá làm cho đất đai nông nghiệp bình quân đầu ngƣời
ngày càng ít, thiếu ruộng hoặc không có ruộng, không có tƣ liệu sản xuất và
không tìm đƣợc việc làm, nhất là những tháng nông nhàn đang là một hiện tƣợng
khá phổ biến ở Quảng Nam hiện nay. Trong khi đó, việc đầu tƣ cho phát triển
ngành nghề, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tạo
ra công ăn việc làm, giải quyết nguồn lao động dƣ thừa còn rất hạn hẹp, còn
nhiều bất hợp lý. Trên cơ sở đó, tác giả đã đƣa ra các giải pháp giải quyết việc
làm cho lao động nữ trên địa bàn, nhƣ: phát triển kinh tế; đẩy mạnh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng thu hút các doanh nghiệp về nông thôn;
xã hội hoá vấn đề giải quyết việc làm.
1.1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình trên và vấn đề đặt
ra cần tiếp tục nghiên cứu
Trong các công trình nghiên cứu liên quan vấn đề giải quyết việc làm, các
tác giả đã khái quát những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc làm
và giải quyết việc làm, từ đó đƣa ra các giải pháp để giải quyết việc làm cho lao
động nói chung và lao động ở nông thôn nói riêng. Các giải pháp đó, có giá trị rất
lớn, là biện pháp giúp cho các địa phƣơng, trong đó có tỉnh Quảng Bình rút kinh
nghiệm, ứng dụng và tổ chức các hoạt động giải quyết việc làm tại địa phƣơng.
Những công trình, bài viết xung quanh vấn đề này đã đƣợc nhiều ngƣời
quan tâm dƣới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Song cho đến nay chƣa có một
11
quyển 1, trang 159).
Theo cách tiếp cận của C.Mác, việc làm có liên quan mật thiết với lao
động. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con ngƣời với những nơi làm việc
cụ thể mà ở đó lao động diễn ra, là điều kiện cần thiết nhằm thỏa mãn nhu cầu
xã hội về lao động, là hoạt động lao động của con ngƣời. Dƣới góc độ kinh tế,
việc làm thể hiện mối tƣơng quan giữa các yếu tố con ngƣời và yếu tố vật chất
hay giữa sức lao động và tƣ liệu sản xuất trong quá trình sản xuất vật chất.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm, song xét cho cùng
thực chất của việc làm là sự kết hợp sức lao động của con ngƣời với tƣ liệu
sản xuất.
Ở Việt Nam trƣớc đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu
bao cấp, ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm và đƣợc xã hội thừa nhận,
trân trọng là ngƣời làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc
doanh, tập thể). Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các
thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận có hiện tƣợng thiếu việc
làm, thất nghiệp…
Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nƣớc đến nay, quan
niệm về việc làm đã đƣợc nhìn nhận đúng đắn và khoa học. Điều 13, Chƣơng II
Bộ Luật lao động nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ: "Việc
làm là hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm "(Quốc hội
nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam, 2012). Với khái niệm này, các hoạt động
lao động sau đây đƣợc xác định là việc làm, bao gồm:
- Toàn bộ các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần không bị
pháp luật cấm, đƣợc trả công dƣới dạng bằng tiền hoặc hiện vật;
- Tất cả những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo
13
thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không đƣợc trả
công bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
Nhƣ vậy, khái niệm việc làm theo Bộ Luật lao động của nƣớc ta bao gồm
một phạm vi rất rộng: từ những công việc đƣợc thực hiện trong các doanh
lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất.
Nhƣ vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai khai thác triệt để tiềm năng
của một con ngƣời, nhằm đạt đƣợc việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả.
Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với ngƣời lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện đƣợc quyền và nghĩa vụ
của mình. Trong đó, có quyền cơ bản nhất là quyền đƣợc làm việc nhằm nuôi
sống bản thân và gia đình, góp phần xây dựng quê hƣơng đất nƣớc.
Giải quyết việc làm đƣợc biểu hiện ở một số khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, tạo ra số lƣợng và chất lƣợng tƣ liệu sản xuất. Số lƣợng và
chất lƣợng tƣ liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tƣ, tiến bộ khoa học - kỹ
thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tƣ liệu
sản xuất đó.
Thứ hai, tạo ra số lƣợng và chất lƣợng sức lao động. Số lƣợng lao động
phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động
và sự di chuyển của lao động, chất lƣợng lao động phụ thuộc vào sự phát triển
của giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng,
Thứ ba, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu
quả cao, các giải pháp về quản lý thị trƣờng, kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu
quả của việc làm. Chỉ khi nào trên thị trƣờng ngƣời lao động và ngƣời sử
dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm đƣợc hình