Thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội - Pdf 12

CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
1. Những vấn đề chung về lao động - việc làm khu vực nông thôn.
1.1.Nguồn lao động và lực lượng lao động.
Nguồn lao động là khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán
cân đối lao động - việc làm trong xã hội.
1.1.1. Nguồn lao động.
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người
ngoài độ tuổi lao động ( trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế
quốc dân.
Việc quy định cụ thể tuổi lao động là khác nhau giữa các nước, thậm chí khác
nhau ở các giai đoạn của mỗi nước. Đa số các nước quy định cận dưới ( tuổi tối
thiểu) là 15 tuổi, còn cận trên ( tuổi tối đa) có sự khác nhau ( 60 tuổi, hoặc 64). Ở
nước ta, theo quy định của bộ lao động (2002), độ tuổi lao động đối với nam từ 15
tuổi đến 60 tuổi và nữ từ 15 đến 55 tuổi. Trong nông nghiệp ở nông thôn, do tính chất
dễ chia sẻ của công việc nên lao động ngoài độ tuổi lao động có thể tham gia sản
xuất.
Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và
chất lượng. Nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm:
- Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm.
- Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất
nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu
việc làm và những người thuộc tình trạng khác ( bao gồm cả những người nghỉ hưu
trước tuổi quy định).
Nông thôn Việt nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung cấp
và hậu thuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp. Năm
1990 dân số nông thôn có 53.1 triệu người, chiếm 80.5% dân số cả nước,năm 2006
1
dân số nông thôn Việt nam có 61,3 triệu người chiếm 72,9%. Như vậy, sau 10 năm tỷ

khả năng lao động của nền kinh tế. Tuy nhiên không phải tất cả những
người trong độ tuổi lao động đều là những người tham gia lực lượng lao
động. Tỷ lệ tham gia lực lượng của dân số trong độ tuổi lao dộng là tỷ số
phần trăm giữa số người trong độ tuổi thuộc lực lượng lao động trên dân số
trong độ tuổi lao động. Khu vực nông thôn tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
( dân số đủ 15 tuổi trở lên) là tương đối cao.
1.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động:
Chất lượng lao động là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến năng suất lao động, đến sự
chuyển đổi cơ cấu việc làm theo trình độ kỹ thuật sản xuất. Chất lượng lao động
được đánh giá qua trình độ học vấn chuyên môn và kỹ năng của người lao động cũng
như sức khỏe của họ. Điều này lại phụ thuộc vào hoạt động giáo dục đào tạo và các
dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe. Ngày nay, chất lượng lao động, hiệu quả công việc
còn liên quan đến tác phong, tinh thần, thái độ và tính kỷ luật của người lao động.
1.2. Di cư lao động
Quá trình dư cư ở Việt Nam đã diễn ra từ rất lâu. Số lượng người di cư lớn
nhất là trong đợt di cư có tổ chức của nhà nước đi làm “kinh tế mới”. Thời gian gần
đây, đặc biệt là 10 năm trở lại đây, số người di cư tự do tăng lên do các quan hệ kinh
tế hơn là theo kế hoạch của nhà nước. Các vùng có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị
hóa nhanh là các vùng thu hút số lượng người nhập cư lớn, ngoài ra cũng có di cư từ
các vùng nông thôn tới các vùng nông thôn khác, chẳng hạn người di cư từ các tỉnh
phía Bắc vào Tây Nguyên vì đây vẫn là vùng có thể khai phá, phát triển sản xuất
nhiều hơn so với một số vùng canh tác lâu đời ở các tỉnh phía bắc hoặc các tỉnh đồng
bằng. Gần đây, còn có di cư từ thành thị về nông thôn, điển hình là lao động thành thị
di cư về các khu công nghiệp ở nông thôn. Một dạng di cư khác là xuất khẩu lao động
cũng tăng lên do thị trường lao động ngoài nước là một thị trường rất tiềm năng và
đang được khai thác có hiệu quả. Trong đó, lao động chuyển từ nông thôn ra thành
thị là biểu thị chính của xu hướng di dân trong nước.
Tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa ngày càng cao,
một mặt biến một số vùng nông thôn trở thành thị, mặt khác khu vực thành thị ngày
càng mở rộng cũng tạo ra khả năng số người di chuyển đến các đô thị ngày càng lớn

công nhật, vụ việc là chính.
4
Thị trường lao động nông thôn có những đặc điểm sau:
Cung lao động khu vực nông thôn co giãn nhiều vì khu vực này có tỷ lệ dân số
tăng nhanh. Cầu lao động lại ít co giãn vì cơ cấu sản xuất nông thôn chậm thay đổi,
các nguồn lực cho sản xuất bị hạn chế.
WQuan hệ cung cầu lao động ở nông thôn thể hiện sự dư thừa lao động tiềm tàng
cũng có nghĩa là ở tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng Tiền công ở thị trường này
được xác định ở điểm cân bằng. Điều này cũng phản ánh người lao động chấp nhận
việc làm đơn giản, nặng nhọc và tiền công thấp w
0
.
Thị trường lao động khu vực nông thôn phát triển ở trình độ thấp: tiền công (trả
cho lao động phổ thông, lao động đại trà) trên thị trường rất thấp, tính linh hoạt và
thích ứng của lao động rất hạn chế.
2. Việc làm trong khu vực nông thôn.
2.1. Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng.
Khái niệm việc làm là tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng một cách chính
xác và thống nhất về mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nền kinh tế thị
trường.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức
lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của
con người.
Theo bộ luật lao động của nước ta, khái niệm việc làm được xác định là: “Mọi
hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa
nhận là việc làm”.
5

Ở nông thôn, có một số lượng khá lớn công việc tại nhà không thời gian như:
trông nhà, trông con cháu, nội trợ, làm vườn… có tác dụng hỗ trợ tích cực tăng thêm
thu nhập cho gia đình. Thống kê cho thấy 1/3 quỹ thời gian của lao động làm việc
phụ mang tính hỗ trợ cho kinh tế gia đình, thực chất đây cũng là công việc có khả
năng tạo thu nhập và lợi ích đáng kể cho người lao động.
2.3. Phân loại việc làm ở nông thôn.
Căn cứ vào đặc điểm việc làm lao động nông thôn ta có thể phân chia thành các
loại như: hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp, làm công ăn lương và việc làm
tự tạo.
2.3.1. Hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp
6
Hoạt động nông nghiệp là các hoạt động liên quan trực tiếp đến cây trồng và
vật nuôi. Hoạt động phi nông nghiệp là các hoạt động ngoài các hoạt động kể trên.
Như vậy, khái niệm hoạt động- việc làm phi nông nghiệp là khá rộng, bao gồm các
hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ tại các cơ sở kinh tế và hộ gia đình. Sự phân
loại này không đề cập đến địa điểm hoạt động đó diễn ra, quy mô của hoạt động,
công nghệ được sử dụng cũng như liệu thành phần tham gia chỉ là hộ nông nghiệp
hay hộ gia đình có hoạt động phi nông nghiệp.
2.3.2. Làm công ăn lương và việc làm tự tạo
Việc làm công ăn lương liên quan đến hợp đồng lao động mà người thuê lao
động đưa ra các điều khoản với người lao động và người lao động chỉ phụ thuộc vào
thời gian lao động. Công việc của người lao động được thực hiện dưới sự giám sát
của người sử dụng lao động.
Các hoạt động, được xem như là “ việc làm tự tạo” liên quan đến việc tự quản
lý và sở hữu một cơ sở sản xuất các hàng hóa và dịch vụ. Người mua loại lao động
này không thể đưa ra các khoản trực tiếp về sản phẩm. Ví dụ, những người có các
xưởng sản xuất, cửa hàng cửa hiệu… chỉ có trách nhiệm đối với các kết quả với
chính bản thân họ.
Ở các nước đang phát triển, sự phân chia giữa làm công ăn lương và việc làm tự
tạo nhiều khi không rõ. Có một khoảng trùng lắp giữa lao động được trả công và lao

đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Các chính sách như: chính sách đất
đai; chính sách tài chính tín dụng; chính sách đầu tư; các chính sách về công nghiệp
hóa, đô thị hóa; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nông thôn; các chính sách hạ tầng
cơ sở nông thôn và chính sách về di cư, chính sách cho các đối tượng đặc biệt như
người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội….Các chính sách này ngày càng hoàn thiện, tạo
môi trường thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư, tạo ra nhu cầu lao động, người
lao động có quyền lợi riêng, được làm việc trong môi trường tốt hơn. Thực hiện tốt
các chính sách này, nguồn lao động sẽ được sử dụng một cách hiệu quả, giảm được
8
tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao lao động được sử dụng. Ngược lại, sẽ gây ra các hiện
tượng tiêu cực xã hội gây khó khăn cho phát triển kinh tế.
2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng.
Điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai… Diện tích đất canh tác trong nông
nghiệp ngày một giảm. Tài nguyên nông lâm thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng
do sự khai thác quá mức của con người. Điều kiện thời tiết khí hậu cũng ảnh hưởng
rất lớn đến sản xuất nông nghiệp. điều kiện khí hậu thuận lợi tạo điều kiện cho sản
xuất nông nghiệp phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, tạo khả năng thu hút nhiều
sức lao động trong nông nghiệp. Ngược lại, khi điều kiện khí hậu bất lợi sẽ hạn chế
khả năng tạo việc làm trong nông nghiệp, nông thôn do quy mô sản xuất bị thu hẹp.
Khái niệm hạ tầng cơ sở được hiểu bao gồm hạ tầng cơ sở kỹ thuật và hạ tầng
cơ sở xã hội. Hạ tầng cơ sở kỹ thuật gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung
cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chất thải và
các công trình khác. Hạ tầng cơ sở xã hội gồm các công trình y tế, văn hoá, giáo dục,
thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các công
trình khác. Trong hạ tầng cơ sở thì hạ tầng cơ sở kỹ thuật có vị trí quan trọng và vai
trò của nó đang có xu hướng ngày càng tăng trong quá trình phát triển của nền kinh
tế, đặc biệt đối với những đô thị lớn. Khi cơ sở hạ tầng phát triển, người lao động
được tiếp cận các nguồn lực dễ dàng hơn góp phần tạo ra việc làm và nâng cao hiệu
quả việc làm cho người lao động nông thôn. Việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
sẽ thu hút các nhà đầu tư mở các cơ sở sản xuất, tạo ra nhiều việc làm cho người lao

thị không ngừng mở rộng, các hoạt động sản xuất – kinh doanh và điểm dân cư ngày
càng tập trung. Sự hình thành các đô thị mới được tạo ra trên cơ sở phát triển các
khu công nghiệp và trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở vùng nông thôn và
vùng ngoại ô là xu hướng tất yếu của sự phát triển, là nhân tố mở đường thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển.
4. Dân số - nguồn lao động trong nông thôn.
10
Dân số và việc làm có quan hệ vừa tương hỗ, vừa hạn chế nhau. Dân số tăng
nhanh, quy mô dân số lớn làm tăng số người bước vào tuổi lao động, làm tăng nguồn
lao động dẫn đến nhu cầu việc làm mới tăng theo, gây sức ép cho vấn đề giải quyết
việc làm.
Do tốc độ tăng dân số cao, cơ cấu dân số trẻ làm cho lao động trong độ tuổi
tăng, lao động nông thôn lại chiếm phần tổng cơ cấu lao động xã hội, cơ hội tìm việc
làm càng trở nên khó khăn hơn. Đặc điểm của lao động trong nông nghiệp nông thôn
mang tính thời vụ cao, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, chất lượng lao động thấp chủ
yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Vì vậy, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động thấp, đời sống người lao động gặp nhiều khó
khăn. Sự phân bổ dân cư không đồng đều giữa các vùng trong cả nước cũng là
nguyên nhân dẫn đến việc phân bổ bất hợp lý lực lượng lao động và sử dụng chưa
hiệu quả nguồn nhân lực, nhất là lao động nông thôn, dẫn đến một lượng lớn lao
động dư thừa tại nhiều nơi ở vùng nông thôn gây ra sức ép lớn về việc làm trong sự
phát triển kinh tế. Vì vậy, cần phải có các biện pháp nhằm hạn chế tốc độ tăng dân số
và phân bổ hợp lý nguồn lao động.
5. Các nhân tố khác.
Việt nam có nguồn lao động khá dồi dào nhưng chất lượng lao động còn thấp,
một phần khá lớn không được thu hút vào các khu công nghiệp. Nâng cao chất lượng
lao động là vấn đề cấp thiết. Hệ thống giáo dục và đào tạo hiện đại sẽ đào tạo ra
nhiều lao động có đủ tri thức, có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao.Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra ngày càng nhanh đòi hỏi lao động có chất lượng
nhiều thì giáo dục cũng hiện đại và hợp lý hơn. Ngoài yếu tố giáo dục thì công nghệ

với thu nhập thấp, cuộc sống khó khăn chủ yếu do thiếu việc làm. Giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn để nâng cao mức thu nhập và cải thiện cuộc sống là một
vấn đề cấp thiết.
3.2. Giảm chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, góp phần
12
ổn định xã hội.
Khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị ở Việt Nam có xu hướng
ngày càng tăng. Diện tích đất nông nghiệp ngày một thu hẹp, giá cả các mặt hàng tiêu
dùng ngày một tăng, đời sống của người dân ở nông thôn gặp nhiều khó khăn. Khu
vực thành thị có nhiều cơ hội tìm việc làm và mức thu nhập cao hơn đã thu hút được
nhiều lao động nhất là lao động có trình độ, chuyên môn cao. Khu vực thành thị phát
triển nhanh trong khi khu vực nông thôn không được trú trọng, đầu tư làm cho gia tăng
khoảng cách giàu nghèo và các vấn đề về tệ nạn xã hội xuất hiện nhiều hơn.
3.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động.
Cái đích của phát triển nông nghiệp cũng là vì dân giàu nước mạnh. Mỹ có 2%
dân số làm nông nghiệp. Ở Việt Nam con số này lên tới 70% và số người sống dựa
vào nông nghiệp là 78%. Xu thế của một xã hội phát triển là giảm cơ cấu về mặt
tương đối của nông nghiệp trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
Muốn như vậy, phải có sự dịch chuyển lao động.
Nghị quyết của Đảng đến năm 2020, Việt Nam cơ bản thành nước công nghiệp
hoá. Tiêu chí của nước công nghiệp là gì? Rõ ràng là lao động nông thôn dưới 20%.
Bây giờ thực hiện nghị quyết như thế nào, trong khi chỉ còn 13 năm nữa? Tiêu chuẩn
của một nước công nghiệp là giá trị đóng góp của công nghiệp phải chiếm tuyệt đại
đa số và lao động nông thôn giảm đi, tất nhiên giá trị tuyệt đối phải tăng. Vì vậy, phát
triển nông thôn để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn phải được quan tâm
hơn nữa.
4. Kinh nghiệm giải quyết việc làm của Hàn Quốc, Mông Cổ.
4.1. Hàn Quốc.
Quá trình phát triển các tập đoàn kinh tế lớn của Hàn Quốc luôn đi cùng với
phát triển công nghiệp quy mô nhỏ theo hình thức vệ tinh ở nông thôn phục vụ cho

thu nhập phi nông nghiệp khác để có thêm thu nhập trang trải chi tiêu cho gia đình.
14
Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 60, Hàn Quốc đã xó chính sách khuyến khích
phát triển hoạt động này để thu hút lao động nông nhàn trong đó chính sách tập trung
vào khuyến khích các hoạt động chế biến nông sản và các tài nguyên thiên nhiên tại
địa phương.
4.1.4. Hỗ trợ xây dựng nhà máy ở nông thôn.
Nhờ đẩy mạnh đầu tư phát triển, công nghiệp ở đô thị đã đạt mức toàn dụng về
quy mô vào những năm 1970, vì vậy các nhà máy được khuyến khích chuyển về khu
vực nông thôn để giải quyết việc làm và tạo thêm thu nhập phi nông nghiệp cho nông
dân. Tuy nhiên, thực hiện chính sách di dời nhà máy về nông thôn theo phương châm
“ mỗi làng một nhà máy” không đạt được như mục tiêu đã đề ra do chi phí quá cao về
xây dựng cơ sở hạ tầng để đặt nhà máy tại từng làng.
Dự án phát triển cụm công nghiệp nông thôn đầu tiên được thực hiện vào năm
1984 là dự án đầu tiên trong triển khai thực hiện Luật Pháp Nguồn thu nhập phi nông
nghiệp. Nhờ rút ra bài học kinh nghiệm từ chính sách hỗ trợ đưa nhà máy về từng
làng ở nông thôn của thập kỷ trước, dự án cụm công nghiệp nông thôn đã giảm được
nhiều chi phí. Các dự án này đã góp phần giải quyết việc làm , nâng cao mức thu
nhập cho người dân, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông
thôn.
4.2. Mông Cổ.
Trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo cơ chế thị trường, rất nhiều người
mất việc làm. Theo số liệu tổng điều tra năm 2000, 51% dân số Mông Cổ từ 15 tuổi
trở lên được tính là có việc làm, tỷ lệ này ở nông thôn là 66%, thành thị 41%. Riêng
khu vực nông thôn, tỷ lệ nam có việc làm là 72%, nữ là 60%. Khu vực sản xuất nông
nghiệp thu hút 47% tổng lực lượng lao động cả nước, tính theo khu vực nông thôn
thành thị thì khu vực nông thôn thu hút 82% lao động nông thôn và 8% lao động
thành thị. Chăn nuôi và chế biến nông sản là hai ngành nghề chính trong nông thôn.
4.2.1. Tạo việc làm nhờ phát triển chăn nuôi và các ngành phụ trợ.
Do nông nghiệp và nông thôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Mông

phía tây giáp tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ. Diện tích tự nhiên Hà Nội rộng hơn ba
lần ( hơn 3.300 km
2
) dân số hơn 6 triệu người.
Việc Hà Nội mở rộng sẽ có các quỹ đất lớn để phát triển một số khu chức năng
quan trọng của thủ đô, các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật, các dự án mang tầm
quốc gia trước mắt và lâu dài.
1.1.1. Điều kiện vị trí địa lý tự nhiên.
1.1.1.1. Vị trí địa lý.
Thủ đô Hà Nội chưa mở rộng nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Vị trí địa lý
và địa thế tự nhiên đã khiến cho Hà Nội sớm có một vai trò đặc biệt trong sự hình
thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Từ năm 1010, Hà Nội đã được Vua Lý
Công Uẩn chọn làm thủ đô cả nước. Tính đến năm 2004, Hà Nội có 9 quận Nội thành
( Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân,
Hoàng Mai, Long Biên) với 125 phường, có diện tích 84,3 km
2
( chiếm 9% diện tích
toàn thành phố) và 5 huyện ngoại thành ( Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì
và Từ Liêm) với diện tích là 836,67 km
2
( chiếm 91% diện tích) với 99 xã và 5 thị
trấn.
Hà Tây (cũ) liền kề vớ Hà Nội, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, phía
Đông giáp tỉnh Hưng Yên, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam,
là một tỉnh miền núi trung du. Với dân số trung bình 2.500.000 người, Hà Tây là tỉnh
17
đứng thứ 5 trên toàn quốc về dân số, mật độ 1.100 người/km². Hà Tây là địa bàn xây
dựng mới, là nơi di chuyển các xí nghiệp công nghiệp của Hà Nội. Với vị trí thuận lợi
này, tỉnh có thể tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng
tiêu dùng, hàng thủ công - mỹ nghệ… vào Hà Nội và khu tam giác trọng điểm của

Như vậy, Hà Nội trước và sau khi mở rộng địa hình nhìn chung thấp dần từ Bắc
xuống Nam, từ Đông sang Tây. Địa hình đa dạng, có thể phát triển cả nông, lâm, ngư
nghiệp. Phía Đông Nam Hà Nội là vùng đồng bằng rộng lớn, được phù sa bồi đắp
nên đất tương đối màu mỡ, thích hợp với việc trồng lúa nước, hoa màu và chăn nuôi
gia súc. Vùng núi ở phía Tây Bắc địa hình khá đa dạng và phức tạp. Vùng đồi núi
thấp thích hợp các trang trại chăn nuôi và các một số loại cây hoa quả, vùng đất có
tầng đất rất mỏng thì phát triển các cây trồng lâm nghiệp. Hà Nội không giáp biển
nhưng hệ thống sông ngòi khá dày đặc và có nhiều con sông lớn chảy qua như sông
Hồng, sông Ðáy, sông Ðà, thích hợp với nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt.
1.1.1.3. Khí hậu.
Do đặc điểm của địa hình, Hà Nội chia thành 3 vùng có khí hậu khác nhau:
vùng đồng bằng có khí hậu của đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng của gió biển,
nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,8
0
C, lượng mưa trung bình 1.700 mm – 1.800
mm; vùng đồi gò có khí hậu lục địa chịu ảnh hưởng của gió Lào, nhiệt độ trung bình
24,5
0
C, lượng mưa trung bình 2.300 mm – 2.400 mm; vùng núi cao, chủ yếu khu vực
Ba Vì có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình 18
0
C.
Đặc điểm khí hậu rõ nhất là sự thay đổi khác biệt giữa hai mùa nóng, lạnh. Từ
tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa, từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau
là mùa lạnh và khô. Giữa hai mùa lại có thể nói Hà Nội có đủ 4 mùa: xuân, hạ, thu,
đông, mùa xuân bắt đầu vào tháng. Mùa xuân bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, nóng
bức nhưng lại mưa nhiều. Mùa thu bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 10, trời dịu mát, lá
vàng rơi. Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thời tiết giá lạnh, khô
hanh. Ranh giới phân chia bốn mùa chỉ có tính chất tương đối, vì Hà Nội có năm rét
sớm, có năm rét muộn, có năm kéo dài, nhiệt độ lên tới 40

huyện Sóc Sơn và một phần không đáng kể ở Đông Anh, Gia Lâm. Hà Tây (cũ) tính
đến năm 2002, toàn tỉnh có 16.770 ha rừng, trong đó: Diện tích rừng tự nhiên là
3.922 ha, diện tích rừng trồng là 12.848 ha.
Hà Nội có các khu rừng nổi tiến như: Vườn quốc gia Cúc Phương, Vườn quốc
gia Cúc Phương, Vườn quốc gia Ba Vì, Rừng Tam Đảo, cách trung tâm thành phố từ
50 – 100km. Rừng của Hà Nội là tài nguyên quan trọng để cân bằng môi trường sinh
thái, chống thái hoá đất đồi. Ngoài ra, rừng còn tạo ra cảnh quan thiên nhiên phục vụ
20
cho các hoạt động du lịch, xây dựng các khu nghỉ dưỡng cuối tuần của nhân dân và
du khách.
1.1.2.3. Tài nguyên khoáng sản.
Khoáng sản của Hà Nội và vùng phụ cận rất phong phú và đa dạng. Theo kết
quả điều tra địa chất về khoáng sản, riêng ở Hà Tây (cũ) có một số khoáng sản chính
sau: Ðá vôi (Mỹ Ðức, Chương Mỹ), đá granít ốp lát (Chương Mỹ), đất sét (Chương
Mỹ), than bùn (Mỹ Ðức, Sơn Tây, Quốc Oai, Chương Mỹ), nước khoáng (Ba Vì,
Quốc Oai), pyrit (Ba Vì), ngoài ra còn có các khoáng sản khác như vàng gốc và sa
khoáng (Quốc Oai, Chương Mỹ), đồng (Ba Vì), đolômít (Quốc Oai), cao lanh (Sơn
Tây).
1.1.3. Cơ sở hạ tầng của Hà Nội.
Hạ tầng cơ sở là một bộ phận cơ bản của kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội có vai
trò tạo điều kiện, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một nền kinh tế hoặc một
vùng. Đối với những đô thị lớn như Thành phố Hà Nội, sự phát triển của hạ tầng cơ
sở còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với vị trí, vai trò của Thủ đô cả nước theo
Pháp lệnh Thủ đô, là trung tâm kinh tế, chính trị, du lịch, thương mại và văn hoá, hạ
tầng cơ sở của Thành phố còn có ý nghĩa tiên phong so với các thành phố và các khu
tập trung dân cư khác. Sự phát triển hạ tầng cơ sở của Thủ đô Hà Nội được đặt trong
bối cảnh mục tiêu phải tiến kịp về trình độ tổ chức, quản lý đô thị so với các nước
trong khu vực và quốc tế. Sự phát triển của hạ tầng cơ sở còn có ý nghĩa quan trọng
quyết định việc đảm bảo tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, giải quyết tốt các
vấn đề xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

thuật, các dự án mang tầm quốc gia trước mắt và lâu dài.
Nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng cơ sở là rất lớn. Hàng năm, Nhà nước luôn
dành một phần lớn nguồn vốn cho đầu tư đặc biệt là vốn ngân sách XDCB cho các
dự án hạ tầng. Nhu cầu vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng quan trọng cho giai
đoạn đến năm 2010 khoảng 50.000 tỉ đồng (tương đương 3 tỷ USD); cho giai đoạn
2011-2020 khoảng 180.000 tỷ đồng (tương đương 11 tỷ USD). Phát triển hạ tầng cơ
sở kỹ thuật đô thị là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Thành phố trong giai đoạn
2006-2010. Tuy nhiên các nguồn vốn đầu tư đang mất cân đối lớn đòi hỏi phải được
sự quan tâm đặc biệt ưu tiên tập trung vốn đầu tư của các ngành, các cấp từ Trung
22
ương đến địa phương mới có thể giải quyết được vấn đề này. Do công tác dự báo,
công tác quy hoạch Hà Nội chưa được tốt nên cơ sở hạ tầng phát triển không đồng
bộ, tình trạng quá tải do dân số ở Hà Nội tăng nhanh.
1.1.4. Tình hình phát triển kinh tế.
Hà Nội là trung tâm của miền Bắc Việt Nam – là nơi hội tụ nhiều điều kiện
thuận lợi về kinh tế, văn hoá, thương mại, giao dịch quốc tế và du lịch. Trong tình
hình khó khăn chung của cả nước, Hà Nội phải đi đầu về phát triển kinh tế…” (Đó là
ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trong buổi làm việc với
lãnh đạo Thành ủy và UBND Tp Hà Nội). Hà Nội mở rộng có diện tích tự nhiên lớn
hơn nhưng nhìn chung về tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân, việc làm, giáo
dục, y tế, đói nghèo có chỉ số thấp hơn khi chưa mở rộng. Hà Nội hiện tại có tiềm
năng để phát triển kinh tế hơn,vì có nguồn lực dồi dào hơn nhưng chưa được khai
thác nhiều. Khu vực nông thôn sẽ được quan tâm và đầu tư hơn trước, nhiều khu
công nghiệp sẽ được đưa về nông thôn, mức độ đô thị hoá ở nông thôn diễn ra nhanh
hơn. Một số xã thuộc vùng sâu vùng sa, trước đây một số xã còn chưa có điện hoặc
đường giao thông, sau khi sát nhập vào Hà Nội đã có ánh sáng điện, đường giao
thông đã đến tận thôn bản. Bên cạnh đó, khu vực nông nghiệp nông thôn có một số
khó khăn như: Trong năm vừa qua, sản xuất lương thực được mùa, nhưng nhiều hộ
nông dân bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, lạm phát tăng cao làm cho phần lớn
nguyên, nhiên vật liệu, giá vật tư, giá phân bón, thức ăn chăn nuôi... tăng cao. Cùng

Hà Nội mở rộng thì toàn bộ quy hoạch, chỉ tiêu, định hướng phát triển chiến
lược, trong cơ cấu kinh tế sẽ thay đổi lớn vì nó sẽ cộng các cơ cấu địa phương vào.
Như vậy cơ cấu nông nghiệp tăng lên, tỷ trọng công nghiệp trữ lượng không cao tăng
lên, trình độ, mức độ đô thị hoá kém hơn. Hà Nội sẽ đứng trước một loạt các nhu cầu
to lớn về cải thiện căn bản và cấp bách những cơ sở ở vùng lạc hậu hơn vừa nhập
vào. Đồng thời, Hà Nội cũng đứng trước nhu cầu về cải thiện cuộc sống, cũng như
đào tạo nhân lực khu vực mới.
Việc sát nhập vào Hà Nội còn kéo theo hàng loạt các thách thức như: Hà Nội
sẽ phải gánh một lượng dân số lớn, giải quyết công ăn việc làm, chuyển đổi cơ cấu
chính quyền…
Số người dân bị mất đất nông nghiệp tăng lên, số lượng lao động cần việc làm
tăng lên, giáo dục, y tế…đều thấp hơn trước, chênh lệch giàu nghèo khu vực nông
24
thôn và thành thị Hà Nội gia tăng. Là một thành phố lớn, có tốc độ đô thị hóa, công
nghiệp hóa cao, rõ ràng đây là thách thức không nhỏ đối với lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn Hà Nội.
1.2. Thị trường lao động khu vực nông thôn Hà Nội.
1.2.1. Dân số - lao động khu vực nông thôn Hà Nội.
1.2.1.1. Số lượng dân số - lao động.
Hà Nội mở rộng có quy mô dân số lớn hơn trước, lao động nông thôn tăng lên
nhưng chất lượng lao động lại giảm đi. Hà Nội hợp nhất toàn bộ 2.568.000 người của
tỉnh Hà Tây (cũ), 187.255 người huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc, 4.495 người, 6.606
người, 5.875 người và 3.278 người lần lượt của Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên
Trung thuộc huyện Lương Sơn, Hoà Bình. Dân số Hà Nội hiện nay khoảng hơn 6 triệu
người, cao hơn 1,7 lần khi chưa mở rộng, chiếm 7, 3 dân số cả nước.
Dân số Hà Nội và dân số nông thôn Hà Nội được trình bày qua bảng biểu và đồ
thị sau:
Đơn vị: 1000 người.
Năm Dân số Dân số nông thôn Tỷ lệ
1995 2431 1156.1 0.4756


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status