ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LLCT
*** *** *** *** ***
ĐINH THỊ NHƯ TRANG
VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI QUẬN LONG BIÊN - HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LLCT
*** *** *** *** ***
ĐINH THỊ NHƯ TRANG
VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI QUẬN LONG BIÊN - HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Mai Thị Thanh Xuân
Hà Nội - 2012
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở QUẬN LONG BIÊN HÀ NỘI.... 83
3.1. Quy hoạch sử dụng đất và mục tiêu GQVL cho nông dân bị THĐ tại
quận Long Biên ............................................................................................... 83
3.1.1. Quy hoạch sử dụng đất của quậnLong Biên đến năm 2020 ...... 83
3.1.2. Mục tiêu GQVL cho nông dân bị THĐ tại quận Long Biên đến
năm 2020............................................................................................... 86
3.2. Quan điểm GQVL cho nông dân bị THĐ .............................................. 87
3.2.1. Phải có tầm nhìn dài hạn trong quy hoạch đất đai. ..................... 87
3.2.2. Phải gắn quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch lao động. ......... 87
3.2.3. Công tác GQVL cho nông dân bị THĐ nói riêng và nông dân nói
chung phải được xã hội hóa. ................................................................ 87
3.3. Một số giải pháp chủ yếu tạo việc làm cho lao động bị THĐ tại quận
Long Biên đến năm 2020 ................................................................................ 88
3.3.1. Hoàn thiện quy hoạch phát triển đô thị ...................................... 88
3.3.2. Hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan đến đất đai và việc làm
cho người bị THĐ ................................................................................ 88
3.3.3. Cần có chế tài đối với các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn
Quận về trách nhiệm, đào tạo và tuyển dụng lao động địa phương . 92
3.3.4. Đổi mới hoạt động dạy nghề theo hướng dạy đúng nghề, đúng
đối tượng và đúng nhu cầu................................................................... 93
3.3.5. Nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ người bị THĐ tìm kiếm
việc làm ổn định đời sống .................................................................... 99
KẾT LUẬN.................................................................................................................. 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 110
PHỤ LỤC..................................................................................................................... 115
2
Đô thị hóa
5
GPMB
Giải phóng mặt bằng
6
GQVL
Giải quyết việc làm
7
KCN
Khu công nghiệp
8
KCX
Khu chế xuất
9
KĐT
15
THĐ
Thu hồi đất
16
UBND
Ủy ban nhân dân
17
VL
Việc làm
Lao động thương binh xã hội
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH,HĐH) hoàn thành mục tiêu chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền
kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Hệ quả tất yếu của quá trình đó là sự ra đời
và phát triển các đô thị và các trung tâm thương mại và dịch vụ dẫn đến
dân bị thu hồi đất tại quận Long Biên - Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu
Thu hồi đất là quá trình tất yếu để phát triển CNH, HĐH và đô thị hóa
(ĐTH). Ở nước ta phần lớn diện tích đất thu hồi phục vụ cho phát triển công
nghiệp , dịch vụ, hạ tầng giao thông, đô thị và các công trình phúc lợi khác
đều là ĐNN. Do vậy, lượng lao động bị thất nghiệp từ những nông dân bị
THĐ tăng lên rất nhanh. Vấn đề việc làm cho nông dân bị mất đất tuy không
mới, nhưng vẫn còn là vấn đề có tính thời sự nóng bỏng hiện nay. Đã có
nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Thành phố, cấp Bộ và các luận án, luận văn,
các bài báo nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó, có những công trình liên
quan trực tiếp đến đề tài có thể kể đến là:
- “Việc làm và thu nhập cho lao động bị THĐ trong quá trình CNHHĐH và đô thị hoá”, Đề tài độc lập cấp nhà nước mã số KX.01 do Trường
Đại học Kinh tế quốc dân thực hiện năm 2005. Đề tài đã lý giải tính tất yếu
của việc THĐ trong quá trình CNH-HĐH và ĐTH, cho rằng đây vừa là cơ
hội, vừa là thách thức đối với nước ta trong quá trình phát triển. Cơ hội đó là:
tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng
hiện đại. Thách thức là: người dân mất đất không có việc làm và thu nhập,
đời sống của họ tiềm ẩn sự bất ổn bên trong. Đề tài này cũng đưa ra các dự
báo nhu cầu THĐ và đưa ra khung chính sách đồng bộ bao gồm: Chính sách
5
đền bù, bồi thường thiệt hại; Chính sách tạo việc làm; Chính sách tái định
cư; Chính sách về trách nhiệm và nghĩa vụ của các đơn vị được nhận đất thu
hồi sử dụng vào các mục đích phát triển các KCN, KĐT và các chính sách xã
hội liên quan để đảm bảo việc làm và thu nhập cho đối tượng bị THĐ.
- “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi
để xây dựng các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu
công cộng và lợi ích quốc gia”, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Đề tài
dân bị THĐ ở các huyện ngoại thành Hà Nội. Qua đó, tác giả đưa ra các giải
pháp GQVL cho lao động nông nghiệp bị THĐ ở ngoại thành Hà Nội.
- “Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị mất đất ở bốn huyện
phía tây Hà Nội”, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Kim Cam, Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2009. Luận văn lý giải tầm quan
trọng của việc làm đối với mỗi cá nhân và xã hội từ đó làm rõ ý nghĩa GQVL
đối với sự phát triển xã hội. Tác giả phân tích những biến động kinh tế, thực
trạng THĐ nông nghiệp, việc làm và GQVL cho nông dân bị THĐ ở bốn
quận, huyện phía tây Hà Nội, làm rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân tồn
tại. Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp GQVL cho người nông dân bị THĐ
ở bốn huyện phía tây Hà Nội đến năm 2020.
- “Nghiên cứu đề xuất phương án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH gắn với CNH, HĐH
trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Sở lao động thương binh xã hội Hà Nội,
Đề tài khoa học và công nghệ cấp Thành phố (2005). Cùng với xu thế khách
quan và tất yếu của ĐTH là sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
động ở các vùng bị THĐ sản xuất nông nghiệp, trong đó vấn đề GQVL cho
người lao động thuần nông gặp phải những trở ngại lớn khi họ buộc phải
chuyển đổi nghề mà không có chuyên môn kĩ thuật.
7
Nhìn chung, các công trình và bài viết trên đã có những cách tiếp cận
khác nhau hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp vấn đề việc làm của người dân có
đất bị thu hồi trong những năm gần đây. Đó là những nguồn tài liệu đáng
quý giúp tôi có được những số liêụ và thông tin cần thiết kế thừa và phát
triển trong luận văn của mình. Tuy nhiên, trong số các công trình đã xuất bản
chưa có công trình nào nghiên cứu về GQVL cho nông dân bị THĐ ở quận
Long Biên Hà Nội với tư cách là luận văn thạc sĩ dưới góc độ kinh tế chính
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu vấn đề GQVL cho nông dân bị THĐ dựa trên cơ
sở các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các
quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các văn kiện Đại
hội Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương các khoá; Các chính sách
của Nhà nước, các Nghị định, quyết định của chính phủ, các thông tư hướng
dẫn thực hiện các chính sách của các Bộ ngành liên quan và của Ủy ban nhân
dân Thành phố Hà Nội về THĐ, giải phóng mặt bằng(GPNM) và GQVL cho
nông dân bị THĐ.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử để nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: hệ thống, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
phân tích, thu thập số liệu thứ cấp để làm sáng tỏ vấn đề.
9
Luận văn cũng tiếp cận một số mô hình và lý thuyết hiện đại, kế thừa và
sử dụng có chọn lọc một số đề xuất và các số liệu thống kê trong một số
công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả đi trước.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đó trong việc
GQVL ở quận Long Biên – Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp GQVL cho nông dân bị THĐ ở quận Long Biên
– Hà Nôị.
- Cung cấp một bộ tài liệu làm cơ sở thực tiễn cho quận Long Biên và
Thành phố Hà Nội tham khảo trong việc đề ra chính sách GQVL phù hợp
cho lao động bị THĐ trong thời gian tới.
độ chính trị, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. Khái niệm việc
làm phản ánh nhận thức của con người về vị trí của các hình thức lao động
cụ thể và mối quan hệ của của nó với sự biến đổi về lượng giá trị của hàng
hóa sức lao động trong mỗi thời đại kinh tế - xã hội khác nhau. Điều này lý
giải tại sao trong nền kinh tế hiện đại, vị trí, giá trị của công việc nội trợ,
giúp việc tại các gia đình được nhìn nhận một cách công bằng hơn xã hội
phong kiến trước đây. Khi trình độ con người phát triển mọi mặt, định hướng
chính trị quốc gia thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau, quan niệm việc làm
cũng biến đổi theo.
11
Trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, có việc làm được coi là hợp
pháp, chính đáng song có những công việc tạo ra thu nhập nhưng lại không
được coi là việc làm. Sự phân biệt này dựa trên cơ sở luật pháp và ý thức hệ
của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển. Quan niệm về việc làm
mang lại thu nhập chính đáng cho con người (nghề hợp pháp) phù hợp với
pháp luật của mỗi nước cho phép. Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm trước
và sau thời kỳ đổi mới cũng có sự khác nhau. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã quan niệm "Bất cứ làm nghề gì có ích cho nước nhà, cho dân, cho giai cấp
đều vẻ vang, nấu bếp, quét nhà hay làm chủ tịch đều phải lao động" [15,
tr.59], nhưng vào trước thời kỳ đổi mới, chúng ta vẫn chưa có quan niệm
đúng về việc làm. Chủ trương thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập
trung bao cấp người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa
nhận khi họ làm việc trong các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể còn
làm nội trợ, làm kinh tế gia đình, hành nghề cá thể thì chưa được coi là có
việc làm chính đáng. Nhận thức sai lầm này đã gây ra tình trạng coi thường,
xem nhẹ những lao động trong các hộ gia đình và các cơ sở tư nhân, gây ra
trình trạng lạm dụng sức lao động của người già và trẻ em, đặc biệt ở các khu
làm việc trong các thành phần kinh tế, trong các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức xã hội, xí nghiệp, trường học hoặc tại gia nếu tạo ra thu nhập hoặc tiết
kiệm được chi phí trong sản xuât, tiêu dùng... đều được coi là có việc làm.
Như vậy, khái niệm việc làm được mở rộng về nội hàm và tạo khả năng
to lớn giải phóng tiềm năng lao động, GQVL cho nhiều người. Việc chuẩn
hóa khái niệm việc làm tạo ra cơ sở thống nhất trong lĩnh vực tổ chức lao
động, điều tra, nhiên cứu và hoạch định các chính sách về việc làm của Đảng
và Nhà nước ta.
13
1.1.1.2.Quan niệm về giải quyết việc làm
GQVL theo nghĩa rộng là tổng thể những chính sách và biện pháp của
Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của
đời sống xã hội để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều được
lao động (có việc làm) và có thu nhập. Theo nghĩa hẹp, GQVL là các biện
pháp, chính sách chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm
nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động để giảm tỷ lệ thất nghiệp. Thực
chất của GQVL là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm
sức lao động, tư liệu sản xuất và các điều kiện kinh tế xã hội khác để cho
người có khả năng lao động được lao động và duy trì hoạt động lao động đó.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về GQVL, trong đó nổi bật là lý
thuyết của J.M.Keynes, Athur Lewis, Harry Toshima. Lý thuyết việc làm của
J.M.Keynes được trình bày trong tác phẩm “Lý thuyết tổng quát về việc làm,
lãi suất và tiền tệ” cho rằng: Việc làm có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn
định và tăng trưởng của nền kinh tế. Khi việc làm tăng thì thu nhập tăng, đây
là nhân tố thúc đẩy tăng tổng cung và tăng trưởng nền kinh tế. Nhưng theo
ông, nếu muốn tăng việc làm cần mở rộng đầu tư. Điều này có nghĩa là để
tăng khối lượng đầu tư Nhà nước cần những chương trình đầu tư quy mô lớn,
động trên thị trường là một điều kiện rất quan trọng trong việc quyết định
quy mô việc làm.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Nếu dung lượng thị trường này lớn, sức
tiêu thụ sản phẩm nhiều và nhanh thì cầu về hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng
tương ứng, theo đó cầu về các yếu tố sản xuất tăng, cầu về lao động tăng làm
cho quy mô việc làm cũng tăng lên. Để tạo ra và thúc đẩy tăng trưởng những
nhân tố trên đòi hỏi phải có một loạt các giải pháp như mở rộng tích lũy vốn,
phát triển khoa học công nghệ, khai thác triệt để và có hiệu quả các nguồn
lực về tài nguyên thiên nhiên; điều tiết gia tăng dân số, mở rộng và nâng cao
chất lượng giáo dục - đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; sự hỗ trợ
của các chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư, phát triển
thị trường lao động, chính sách thu nhập, mở cửa nền kinh tế... Về mặt lý
15
thuyết cũng như thực tiễn, đây chính là những giải pháp chủ yếu nhằm
GQVL. Sự phối hợp đồng bộ và có hiệu quả những giải pháp này là điều
kiện thiết yếu làm tăng quy mô việc làm trong xã hội và chính đây cũng là
điều kiện tạo sự tăng trưởng kinh tế.
Lý thuyết của Arthur Lewis được thể hiện tập trung trong công trình
nghiên cứu nổi tiếng “Phát triển kinh tế với không giới hạn nguồn lao
động”. Những lý luận của ông trình bày trong nghiên cứu này được giới
kinh tế học gọi là “Mô hình Lewis” đã chỉ rõ giải pháp GQVL việc làm là
tạo ra sự di chuyển lao động giữa hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp.
Theo ông, các nước kinh tế thuộc thế giới thứ ba muốn chuyển đổi nền kinh
tế truyền thống lạc hậu, chủ yếu sản xuất nông nghiệp năng suất thấp, thừa
lao động sang nền kinh tế hiện đại phải khởi động tăng trưởng bằng cách
thực hiện CNH và có chính sách thu hút các yếu tố kinh tế du nhập để phát
triển khu vực kinh tế hiện đại tạo ra sự di chuyển tự nhiên những lao động
Nhìn chung, các lý thuyết này đã quan tâm đến GQVL bằng những
cách khác nhau. Các lý thuyết trên đã được nhiều quốc gia vận dụng. Nửa
đầu thế kỷ XX, lý thuyết của J.M.Keynes đã có ảnh hưởng sâu rộng đến
nhận thức về vai trò của đầu tư và quan hệ của nó với việc làm trong nền
kinh tế. Lý thuyết này được vận dụng rộng rãi trong qúa trình khắc phục
khủng hoảng kinh tế và GQVL ở các nước châu Âu và Mỹ. Lý thuyết củà
W.A. Lewis được Trung Quốc vận dụng thành công trong phát triển kinh tế
và GQVL cho lao động ở vùng chuyển đổi kinh tế nông nghiệp sang công
nghiệp. Nhưng hiện nay, nước này đang phải giải quyết vấn đề “hậu Lewis”
vì trình độ của lao động di chuyển từ khu vực kinh tế truyền thống không
đáp ứng được sự phát triển lâu dài và liên tục của khu vực kinh tế hiện đại,
còn những lao động thuộc thế hệ con, em họ được đã qua đào tạo thì đòi hỏi
17
mức lương cao hơn. Theo lý thuyết kinh tế của Harry Toshima muốn GQVL
phải phát triển nền nông nghiệp hiện đại, gắn phát triển nông nghiệp với
công nghệ chế biến nông sản. Mỗi lý thuyết đều có ưu điểm và hạn chế nhất
định nó chỉ phát huy được ưu điểm trong những điều kiện kinh tế xã hội
tương đồng. Như vậy, trong nền kinh tế tiền tệ những quan điểm luôn thay
đổi về tương lai, có khả năng ảnh hưởng tới số lượng việc làm chứ không chỉ
định hướng việc làm.
Vì vậy, chính sách GQVL phải hướng tới những biện pháp cụ thể, phù
hợp với hoàn cảnh và đối tượng cụ thể , phải tạo điều kiện cho người lao
động phát huy ưu điểm, thường xuyên nâng cao trình độ. Để có một việc làm
mới không chỉ phụ thuộc vào đầu tư của Nhà nước, của doanh nghiệp mà
còn phụ thuộc đầu tư của chính người lao động để nâng cao giá trị sức lao
động của mình. Những lao động chuyển đổi nghề phải gắn với quá trình vừa
học vừa làm. Giải pháp GQVL phải tạo công việc đảm bảo sự ổn định, phát
nước, có điều kiện nâng cao chất lượng văn hóa – xã hội và dân trí. Do đó,
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia, vấn đề GQVL
cho người lao động nhằm sử dụng hợp lý nguồn lực con người đang được
thừa nhận là rất quan trọng và quyết định đối với một nền kinh tế. Bất kỳ
một quốc gia nào nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động thì
quốc gia đó nhất định có nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Nhật Bản là
quốc gia có điều kiện tự nhiên không thuận lợi nhưng chỉ trong vòng 2 thập
kỷ, đất nước này đã trở thành cường quốc đứng thứ hai thế giới nhờ coi
trọng việc sử dụng nguồn lực con người trong quá trình khôi phục và phát
triển kinh tế [6, tr.12].
Như vậy, giải quyết tốt việc làm cho người lao động có thể tận dụng
hiệu quả cả thể lực và trí lực của con người cho công cuộc phát triển kinh tế.
Việt Nam là quốc gia có dân số đông (trên 86 triệu người), trong đó hàng
19
năm có khoảng trên một triệu người đến tuổi lao động. Năm 2011, vấn đề
việc làm và nâng cao thu nhập của người lao động thật sự trở nên cấp bách.
Từ năm 2000 đến nay, các cấp chính quyền đã có nhiều chính sách, biện
pháp giảm tỷ lệ thất nghiệp tạo việc làm cho người lao động như: Xây dựng
và tổ chức thực hiện các đề án GQVL cho lao động, tạo điều kiện về cơ chế,
chính sách, vay vốn... thành lập và phát triển các doanh nghiệp tư nhân, các
cơ sở làng nghề, cải cách doanh nghiệp Nhà nước, tăng cường quan hệ
thương mại thế giới...Tuy vậy, vấn đề việc làm cho người lao động ở nước ta
hiện nay đang đạt ra nhiều đòi hỏi phải được giải quyết hiệu quả phục vụ cho
sự phát triển kinh tế.
1.1.2.2. Vai trò xã hội
GQVL càng nhiều phản ánh sức thu hút mạnh mẽ và sử dụng nguồn
nhân lực hiệu quả vào các hoạt động sản xuất của cải vật chất và các dịch
thu hút lao động có việc làm và tăng thu nhập của cộng đồng dân cư. Do
đó, GQVL cho người lao động là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
Chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ, nhất là đối với các nước đang
phát triển, có dân số đông, tỷ lệ gia tăng dân số cao thì vấn đề GQVL lại
càng quan trọng và cấp thiết.
1.2. Giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ
1.2.1. Sự cần thiết và đặc điểm GQVL cho nông dân bị thu hồi đất
1.2.1.1. Sự cần thiết GQVL cho nông dân bị THĐ
GQVL cho người lao động là vấn đề muôn thủa của mọi quốc gia,
trong giai đoạn hiện nay, GQVL cho lao động bị THĐ vừa mang tính lâu dài
vừa mang tính cấp bách. Điều đó xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất: Trong quá trình thực hiện CNH, HĐH, Nhà nước đã tiến hành
thu hồi nhiều diện tích ĐNN để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội,
21
trong đó tập trung phát triển các cụm, KCN, dịch vụ nhằm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và lao động. Chính sách này đã thu hút được hàng chục ngàn dự
án của các nhà đầu tư trong và ngoài nước với số vốn vài chục tỷ USD và
hàng trăm ngàn tỷ đồng để phát triển KCN, KĐT. Theo đó, hàng triệu lao
động đã tìm được việc làm tại đây với thu nhập cao, trong đó có một số ít lao
động trẻ là những nông dân bị THĐ. Song thực tế số lao động tìm được việc
làm chỉ có tính tạm thời nên số lao động không có việc làm lại tăng lên. Cụ
thể là: sau 5 đến 10 năm, chỉ có một số rất ít lao động có tay nghề cao và sức
khỏe tốt được tiếp tục làm việc, đa phần còn lại bị sa thải vì bị mất ưu thế về
sức lao động và mức lương thấp. Sau một thời gian ổn định, các doanh
nghiệp sẽ tuyển những lao động có sức khỏe tốt hơn và trình độ nghề nghiệp
cao hơn để đảm bảo yêu cầu về chất lượng lao động trong nhà máy của họ.
Điều này xảy ra phổ biến ở các KCN có các nhà đầu tư nước ngoài đã làm
thực hiện THĐ những hệ lụy về GQVL cho nông dân mà nó gây ra đã vượt
quá khả năng giải quyết của chính quyền địa phương. Vì thế, việc THĐ nông
nghiệp để phát triển các KCN, KĐT thực hiện mục tiêu CNH, HĐH vốn là
để GQVL cho nông dân theo hình thức chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu
lao động thì nay lại trở thành sức ép về GQVL. Vấn đề GQVL cho nông dân
bị THĐ trở nên gay gắt hơn, số lượng lao động nông nghiệp bị mất việc làm
ngày một tăng lên trong cả nước qua mỗi năm thực hiện CNH.
Thứ hai: Những lao động bị THĐ không đáp ứng được yêu cầu tuyển
dụng lao động của các doanh nghiệp. Mặc dù các doanh nghiệp nhận đất thu
hồi đều cam kết với chính quyền địa phương sẽ GQVL cho nông dân bị
THĐ, cụ thể là: Ở Hà Nội thu hồi 1ha đất doanh nghiệp phải tạo việc làm
mới cho 10 lao động, Hưng Yên thu hồi 100m2 doanh nghiệp phải GQVL
cho 1 lao động. Nhưng trên thực tế số lao động được tuyển dụng làm việc
trong các doanh nghiệp này chiếm tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 20- 30%). Phần lớn
23