Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội : Luận văn ThS. Kinh tế: 60 31 01 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN TIẾN TRÍ

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC,
TP HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN TIẾN TRÍ

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, TP HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.

TS MAI THỊ THANH XUÂN


i


2.1.2 Những khó khăn. ............................................................................. 40
2.2. Thực trạng thu hồi đất và giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ tại
huyện Hoài Đức từ năm 2008 đến nay.......................................................... 41
2.2.1 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp và tác động của nó đến lao động
nông nghiệp trên địa bàn huyện ............................................................... 41
2.2.2. Thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ giai đoạn 2008
- 2011 ...................................................................................................... 46
2.3. Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở
huyện Hoài Đức ........................................................................................... 58
2.3.1 Những thành tựu cơ bản ................................................................. 58
2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân ...................................................... 61
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT ...................................................... 69
3.1 Xu hướng biến động đất đai và lao động của huyện Hoài Đức đến năm
2020 ............................................................................................................. 69
3.1.1. Xu hướng biến động về đất đai ...................................................... 69
3.1.2. Xu hướng biến động về dân số và lao động ................................... 70
3.2. Quan điểm giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ................... 71
3.2.1 Cần có tầm nhìn dài hạn trong quy hoạch đất đai để giảm thiểu tình
trạng THĐ của nông dân. ........................................................................ 71
3.2.2 Vấn đề giải quyết việc làm phải đặt trong mối quan hệ với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh các ngành nghề truyền
thống. ...................................................................................................... 71
3.2.3 Giải quyết việc làm cho người lao động cần tập trung vào hướng
nâng cao chất lượng lao động, đa dạng hóa trình độ đào tạo và ngành nghề
đào tạo của người lao động. ..................................................................... 72


1

CCN

Cụm công nghiệp

2

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3

ĐTH

Đô thị hóa

4

KCN

Khu công nghiệp

5

KCX

Khu chế xuất

STT

Bảng

Nội dung

Trang

1

2.1

Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp

43

2

2.2

Số hộ và diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

44

3

2.3

Kinh phí đền bù của các xã


Thời gian cần thiết để tìm được việc làm

54

8

2.8

Tình trạng việc làm

55

9

2.9

Nhu cầu làm thêm

55

10

2.10

Thu nhập bình quân / 1 người/ tháng

56

11



1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) đất nước, nên sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN), cụm công
nghiệp(CCN), các khu chế xuất(KCX) và đô thị diễn ra nhanh chóng là một
tất yếu khách quan. Tuy nhiên, sự phát triển đó đã dẫn đến nhiều hệ lụy, làm
thay đổi nhiều mặt trong đời sống kinh tế xã hội nông thôn, trước hết là làm
thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và cơ cấu đất đai,
lao động, việc làm, thu nhập nói riêng. Về lâu dài, sự thay đổi này mang tính
tích cực, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng
công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong
tổng sản phẩm quốc nội, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất
nước, tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Đến lượt nó,
quá trình CNH, HĐH sẽ có tác động tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, đồng
thời giảm nhẹ sức lao động cơ bắp của người nông dân. Tuy nhiên, trước
mắt sự phát triển các KCN, KCX và đô thị cũng tạo ra rất nhiều khó khăn
cho nông dân các vùng có đất bị thu hồi. Đó là: sự mất dần diện tích đất
nông nghiệp và hậu quả của nó là hàng ngàn nông hộ không hoặc thiếu đất
sản xuất, tăng tỷ lệ thất nghiệp. Thêm vào đó, việc sử dụng tiền đền bù
không đúng mục đích, dẫn đến lãng phí, đôi khi còn gây hậu quả xã hội
không lường. Sự tăng lên về giá tiêu dùng do sự tập trung của nhiều lao
động; các vấn đề xã hội nảy sinh ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Vì
vậy, việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập một cách ổn định cho lao động
nông thôn nói chung và cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng,
đang là vấn đề có tính chất thời sự ở nhiều địa phương hiện nay.
Huyện Hoài Đức cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó. Trong

1




đất theo hướng “ly nông bất ly hương”. Như vậy, bài viết của tác giả Nguyễn
Sáng mới chỉ dừng lại ở định hướng chưa đưa ra những giải pháp cụ thể.
-“Hướng đi hiệu quả cho nông dân mất đất”, của Thiên Tú,(báo điện tử
kinh tế và đô thị ngày 1 tháng 7 năm 2011). Trong công trình này tác giả đã
nêu ra được thực trạng thu hồi đất của xã Di Trạch (huyện Hoài Đức) trong
những năm qua, đồng thời tác giả đã đưa ra hướng đi mới cho nông dân bị thu
hồi đất.
Xã Di Trạch vốn là một vùng thuần nông, chủ yếu là cấy lúa và hoa màu.
Song những năm gần đây, do tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá, Di Trạch bị
thu hồi trên 80% diện tích đất nông nghiệp. Do đó, nhu cầu việc làm của
người nông dân là rất lớn. Nắm bắt nhu cầu đó, xã Di Trạch đã nhạy bén vận
động người dân chuyển sang trồng cây cảnh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Hướng đi này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và đặc biệt giải quyết việc làm
cho người nông dân trung niên, là đối tượng khó xin việc trong các khu công
nghiệp. Tuy nhiên, do giới hạn phạm vi nghiên cứu nên công trình này chỉ
giải quyết một phần nhỏ trong lực lượng lao động là nông dân mất đất.
- “Nhà nông không… đất”. của tác giả Thế Vũ, đăng trên tạp chí điện tử
của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tác giả đã phân tích về thực trạng thu hồi
đất nông nghiệp, vấn đề việc làm của nông dân bị thu hồi đất từ đó đánh giá
những vấn đề đặt ra.
Tác giả khẳng định, trong thời gian qua tốc độ thu hồi đất tại xã An
Khánh diễn ra nhanh, do đó tác động mạnh đến việc làm và đời sống của nông
dân ở Xã (tới hơn 90% đấ t sản xuấ t nông nghiê ̣p của xã đã bị thu hồi để
chuyển sang làm các dự án công nghiệp, đô thị). Viễn cảnh “nhà nông không
đất” đã hiển hiện khi tại 4/5 thôn, người dân đã không còn đất canh tác; nhiều
hộ dân không có việc làm và phải lo chạy ăn từng bữa.

3




Bài viết đã đã đánh giá những thành tựu đạt được và những mặt còn hạn
chế như: số lao động việc làm cao và xu hướng tăng lên; Khả năng tạo mở
việc làm từ các dự án còn ít, lao động tự tạo việc làm còn ít. Rút ra những
nguyên nhân khách quan và chủ quan như: Do công tác quy hoạch, ban hành
và thực hiện chính sách; Về phía người dân do trình độ học vấn và trình độ
chuyên môn còn thấp, những nguyên nhân về nhận thức…
Tác giả cũng đã đưa ra định hướng và giải pháp có tính khả thi trong
việc giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất: Hoàn thiện việc quy
hoạch đất đai và quản lý tốt kinh phí trong đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt
bằng, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tổ chức đào tạo nghề cho nông
dân, tăng cường các hoạt động hỗ trợ để khuyến khích người lao động tìm
kiếm việc làm và phát triển sản xuất, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động,
tăng cơ hội việc làm ngoài nước cho người lao động...
Mặc dù trong đề tài này tác giả đã nghiên cứu vấn đề một cách có hệ
thống, song thực tiễn trong thời gian gần đây đã có nhiều biến động mạnh mẽ
về kinh tế - chính trị - xã hội làm cho những giải pháp này không còn phù hợp
hoặc không phát huy được những hiệu quả mà tác giả mong đợi.
-“Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại quận Long
Biên – Hà Nội”, luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Như Trang, Trung tâm đào tạo
bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2012.
Luận văn đã làm rõ tính tất yếu của thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH và
Đô thị hóa; sự cần thiết giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất; trên
cơ sở phân tích thực trạng thu hồi đất và giải quyết việc làm trên địa bàn quận
Long Biên tác giả đã đưa ra những giải pháp tạo việc làm cho lao động thuộc
diện thu hồi đất ở Quận này.
- “Thực trạng thu nhập đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi
để xây dựng các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu


6


địa bàn huyện Hoài Đức từ năm 2008 đến năm 2011.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác
giải quyết việc làm trên địa bàn huyện đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
việc làm và giải quyết việc làm cho người nông dân trong vùng có đất nông
nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng sang phát triển các công nghiệp, đô
thị…, tình hình thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước với các hộ có
đất thu hồi, những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, các giải pháp nhằm
giải quyết việc làm cho người nông dân trong những vùng thu hồi đất.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện
Hoài Đức
Tuy nhiên, để rút ra bài học cho huyện Hoài Đức, luận văn cũng nghiên
cứu vấn đề này trên một số địa phương khác có điều kiện tương đồng với
huyện.
+ Phạm vi thời gian từ năm 2008 đến nay (khi Hà Tây nhập vào Hà
Nội)
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, phương pháp lôgic và nghiên cứu so sánh
- Các phương pháp phân tích chủ yếu: phương pháp so sánh, phương
pháp tổng hợp

7


HĐH) đất nước, nên sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN), cụm công
nghiệp(CCN), các khu chế xuất(KCX) và đô thị diễn ra nhanh chóng . Theo
đó, một bộ phận khá lớn đất thổ cư, đất nông nghiệp phải chuyển mục đích sử
dụng, phục vụ cho yêu cầu của sự phát triển chung. Điều đó có ý nghĩa là việc
THĐ đối với các hộ nông dân trong vùng qui hoạch là tất yếu, do:
Thứ nhất, trong quá trình CNH,HĐH cần phải có mặt bằng xây dựng
các cơ sở sản xuất CN, khu CN, khu chế xuất, khu kinh tế mở nhằm thu hút
đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong
khi đó, diện tích đất trống không còn nên muốn phát triển hệ thống sản xuất
CN thì không thể không chuyển một bộ phận diện tích nhất định đất đai nông
nghiệp cho việc tạo lập mặt bằng triển khai hoạt động sản xuất này.
Thứ hai, do nằm trong một cơ cấu kinh tế, các ngành kinh tế có quan
hệ tác động thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau, nên sự phát triển sản xuất CN, tất
yếu phải phát triển các ngành kinh tế dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng
như sân bay, bến cảng, hệ thống đường giao thông, hệ thống lưới điện quốc
gia, hệ thống thông tin, liên lạc, bưu chính, viễn thông, hệ thống thủy lợi và
phát triển đô thị. Điều này đòi hỏi phải mở rộng diện thu hồi đất đã và đang
đang sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp để chuyển sang phát

9


triển sản xuất CN, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng vì lợi ích chung của
nền kinh tế quốc dân và phát triển đô thị.
Trên thực tế, chỉ tính 15 năm kể từ khi bắt đầu thành lập các KCN đến
cuối năm 2006, cả nước đã có 135 KCN và KCX với tổng diện tích đất tự
nhiên trên 30.000 ha, thu hút 4.516 dự án đầu tư trong và ngoài nước. Ngoài
ra, còn có 124 cụm CN hoặc KCN vừa và nhỏ do các địa phương thành lập,
với tổng diện tích hơn 6.500 ha. Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt, từ tháng 8/2005 đến năm 2015 và định hướng năm 2020 cả nước

đến việc sản xuất, qua đó thúc đẩy tăng năng suất lao động nông nghiệp, kích
thích sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường, tăng hiệu quả.
Những năm gần đây nhờ phát triển công nghiệp và việc hình thành các
KCN, KCX đã chuyển được hàng triệu lao động nông nghiệp sang công
nghiệp, người lao động đã có thu nhập khá hơn so với khi làm nông nghiệp,
mức sống vật chất và tinh thần của cá nhân và gia đình họ đã được nâng lên.
Theo thống kê tổng diện tích đất đai năm 2003 của cả nước có
33.104.200 ha, trong đó đất nông nghiệp 9.531.800 ha, đất lâm nghiệp có
rừng 12.402.200 ha, đất chuyên dùng 1.669.600ha, đất ở 460.400 ha, còn
8.867.400 ha đất chưa sử dụng.Bình quân từ năm 1996 đến năm 2003, đất
chuyên dùng tăng 52.545 ha/năm. Theo báo cáo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn 20 năm đổi mới của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, thì chỉ trong giai đoạn 2001 – 2005, cả nước đã có 366.440 ha đất
nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó có 15.383 ha
chuyển sang xây dựng KCN, KCX và 24.173 ha xây dựng các cụm CN vừa
và nhỏ [11,tr.2]. Đất chuyên dùng tăng lên chủ yếu là do xây dựng và phát
triển các cơ sở sản xuất CN, các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia. Kể từ khi thực hiện đường lối

11


đổi mới, chuyển sang phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh CNH, HĐH ở
nước ta, việc thu hồi đất cho phát triển CN càng được tăng cường.
1.1.2 Tác động của việc thu hồi đất đến việc làm và giải quyết việc làm cho
nông dân
1.1.2.1 Những tác động tích cực
Thứ nhất, một bộ phận nông dân có cơ hội chuyển sang lĩnh vực công
nghiệp và dịch vụ, với mức thu nhập cao hơn.
Việc THĐ để xây dựng các KCN, KĐT chính là điều kiện và thời cơ tốt

1.134,81 ha/6.550 ha cần thu hồi. Và hiện đã có 4 KCN hoạt động, thu hút
khoảng 19.500 lao động, trong đó lao động địa phương là 11.000 người. Với
diện tích thu hồi trên có 24.180 lao động cần việc làm (tức đã giải quyết được
45% lao động có đất bị thu hồi) [5,tr.38]
Tỉnh Bình Dương, đã có 28 KCN, với diện tích 8.929,13ha, trong đó có
23 KCN đã hoạt động. Tổng số lao động đang làm việc tại các KCN Bình
Dương là 222.416 người. Số người đang độ tuổi lao động của tỉnh là 800.000
người, dân số nhập cư là 50%. Vậy có thể ước tính lao động địa phương được
thu hút là 111.208 người và với diện tích thu hồi trên ước tính cần giải quyết
cho 140.000 lao động chuyển đổi.
Tỉnh Bắc Ninh, tính đến tháng 10/2011, có 15 KCN, diện tích thu hồi là
5.961 ha. Trong đó có 10 KCN đang triển khai xây dựng, hiện tại có 259
doanh nghiệp đã hoạt động, đã giải quyết việc làm cho 72.210 lao động, lao
động địa phương là 33.197 người (chiếm 46% tổng số việc làm từ KCN), 1ha
công nghiệp thu hút 12,11 lao động, số lao động cần chuyển sang phi nông
nghiệp khoảng hơn 127 nghìn người. Nhiều KCN Bắc Ninh đang được xây
dựng, chưa đi vào hoạt động, số lao động thu hút dự kiến sẽ tăng nhanh trong
những năm tới.

13


Theo điều tra, thu nhập của lao động tại các KCN trên cả nước hiện
nay, mức lương trung bình từ khoảng 3,5-5,5 triệu đồng/tháng, đời sống được
cải thiện so với sản xuất nông nghiệp.
KCN còn thu hút một số lượng lao động ngoại tỉnh. Trên các địa
phương có đất thu hồi, đã xây dựng hàng nghìn phòng trọ cho công nhân
ngoại tỉnh thuê (đây là nguồn thu nhập khá ổn định cho nông dân mất đất).
Nông dân còn có thể có việc làm trong các loại hình thương mại nhỏ, dịch vụ
sinh hoạt, phục vụ xây dựng, giáo dục, y tế, vui chơi giải trí...Các loại việc

Thứ ba, người nông dân có sự đổi mới trong tư duy, tác phong và kỷ
luật trong lao động.
Tâm lý tiểu nông được hình thành, tồn tại bởi rất nhiều yếu tố, trong đó
trực tiếp và chủ yếu là nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, manh mún, tình
trạng nền sản xuất phân tán, biệt lập, khép kín là phổ biến, đặc biệt là tình
trạng kém phát triển của sự phân công lao động xã hội. Dẫn đến những đặc
trưng tiêu cực như: thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, bảo thủ, lối nghĩ
dựa theo kinh nghiệm; hẹp hòi, vị lợi, cục bộ địa phương; tính tuỳ tiện, kém
kỷ luật, kỷ cương, trọng lệ hơn luật... Đó chính là tính lưỡng diện, vừa thống
nhất vừa mâu thuẫn trong tâm lý tiểu nông Việt Nam. Quá trình CNH, HĐH
đất nước giúp người dân có sự đổi mới về tư duy từ sản xuất nhỏ sang sản
xuất lớn với tác phong lao động công nghiệp kỷ luật cao và đạt năng suất lao
động cao.
1.1.2.2 Những tác động tiêu cực
Nông dân vùng thu hồi đất phải hứng chịu những tác động không mong
muốn, thậm chí một bộ phận dân cư không còn nguồn mưu sinh, có cuộc sống
bất ổn.
Thứ nhất là, số lượng lao động bị mất việc làm nhiều trong khi giải
quyết việc làm cho họ trong các KCN thì ít.

15


Thực trạng THĐ nông nghiệp đã làm cho hàng vạn nông dân cả nước
bị mất việc làm. Theo số liệu của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, từ
năm 2005 – 2009, Hà nội có gần 108.000 người (bình quân 2 lao động/ hộ) bị
mất việc ; Hà Nam 12.360 người ; Hải Phòng 13.274 người…Một số xã như
xã An Khánh (Hoài Đức, Hà Nội) sau khi giao 96% đất nông nghiệp, số lao
động mất việc làm lên tới 1.401 người(chiếm 60% lực lượng lao động). Xã
Lai Vu (Kim Thành, Hải Dương) sau khi giao 87% đất nông nghiệp, 1.200

động. Chính sách này đã thu hút được hàng chục ngàn dự án của các nhà đầu
tư trong và ngoài nước với số vốn vài chục tỷ USD và hàng trăm ngàn tỷ đồng
để phát triển KCN, KĐT. Theo đó, hàng triệu lao động đã tìm được việc làm
tại đây với thu nhập cao, trong đó có một số ít lao động trẻ là những nông dân
bị THĐ. Song thực tế số lao động tìm được việc làm chỉ có tính tạm thời nên
số lao động không có việc làm lại tăng lên. Cụ thể là : sau 5 đến 10 năm, chỉ
có một số ít lao động có tay nghề cao và sức khỏe tốt được tiếp tục làm việc,
đa phần còn lại bị sa thải vì bị mất ưu thế về sức lao động và mức lương thấp.
Sau một thời gian ổn định, các doanh nghiệp sẽ tuyển những lao động có sức
khỏe tốt hơn và trình độ nghề nghiệp cao hơn để đảm bảo yêu cầu về chất
lượng lao động trong nhà máy của họ. Điều này xảy ra phổ biến ở cac KCN
có các nhà đầu tư nước ngoài đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp tại các vùng THĐ
nông nghiệp tăng lên nhanh chóng.
Mặc dù các doanh nghiệp nhận đất thu hồi đều cam kết với chính quyền
địa phương sẽ GQVL cho nông dân bị THĐ, cụ thể là : Ở Hà Nội thu hồi 1ha
đất doanh nghiệp phải tạo việc làm mới cho 10 lao động, Hưng Yên thu hồi
100m2 doanh nghiệp phải GQVL cho 1 lao động. Nhưng trên thực tế số lao
động được tuyển dụng làm việc trong các doanh nghiệp này chiếm tỷ lệ rất
nhỏ (khoảng 20 – 30%). Phần lớn còn lại không được tuyển do không đáp
ứng được yêu cầu của công việc, một phần nữa do sự thất hứa của doanh

17


nghiệp. Vì thế, những người nông dân bị THĐ nếu không tự tìm việc khác
cho mình thì lâm vào tình trạng thất nghiệp là tất yếu.
Thứ ba, những người nông dân bị THĐ có tư tưởng ỷ lại vào chính
sách hỗ trợ của Nhà nước và tiền đền bù mà chưa tự mình tìm kiếm việc làm.
Đây cũng là lý do người dân bị THĐ không quan tâm đến xuất khẩu lao
động. Mặt khác, việc tổ chức chỉ đạo, tuyên truyền hướng dẫn cho người lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status