HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ- HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2010
ĐỀ TÀI:
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA Ở
VÙNG TRỌNG ĐIỂM KINH TẾ MIỀN
TRUNG (QUA KHẢO SÁT Ở QUẢNG NAM
VÀ ĐÀ NẴNG)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: THS. NGUYỄN DŨNG ANH
ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ: HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ- HÀNH
CHÍNH KHU VỰC III
MÃ SỐ: B.10.29
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA
17
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về việc làm và việc làm cho người lao
động bị thu hồi đất
17
1.2. Thu hồi đất để công nghiệp hoá, đô thị hoá- một tất yếu khách quan 26
1.3. Một số kinh nghiệm trong và ngoài nước về giải quyết việc làm cho
lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá
39
1.4. Nhận thức của người lao động bị thu hồi đất ở Quảng Nam và Đà
Nẵng về vấn đề việc làm trong giai đoạn hiện nay
41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA Ở
QUẢNG NAM VÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
46
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên và điều kiện kinh tế- xã hội của vùng 46
2.2. Thực trạng chất lượng lực lượng lao động và tình hình việc làm cuả
lao động bị thu hồi đất
58
2.3. Tình hình giải quyết việc làm 76
3.2.6. Tăng cường trách nhiệm đối với các doanh nghiệp hoạt động sản
xuất kinh doanh ở vùng bị thu hồi đất trong việc giải quyết việc
làm cho lao động nhường đất
134
3.2.7. Tăng cường giáo dục tính chủ động về tự tạo và tìm kiếm việc làm
cho lao động bị thu hồi đất
136
3.2.8. Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động và tạo điều kiện thuận lợi
cho lao động bị thu đất được tham gia
137
KẾT LUẬN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
BẢN KIẾN NGHỊ CỦA ĐỀ TÀI 148
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề việc làm cho người lao động luôn là một vấn đề được tất cả các
quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Bởi lẽ, đây không chỉ là quan tâm
giải quyết các vấn đề thu nhập, ổn định cuộc sống cho cá nhân và gia đình
người lao động, mà còn là vấn đề của sự phát triển quốc gia.
Song để giải quy
ết vấn đề trên không đơn giản trong điều kiện hiện
nay, khi mà tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trên thế giới ngày càng có
những biến động đáng quan ngại, nhất là đối với các nước đang phát triển, các
nước nghèo. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, từ năm 2001 đến 2007,
hàng năm có khoảng trên tám trăm triệu người thất nghiệp hoặc thiếu việc
làm, con số này t
ập trung chủ yếu ở các nước nghèo, các nước đang phát
triển. Riêng khu vực nông thôn của Trung Quốc trong giai đoạn 2000- 2007
chuẩn bị chuyển đổi nghề nên việc giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp hiện đang là vấn đề rất nan giải. Hơn nữa, cuộc khủng hoảng kinh tế-
tài chính toàn cầu diễn ra từ năm 2008
đến nay đã đẩy nền kinh tế thế giới,
trong đó có Việt Nam, lâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng, sản xuất kinh
doanh bị thu hẹp, thêm hàng chục vạn lao động bị mất việc làm, làm cho tình
trạng thiếu việc làm, thất nghiệp diễn ra thêm căng thẳng hơn. Theo số liệu
thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động ở nước ta trong giai đoạn
2000- 2006 luôn ở mức trên 5,5%
1
, riêng khu vực thành thị, tỷ lệ này dao
động ở mức trên 4,8%/ năm. Và theo ước đoán của các nhà quản lý, số lao
động bị mất việc làm do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính
toàn cầu vừa qua đã làm cho hàng chục ngàn doanh nghiệp phải thu hẹp hoặc
đình sản xuất thì sẽ có khoảng gần 0,5 triệu lao động bị mất việc làm trong
năm 2009. Điều này dự báo một thời kỳ m
ới đầy khó khăn trong việc thực
hiện các chính sách giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nước ta trong thời
gian tới.
Cùng với tình hình trên, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước tất yếu sẽ dẫn đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận
diện tích đất nông nghiệp sang phục vụ sự phát triển đô thị và các khu kinh tế,
khu- cụm công nghiệp. Vì vậy, không có con
đường nào khác, hàng vạn hộ
gia đình nông nghiệp, nông thôn phải hy sinh những quyền lợi cơ bản của
mình là nhường đất, một tư liệu sản xuất quan trọng nhất của người nông dân
cho các dự án, và vì vậy sẽ có hàng triệu lao động nông nghiệp buộc phải
chuyển đổi nghề do bị mất đất sản xuất. Điều đó đã tác động đến toàn bộ hoạt
động kinh tế
- xã hội của đối tượng dân cư phải nhường đất, nhưng tác động
ạo công ăn, việc làm cho người lao động ở
các vùng bị thu hồi đất để xây dựng các dự án, các khu kinh tế, khu công
nghiệp và phát triển đô thị. Có thể thấy những khó khăn, nan giải đó qua thực
tế ở một số nơi có tính tiêu biểu sau:
- Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi), đến nay dự án đã được quy hoạch
và di dời dân cư gần mười năm, nhưng việc ổn định đời s
ống, việc làm cho hàng
vạn hộ dân cư ở các khu định cư mới vẫn chưa ổn định. Theo thống kê của
UBND huyện Bình Sơn, trong hơn 55.000 người di dời do phải nhường đất cho
việc xây dựng khu kinh tế Dung Quất đến nơi ở mới, chỉ có gần 22.000 người có
việc làm nhưng chỉ là buôn bán tạm bợ tại các công trường, hoặc là lao động phổ
thông theo mùa vụ cho các công ty, số còn lại phải làm
đủ thứ việc khác nhau
Riêng xã Bình Trị, huyện Bình Sơn là địa phương có số hộ dân di dời nhiều nhất
ở Khu kinh tế Dung Quất nhưng cũng chỉ có khoảng 30% số người tìm được
việc làm. Không có việc làm, thiếu việc làm hoặc việc làm không đầy đủ, tất yếu
sẽ dẫn đến mức sống bị giảm sút nhanh chóng. Qua khảo sát, điều tra sơ bộ ở
771 hộ gia đình củ
a người dân thuộc diện di dời, tái định cư ở Khu kinh tế Dung
Quất (do Uỷ ban Nhân dân Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi tiến hành) về đời sống
và điều kiện sinh hoạt, thì có trên 50% số hộ có mức sống giảm so với nơi ở cũ.
8
- Ở Quảng Nam chỉ tính từ năm 2004 đến 2008, toàn tỉnh có tới 447
phương án giải phóng mặt bằng được thực hiện, tổng diện tích đất thu hồi lên
tới gần 22,2 triệu m
2
, trong đó có hơn 15,8 triệu m
2
đất sản xuất nông nghiệp
nhờ đó họ có thu nhập
ổn định cuộc sống. Khi đến các khu tái định cư mới, do
đa số là lao động phổ thông, với nghề nông, đánh bắt cá trên sông, hoặc buôn
gánh, bán bưng, nên phải loay hoay, chạy tất tả khắp nơi để tìm một việc làm
nào đó mưu sinh, nhưng cũng chỉ được ngày nào hay ngày ấy. Để giải quyết
việc làm, an cư, lạc nghiệp cho người dân vùng bị thu hồi đất cho các dự án
phát triển, UBND thành phố Đ
à Nẵng đã ban hành nhiều quy định nhằm hỗ
9
trợ chuyển đổi ngành nghề, ổn định đời sống đối với đối tượng trong diện thu
hồi đất sản xuất, di dời, giải tỏa trên địa bàn, tuy nhiên, các giải pháp này vẫn
chưa thể giải quyết dứt điểm bài toán ổn định cuộc sống lâu dài cho người dân
bị thu hồi đất
Với thực tế trên đang đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên c
ứu giải quyết, nhất
là làm sao để người dân sau khi nhường đất phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, đô thị hóa khu vực có được công ăn việc làm ổn định. Đây là một vấn đề
rất nóng nếu nhìn từ góc độ phát triển, ngay cả trước mắt hoặc lâu dài. Bởi vì,
nếu không có những giải pháp hữu hiệu để khắc phục, việc xây dựng và phát
triển trong tương lai sẽ khó kh
ăn, và các vấn đề xã hội nảy sinh sẽ ngày càng
phức tạp hơn. Một câu hỏi lớn của khu vực đang đặt ra hết sức cấp bách là:
làm thế nào để giải quyết việc làm cho lao động- những người dân phải hy
sinh quyền lợi riêng của mình để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, đô
thị hoá ở khu vực? Đây là vấn đề đặt ra không chỉ đối với lãnh đạ
o của các
các tỉnh trong vùng Trọng điểm kinh tế Trung Bộ , mà còn đối với Đảng, Nhà
nước và các nhà khoa học hiện nay.
Để góp phần giải quyết vấn đề bức xúc vừa nêu, việc triển khai nghiên
việc làm, cho các nhà kinh tế mác- xít khi, các nhà nghiên cứu kinh tế nghiên
cứu về các nền kinh tế trên thế giới, cũng như các vấn đề phát sinh trong xây
dựng và phát triển kinh tế của các quốc gia. Đồng thờ
i cũng là kim chỉ Nam
để Đảng, Nhà nước ta hoạch định đường lối phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.
2.2. Các công trình nước ngoài
- J.M.Keynes (1996), Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ. Ông
đã xem việc làm trong mối quan hệ chặt chẽ với sản lượng- thu nhập- tiêu
dùng- đầu tư- tiết kiệm. Ông cho rằng, do tâm lý của quần chúng, nên t
ốc độ
tăng tiêu dùng luôn thấp hơn tốc độ tăng thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng thực
tế giảm tương đối so với thu nhập, dẫn đến một bộ phận hàng hoá không bán
được. Đây là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, ảnh hưởng đến sản xuất chu
kỳ sau, do đó làm giảm việc làm, gia tăng thất nghiệp. Do vậy, theo Ông, để
tăng việc làm, giảm thất nghiệp phải tăng tăng tổ
ng cầu nền kinh tế, gồm cả
cầu tiêu dùng và cầu đầu tư. Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng để tăng
tổng cầu thông qua các khoản chi tiêu chính phủ, hoặc thông qua các chính
sách đầu tư
2.3. Các công trình trong nước
Thứ nhất, trên bình diện chung của quốc gia, bên cạnh Bộ Luật Lao
động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành năm 1994,
Nhà nước ta cũng đã chú ý đầu tư nghiên cứu để tìm kiế
m các chính sách giải
quyết việc làm cho người lao động ngày một hữu hiệu hơn. Cụ thể một số
công trình tiêu biểu sau:
- Đề tài cấp Nhà nước KX 04.04 về "Luận cứ khoa học cho việc xây
dựng chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế
Tác giả cũng cho rằng, trong các nguyên nhân, tác động của quá trình
mất đất và sự thiếu chuẩn bị việc chuyển đổi nghề cho nông dân đã làm ảnh
hưởng rất lớn đến đời sống của những người dân ở vùng bị mất đất. Tác giả
cũng đề xuất một số giải pháp để phát triển nguồn nhân lực, trong đó đáng
chú ý nhất là việc huy động các nguồn lự
c xã hội để tập trung cho việc đào
tạo nghề, chuyển đổi việc làm cho những lao động nói chung, lao động vùng
phải nhường đất cho các dự án phát triển nói riêng.
12
- TS.Nguyễn Hữu Dũng (Trợ lý Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội), Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động việc làm, Tạp chí
Cộng sản số 5 (149) năm 2008.
Bài viết cho rằng, để lao động nông thôn, trong đó có ở các vùng chuyển
đổi mục đích sử dụng đất có thể tiếp cận hoặc làm việc được ở các khu công
nghiệp cần phải có hàng loạt các chính sách tác
động, nhất là tạo điều kiện để
phát triển thị trường sức lao động. Muốn vậy vấn đề đào tạo nghề cho lao
động nông thôn cần được đặt lên hàng đầu.
- PGS,TS. Nguyễn Tiệp, Việc làm cho người lao động trong quá trình
chuyển đổi mục đích sử dụng đất, Tạp chí Cộng sản Số 7 (151) năm 2008.
Tác giả bài viết cũng đã phân tích 5 khó khăn có tính khái quát trong giải
quyết việc làm đối với dân vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, và tác giả
cho rằng, những khó khăn trong giải quyết việc làm ở nhóm đối tượng này là
do việc thu hồi đất nông nghiệp chưa có sự gắn kết với quy hoạch, kế hoạch,
chính sách và biện pháp chuyển đổi nghề, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho
người lao động Tồn tại này là căn nguyên xảy ra nh
ững phức tạp trong đời
sống, gây hậu quả nặng nề và mất lòng tin của một bộ phận nhân dân vào chủ
- Tiềm năng phát triển kinh tế vùng duyên hải miền Trung- phương
hướng và giải pháp khai thác (đề tài cấp bộ 1996), Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, do PTS. Phạm Hảo làm chủ nhiệm.
- Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn để thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở miền Trung (đề tài cấp bộ 1997). Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, do PTS. Phạm Hả
o làm chủ nhiệm.
- Một số giải pháp cơ bản để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực khoa
học ở các tỉnh miền Trung trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997),
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, PGS,PTS. Nguyễn Văn Chỉnh làm chủ
nhiệm.
- Cơ cấu, chất lượng và xu hướng biến động đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ
thuật ở vùng kinh tế tr
ọng điểm miền Trung (đề tài cấp bộ 1999), Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhưng đáng chú nhất là các công trình và các bài báo sau:
- Đề tài cấp bộ (2006), Các giải pháp giải quyết việc làm cho ngư dân các
tỉnh duyên hải miền Trung, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, do TS.
Nguyễn Thế Tràm làm chủ nhiệm.
Mặc dù đề tài đã đánh giá một cách khái quát tình hình, lao động, việc làm
vùng ngư dân, trên cơ sở
đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp có tính
tình thế trong việc giải quyết các vấn đề về lao động, việc làm vùng ngư dân
14
duyên hải miền Trung, góp phần cùng khu vực xây dựng, phát triển kinh tế- xã
hội, song các đánh giá và giải pháp do nhóm nghiên cứu đề xuất chỉ phản ánh có
tính cục bộ, riêng lẻ đối với lao động làm nghề biển, chứ không thể khái quát được
tình hình biến động việc làm của cả khu vực một cách hệ thống, căn bản. Hơn
nữa, việc đánh giá của đề tài chưa làm rõ được bản chất c
hợp trở lại khiếu kiện chính quyền, hoặc ngăn cản các đơn vị thi công các công
trình trong các vùng dự án. Đã có nhiều vụ lộn xộn do tình trạng trên gây ra,
15
làm cho nhiều người dân lo ngại.
- Hỗ trợ giải quyết việc làm cho dân vùng tái định cư, Báo Tiền phong
ngày 15/06/2008.
Bài báo nêu lên tình hình khó khăn của đời sống người dân trong các khu
tái định cư ở huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh Quảng Ngãi do không có việc làm
ổn định. Qua đó bài báo cho thấy, tình trạng thiếu việc làm ở nơi đây là rất
nghiêm trọng. Đồng thời cũng phản ánh những khó khăn, lúng túng của chính
quyền dịa phương trong việc tìm kiếm các cách thức tạo việc làm cho người
lao động. Qua đó bài báo cũng gợi ý,
để giải quyết việc làm cho lao động bị
mất đất nông nghiệp ở các khu tái định cư của 2 huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh
cần phải có sự hợp lực của tất cả các cấp chính quyền cùng các doanh nghiệp,
nhất là bản thân người lao động cũng cần phải chủ động hơn nữa trong việc
học nghề để chuyển đổi nghề.
- Di dân ở Quả
ng Nam: Tránh thiên tai lại đối diện thất nghiệp, Báo
Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh Online.
Bài báo phản ánh tình trạng quy hoạch sơ sài đối với những dự án di dời
dân lớn ở tỉnh Quảng Nam. Do thiếu tính toán kỹ lưỡng mà hàng chục ngàn
hộ sau khi di dời đến nơi ở mới phải gặp vô vàn khó khăn trong ổn định cuộc
sống, nhất là không tìm được việc làm ổn định
Nhìn chung, các bài báo đã phản ánh rất nhi
ều góc độ khác nhau về tình
hình đời sống của người dân ở các vùng bị mất đất do phát triển các khu kinh
tế, khu công nghiệp ở khu vực. Đặc biệt nó đã phản ánh sự thiếu tính toán của
các nhà quy hoạch khi triển khai các dự án, nhất là các vấn đề hậu tái định cư.
nghiệp hoá, đô thị hoá ở các tỉnh vùng Trọng điểm kinh tế Trung Bộ, trong đó
chủ yếu là Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
3.3.Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề việc làm của những lao động
bị thu hồ
i đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, không nghiên cứu
việc làm cũng như giải quyết việc làm cho các đối tượng khác.
- Về không gian: tập trung nghiên cứu tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà
Nẵng.
- Về thời gian: từ năm 2001 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào từng nội dung nghiên cứu, đề tài có thể kết hợp sử dụng các
phương pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng- duy vật lịch sử
mácxít, trừu
tượng hóa khoa học, lôgíc kết hợp với lịch sử, thống kê, phân tích, so sánh,
tổng hợp, khảo sát thực tế, thu thập có kế thừa những thông tin, báo cáo của
địa phương, sách báo và các công trình khoa học đã được nghiên cứu trước
đây để phân tích, làm rõ nội dung các chương, tiết của đề tài.
5. Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề
tài được kết cấ
u thành 3 chương.
Sau đây là toàn bộ nội dung của đề tài. 17
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA
1
Nguyễn Hữu Quỳnh chủ biên (1998), Đại từ điển kinh tế thị trường, Viện nghiên cứu và phát triển kiến thức
bách khoa xuất bản, Hà Nội, tr.1073.
2
Bộ Lao động- Thương Binh và Xã hội (1997), Thực trạng lao động và việc làm ở Việt Nam năm 1996, Nxb
Thống kê, Hà Nội, tr.17.
18
Khái niệm trên cho thấy một sự đổi mới sâu sắc trong nhận thức về việc
làm và giải quyết việc làm. Từ chỗ giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà
nước và chỉ có việc làm trong cơ quan nhà nước mới được coi là việc làm, đã
chuyển sang nhận thức mới, mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị luật pháp
ngăn cấm đều được thừa nhận là vi
ệc làm. Giải quyết việc làm, bảo đảm cho
mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của
Nhà nước, các doanh nghiệp và toàn xã hội. Người lao động không chờ đợi
Nhà nước bố trí, sắp xếp việc làm, mà họ chủ động tạo việc làm cho mình và
cho người khác trong môi trường kinh tế, xã hội, pháp luật do Nhà nước tạo
ra. Việc làm không chỉ tạo ra trong khu vực nhà nước mà trong tất cả các
thành phần kinh tế, điều này đã thúc đẩy người lao động linh hoạt, chủ động,
sáng tạo trong tìm kiếm việc làm, không ỷ lại hoặc trông chờ vào Nhà nước.
Như vậy, người có việc làm bao gồm tất cả những người làm việc trong các
ngành kinh tế quốc dân, trong hệ thống các cơ quan đảng, đoàn thể, các tổ
chức có hưởng thù lao dưới các hình thức thể hiện qua mức thu nhập bằng
tiề
n hoặc hiện vật, nhằm phục vụ nhu cầu cho bản thân và gia đình người lao
động. Từ quan niệm trên cho thấy, quan niệm về việc làm hiện nay đã được
mở rộng, tạo ra nhiều khả năng cho việc giải phóng tiềm năng lao động, giải
Trong nền kinh tế thị trường, cũng như mọi quan hệ mua bán khác, việc
làm như là một thứ hàng hóa đem bán trên thị trường phải có ích, tức là phải
đem lại ích lợi cho người mua nó, và nó chịu sự chi phối củ
a quan hệ cung
cầu. Trên thị trường lao động đang diễn ra một nghịch lý vừa thừa, vừa thiếu
lao động, tức là đang diễn ra tình trạng dư thừa về lao động phổ thông nhưng
lại thiếu lao động có tay nghề. Thực tế đó cho thấy rằng, để tham gia thị
trường việc làm, người lao động phải biết một nghề nào đó, và phải nắm vững
kỹ
năng nghề nghiệp của mình.
1.1.2. Thất nghiệp và người thất nghiệp
Nhà kinh tế học Paul Samuelson cho rằng, thất nghiệp là một vấn đề trung tâm
trong các xã hội hiện đại, khi mức thất nghiệp cao, tài nguyên bị lãng phí, thu nhập
của người dân bị giảm sút. Trong những thời kỳ như vậy, nền kinh tế sẽ gặp nhiều
khó khăn, ảnh hưởng đến tình cảm và cuộc sống của các gia đ
ình trong cộng đồng
dân cư. Theo G.M.Sokolova, thất nghiệp đều có ở mọi hệ thống kinh tế, chính trị,
đạo đức và hệ tư tưởng của xã hội
1
. Thất nghiệp là một vấn đề xã hội rất nhạy cảm,
nên nó là mối quan tâm thường xuyên của tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả
những nước phát triển nhất hiện nay. Hiện có rất nhiều quan niệm về thất nghiệp,
nhưng nội dung chủ yếu xoay quanh vấn đề người lao động có khả năng làm việc,
muốn làm việc nhưng không được làm việc.
Theo nhà dân số
học Alfred Sauvy, thất nghiệp là người khỏe mạnh
muốn lao động để kiếm sống nhưng chưa tìm được việc làm. Còn Tổ chức lao 1
ng
mỗi nước xác định khoảng thời gian thất nghiệp có khác nhau. Ở Thái Lan,
quy định trong các cuộc điều tra xác định người thất nghiệp là những người
không có việc làm 7 ngày trước lúc điều tra; ở Úc cho rằng, người thất nghiệp
là những người không có việc làm trong tuần lễ điều tra và đã chủ động tìm
việc làm cả ngày hoặc nửa ngày tại bất kỳ thời điểm nào trong 4 tuầ
n, bao
gồm cả tuần điều tra và sẵn sàng làm việc khi có việc làm
Việc phân loại thất nghiệp là một yếu tố rất quan trọng để xác định tính
chất thất nghiệp, nhằm làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách chống
thất nghiệp. Văn phòng Tổ chức lao động quốc tế cũng đã phân thất nghiệp
thành 3 loại: 1) Thất nghiệp do mức cầu lao động không đủ
; 2) Thất nghiệp
do thiếu thiết bị hoặc thiếu những nguồn lực bổ sung; 3) Thất nghiệp do cung
và cầu lao động không ăn khớp với nhau. Sự phân loại này đến nay cho thấy,
xét trên nhiều khía cạnh, mặc dù đúng nhưng không chính xác hoàn toàn, nhất
là đối với những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế
như nước ta. Để nắm chắc được tình hình thất nghiệp trong nề
n kinh tế, ở các
nước phát triển thường áp dụng biện pháp đăng ký thất nghiệp để thống kê
21
dân số thất nghiệp. Tất cả những người lao động chưa có việc làm mà đăng ký
thất nghiệp đều được lĩnh khoản tiền trợ cấp thất nghiệp gọi là người thất
nghiệp. Những người thất nghiệp bao gồm: 1) Lao động mới trưởng thành (Ví
dụ: những người mới đến tuổi lao động vẫn chưa có công việc kịp thời, học
sinh t
ốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, các trường đào tạo nghề chưa có
việc kịp thời và những người nhàn rỗi chờ đợi công việc khác); 2) Nhân viên
trong các xí nghiệp, các đơn vị hoạt động trong hệ thống nền kinh tế quốc
vào nền kinh tế thị trường, lao động cũng không nằm bên ngoài các quan hệ
22
thị trường, lao động dù có mang phẩm chất đặc biệt nào đi chăng nữa, thì nó
vẫn là một thứ hàng hóa để bán mua theo giá trị của nó trên thị trường.
Theo Đại từ điển kinh tế thị trường, “Thị trường lao động là nơi để mua
bán hàng hóa sức lao động của người lao động, là điều kiện cơ sở để tổ chức
lao động một cách hợp lý
1
. Thị trường lao động là yếu tố cần thiết của nền kinh
tế thị trường, là cơ chế dung hòa những lợi ích của người lao động và người
thuê lao động, nhờ đó mà thực hiện được tất cả các quyết định trong lĩnh vực
việc làm. Trên thị trường lao động những lợi ích của người lao động và người
thuê lao động kết hợp với nhau chặt chẽ khi quy
định giá cả lao động và những
điều kiện hoạt động của lao động, vì thế ở đây có thể tìm thấy sự phản ánh của
tất cả các hiện tượng xã hội và kinh tế đang diễn ra trong xã hội.
Nói đến thị trường lao động là nói đến khối lượng nhân lực đem ra mua
bán trên thị trường, chủ yếu ở hai loại người: người làm công (người đem lao
động đi bán) và ng
ười sử dụng lao động (người mua lao động để sử dụng).
Lao động được mua bán trên thị trường không chỉ là lao động trừu tượng, mà
lao động thể hiện thành việc làm.
Ở nước ta, những năm qua, cùng với những thay đổi của nền kinh tế, xã
hội trong quá trình mở cửa, nước ta xuất hiện ngày càng nhiều trung tâm giao
dịch việc làm nhằm giúp cho mối quan hệ giao dịch giữa người mua và người
bán trên thị tr
ường việc làm được diễn ra. Qua các phiên giao dịch việc làm
được tiến hành thường xuyên đã có hàng trăm ngàn lao động tiếp cận và tìm
kiếm được việc làm. Đồng thời qua đó, có thể đánh giá được thực chất về số
của thị trường. Vì vậy, để cho hàng hóa sức lao động được lưu thông thuận lợi
trên thị trường, người lao động trước hết phải có nghề và không ngừng hoàn
thiện việc nâng cao tay nghề của mình. Một thị trường sức lao động hoàn
chỉnh, hoạt động có hiệu quả là nhu cầu của một nền kinh tế thị trường phát
triển. Song
để có được điều đó đòi hỏi phải có một quá trình phát triển dần
dần cùng với sự phát triển thị trường nói chung.
1.1.4. Việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
Để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa, hàng vạn hộ gia đình
đã phải nhường đất để di dời đến nơi định cư mới theo sự sắp xếp của các nhà
quy ho
ạch. Đồng thời với nó là hàng chục vạn ha đất nông nghiệp phải
chuyển đổi mục đích sử dụng, do đó sẽ có hàng chục vạn lao động sẽ không
còn cơ hội được làm việc trên mảnh đất của mình. Số lao động đó hoặc phải
chuyển sang các nghề mới, hoặc phải chấp nhận cảnh không có việc làm. Để
đảm bảo ổn định cuộc sống cho nh
ững người nhường đất, việc ưu tiên giải
quyết việc làm cho lao động vùng bị thu hồi đất là điều kiện tiên quyết cho
việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, đô thị hoá đất nước;
đồng thời là nhân tố quan trọng trong việc phấn đấu đạt được mục tiêu thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
Báo cáo của B
ộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sau khi nghiên cứu
tại 16 trọng điểm trong việc thu hồi đất của nông dân để phục vụ phát triển
các công trình công nghiệp và đô thị tháng 6 năm 2007 cho biết, chỉ có 13%
lao động nông thôn bị thu hồi đất được đào tạo, 20% lao động lúc có việc, lúc
không có việc. Báo cáo cũng cho rằng, 60% số hộ bị thu hồi đất vẫn sống chủ
yếu vào nông nghiệp, 9% số hộ làm dịch vụ, 6% làm làm công nghi
ệp-tiểu
hơn 3000 lao động nông nghệp ở 2 xã này thiếu việc làm hoặc mất việc làm
2
.
Cùng với quá trình phát triển, trong những năm tới, sẽ có nhiều diện tích đất
nông nghiệp tiếp tục phải chuyển đổi mục đích sử dụng, theo đó cũng sẽ có
thêm nhiều nông dân mất đất sản xuất, làm cho tình trạng thiếu việc làm,
không có việc làm đối với lao động nông nghiệp tiếp tục tăng lên.
Hay như quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đến năm 2009 có đế
n
50 dự án đầu tư khác nhau được triển khai, trong đó, nhóm dự án phát triển du
lịch có 24 dự án với 580,5 ha; tái định cư và xây dựng đô thị có 36 dự án, diện
tích 1.512 ha; thương mại - dịch vụ 31 dự án có 197,2 ha và phát triển hạ tầng 1
Nguồn: 06/07/2007
2
UNND Huyện Điện Bàn, Tình hình triển khai thực hiện các chính sách di dời, tái định cư cho người dân ở
khu Công nghiệp Điện Nam- Điện Ngọc và các dự án lân cận, Điện Bàn 4-2010.
25
giao thông 6 dự án với tổng chiều dài 22,9km. Cùng với việc giải phóng mặt
bằng và bố trí tái định cư, Quận cần phải giải quyết việc làm cho hơn 2000
lao động bị ảnh hưởng do thu hồi đất để phục vụ các dự án trên
1
. Mặc dù có
rất nhiều dự án đầu tư, mở ra khả năng tạo việc làm rất lớn cho người lao
động, song không dễ dàng gì để người lao động, chủ yếu là không có tay
nghề, có thể được tuyển dụng vào làm việc ở các dự án đó. Do vậy vấn đề làm
sao để người lao động sau khi thu hồi đất có thể có việc làm ổn định đang là
1
UNND Quận Ngũ hành Sơn, Báo cáo về tình hình triển khai các dự án đầu tư ở Quận Ngũ Hành Sơn, Đà
Nẵng 4-2010.