Thực trạng và phương hướng tiếp tục giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất ở quận Cầu Giấy - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau 20 năm tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nước ta đã có sự
chuyển biến rõ rệt về đời sống kinh tế, xã hội trong đại bộ phận dân cư. Đặc
biệt, sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
(7/11/2006) đã mở ra cho nền kinh tế nước nhà nhiều cơ hội cũng như thách
thức mới. Và dưới tác động của nó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và cả đô thị hóa cũng diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi cả nước. Cùng
với xu hướng đó, quá trình xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia
cũng đang diễn ra rất nhanh chóng, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quận Cầu Giấy là một bộ phận hợp thành của Thủ đô Hà Nội. Tuy là Quận
mới được thành lập từ các xã, thị trấn (năm 1997) nhưng quá trình đô thị hóa lại
diễn ra rất nhanh chóng trong những năm qua. Quá trình đó đi liền với việc thu
hồi đất, mà chủ yếu là đất nông nghiệp của một bộ phận dân cư. Đây là một quá
trình tất yếu, có tính quy luật trong thời kỳ đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở nước ta. Quá trình đó đã và đang kéo theo hàng loạt khó khăn trong
việc giải quyết việc làm cho người lao động bị mất đất, để có thể ổn định an ninh
– xã hội, chính trị…Tất cả đang trở thành vấn đề bức xúc, đòi hỏi sự nỗ lực của
đội ngũ cán bộ lãnh đạo cũng như quần chúng nhân dân để có thể đảm bảo được
đời sống của người dân trên địa bàn Quận.
Để có thể đánh giá đúng thực trạng việc thu hồi đất cũng như ảnh hưởng
của nó tới việc làm, đời sống của lao động nông nghiệp bị thu hồi đất, qua đó
đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
thu hồi đất trên địa bàn quận Cầu Giấy, tôi đã triển khai nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng và phương hướng tiếp tục giải quyết việc làm cho lao động nông

+ Phạm vi thời gian cho các đề xuất trong đề tài là thời kỳ 2007 – 2010,
đặt trong tầm nhìn đến năm 2020.
4. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, kết luận, đề tài gồm các phần lớn sau đây:
-Chương I: Việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị
thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa.
-Chương II: Thực trạng việc thu hồi đất nông nghiệp và vấn đề giải
quyết việc làm cho lao động nông nghiệp có đất bị thu hồi ở quận Cầu Giấy.
-Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục giải quyết việc làm
cho lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất chuyển đổi mục đích sử
dụng.
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
Chương 1
VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG
NGHIỆP BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA
1.1.Khái niệm và vai trò của việc làm
1.1.1. Khái niệm về việc làm
Việc làm là phạm trù kinh tế xã hội biểu hiện khả năng kết hợp giữa sức lao
động với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra thu nhập, tạo ra của cải vật chất hoặc thỏa
mãn những yêu cầu nào đó, phù hợp với những quy định của pháp luật.
Để hiểu rõ hơn khái niệm việc làm, cần phân biệt rõ 2 thuật ngữ: việc
làm và làm việc. Đây là 2 thuật ngữ có sự biểu hiện khác nhau ở một số
phương diện. Về nội hàm của thuật ngữ làm việc: có thể hiểu làm việc, đó
chính là quá trình lao động, vì vậy có thể hiểu đó là sự kết hợp giữa sức lao
động với tư liệu sản xuất. Trong khi đó, thuật ngữ việc làm chỉ phản ánh về
khả năng của sự kết hợp đó. Ví dụ như một doanh nghiệp thiếu vốn sản xuất,
khi doanh nghiệp được vay vốn sẽ mở ra khả năng thu hút thêm việc làm,

nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những người làm các công
trình nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành.
Người thiếu việc làm là những người có tổng số giờ làm việc trong 1 tuần
dưới 48 giờ đến 8 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn quy định đối với những
người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của nhà nước,
có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm.
Thất nghiệp là sự tồn tại của một bộ phận lực lượng lao động có khả
năng và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm.
Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt
động kinh tế không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc đang tích cực tìm
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc trong khoảng thời gian quy định
(thường là 4 tuần).
1.1.2. Vai trò của việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế xã
hội ở vùng nông thôn. Qua việc làm ta có thể đánh giá được sự phát triển của
nông thôn về nhiều nghành nhiều lĩnh vực cụ thể như an ninh xã hội, trình độ
phát triển của dân cư, trình độ học hành…Ở vùng nông thôn có tỷ lệ người có
việc làm thường xuyên thì góp phần ổn định cuộc sống của người dân, giảm
bớt các tệ nạn xã hội mang lại do lao động không có việc làm gây ra như chơi
bời cờ bạc, nghiện hút ma tuý… Vì thế mà việc giải quyết việc làm cho người
lao động nông thôn sau khi bị thu hồi đất càng trở nên cần thiết. Giải quyết tốt
vấn đề này không những góp phần phát triển kinh tế xã hội mà còn giúp
người dân lao động nông thôn giảm bớt vào việc bị lôi kéo vào các hoạt động
không lành mạnh của xã hội.
Việc làm thường xuyên giúp cho người dân có đời sống thu nhập ổn
định, giúp cho họ có khả năng dễ dàng tiếp cận với khoa học công nghệ hiện
đại, đồng thời nâng cao khả năng nhận thức của người dân.

biến và xâm nhập vào các vùng nông thôn.
Đô thị hóa là một tiến trình rất đa dạng, chứa đựng nhiều hiện tượng và
biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển.
Trên quan điểm một vùng, đô thị hóa là quá trình hình thành, phát triển
các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
Trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hóa là một quá trình biến đổi về
phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư
những vùng những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển
các đô thị hiện có theo chiều sâu. Đô thị hóa là quá độ từ hình thức sống nông
thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư, gắn liền với những biến
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển
công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ, v.v…Đô thị hóa gắn liền
với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong các loại đô thị hóa thì vấn đề đô thị hóa nông thôn là vấn đề được
quan tâm nhiều nhất, vì đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững và mang
tính quy luật không thể tránh khỏi. Thực chất, đô thị hóa nông thôn là quá
trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho các vùng nông
thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…). Hay nói cách
khác, đó là sự tăng trưởng đô thị theo hướng bền vững.
Đô thị hóa ngoại vi được hiểu là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi
của thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng…tạo ra các
cụm đô thị, liên đô thị…góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn.
Cần phân biệt được đô thị hóa thật sự với đô thị hóa giả tạo. Đô thị hóa
giả tạo là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân cư
từ các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn…dẫn đến nảy sinh các vấn đề
xã hội như thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng
cuộc sống…

trò và tác động tích cực của phát triển đô thị được thể hiện cụ thể như sau:
-Các đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập, tích lũy của nền
kinh tế và nguồn thu cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu thống kê năm
2004, chỉ tính riêng bốn thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ
Chí Minh, Đà Nẵng chiếm khoảng 14% dân số, tạo ra 36,4% GDP, 45,7% giá
trị sản lượng công nghiệp, và gần 50% giá trị xuất khẩu của cả nước. Các đô
thị này đã trở thành những vùng động lực có tốc độ tăng trưởng cao và có
đóng góp quan trọng vào việc tăng quy mô của nền kinh tế, tăng giá trị công
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu của cả nước.
-Với quy mô sản xuất, diện tích, dân số lớn và không ngừng gia tăng, sự
tập trung lớn các năng lực sản xuất, các đô thị cũng có khả năng cung cấp một
khối lượng đáng kể các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ với chất lượng tốt
đáp ứng nhu cầu của nhiều vùng trong nước và nguồn hàng cho xuất khẩu.
-Các đô thị lớn thực sự là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoc
học kỹ thuật, thương mại của các vùng và cả nước. Các hoạt động dịch vụ
quan trọng như xuất nhập khẩu, tài chính, tiền tệ, vận tải, du lịch, khoa học
công nghệ từ các đô thị lớn bắt đầu có sức lan tỏa và thúc đẩy sự phát triển
chung của các lãnh thổ trên phạm vi cả nước.
-Các đô thị có ưu thế về nhân lực được đào tạo chất lượng cao, có khả
năng nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, trên cơ sở đó tạo ra
các công nghệ và các trang thiết bị hiện đại không chỉ phục vụ cho sự phát
triển của bản thân đô thị mà còn đáp ứng cho nhu cầu của các vùng lãnh thổ
khác trên toàn quốc.
-Sự phát triển của đô thị góp phần nâng cao năng suất và chất lượng lao
động cho toàn bộ nền kinh tế. Tại các đô thị của Việt Nam đã bước đầu hình
thành đội ngũ lao động và cán bộ quản lý có trình độ và tác phong lao động
công nghiệp hiện đại. Hầu hết lực lượng lao động có trình độ từ cao đẳng và

CNH, HĐH diễn ra nhanh hơn. Bên cạnh đó, đô thị hóa diễn ra tạo ra sự đa
dạng các ngành nghề, từ đó việc làm được tăng lên đáng kể, điều này tác động
tích cực đến thu nhập và đời sống của người dân. Tác động lan tỏa của các đô
thị được mở rộng cả về phạm vi không gianvà biến đổi về chất. Nhiều đô thị đã
thực sự trở thành các hạt nhân động lực cho sự phát triển của nhiều vùng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, những tác động tích cực mà đô thị
hóa đem lại thì các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đáng kể
đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến cân bằng sinh thái do tài
nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, ô nhiễm các chất thải
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
công nghiệp và sinh hoạt, giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao
thông cơ giới…Bên cạnh đó, qua thực tế phát triển cho thấy khoảng cảnh giữa
nông thôn và thành thị ngày càng tăng. Thành phố sẽ có những ảnh hưởng
mạnh mẽ đến nông thôn và trực tiếp là khu vực ngoại thành trong quá trình
tiến hành đô thị hóa.
1.2.1.2. Tính tất yếu của đô thị hóa
Tiền đề cơ bản để tiến hành công cuộc đô thị hóa là sự phát triển công
nghiệp, hay nói cách khác, công nghiệp hóa là cơ sở phát triển của đô thị hóa.
Trên thế giới, đô thị hóa được coi là bắt đầu từ khi tiến hành cách mạng thủ
công nghiệp, mà tiếp sau đó là cách mạng công nghiệp, mà điển hình nhất là sự
thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao động cao
hơn và sự thay đổi về cơ cấu lao động xã hội trên cơ sở phân công lao động xã
hội. Đồng thời, cách mạng công nghiệp đã tập trung hóa lực lượng sản xuất ở
mức độ cao hơn dẫn đến hình thành đô thị hóa, mở rộng quy mô đô thị cũ.
Bên cạnh tiền đề phát triển công nghiệp thì sự phát triển của trung tâm
dịch vụ, thương mại và du lịch cũng là tiền đề cho sự hình thànhh và phát
triển của một số khu đô thị mới, cho sự mở rộng các khu đô thị hiện có, và sự
hoàn thiện hơn các khu đô thị cũ.

do phát triển công nghiệp và xây dựng các công trình công cộng nói riêng, là
vấn đề cần quan tâm và có những giải pháp nhanh chóng giải quyết.
-Các vấn đề về môi trường, tài nguyên thiên nhiên và cân bằng sinh thái.
Tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, làm giảm diện tích
cây xanh và mặt nước, gây ra ngập úng; Nhiều nhà máy, xí nghiệp gây ô
nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay rơi vào đúng khu dân
cư đông đúc; Vấn đề tắc nghẽn giao thông trong những năm qua gây nhiều
bức xúc, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh…
-Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực ngoại thành. Trong quá
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
trình đô thị hóa, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo xu hướng tích cực và
tiến bộ: Tỷ trọng các hoạt động nông nghiệp giảm, tỷ trọng các hoạt động
công nghiệp, thương mại và dịch vụ tăng mạnh. Vấn đề nảy sinh ở đây là chất
lượng lao động tại chỗ thường không đáp ứng được yêu cầu của chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, gây ra những khó khăn và cản trở nhất định đối với quá trình
này.
-Vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng. Một thực tế ở hầu hết các đô thị Việt
Nam, các yếu tố kết cấu hạ tầng thường không được hình thành đồng bộ và
phát triển chậm hơn so với nhu cầu thực tế của đô thị.
-Vấn đề văn hóa – xã hội. Đô thị hóa góp phần nâng cao đời sống vật
chất và văn hóa tinh thần cho dân cư, hình thành lối sống công nghiệp, xây
dựng xã hội mới. Tuy vậy, phân hóa giàu nghèo cũng diễn ra ngày càng
nhanh chóng hơn, tỷ lệ thất nghiệp và các vấn đề xã hội khác (trộm cướp,
nghiện hút, mại dâm…) cũng gia tăng.
-Thay đổi hình thái kiến trúc. Các tòa nhà thiết kế hiện đại, đầy đủ tiện
nghi, các khu chung cư cao tầng đang dần thay thế các nhà mái ngói truyền
thống. Tuy vậy, vẫn không tránh được tình trạng xây dựng manh mún, lấn
chiếm không gian đô thị và các kiểu thiết kế nhà ở pha tạp nhiều loại hình

tập trung, quy mô lớn được hình thành dẫn đến sự phát triển ngày càng cao
của khu vực công nghiệp. Các nhà máy cần có một kết cấu hạ tầng dịch vụ,
giao thông vận tải, phân phối, thông tin liên lạc, tài chính, bảo hiểm…rất rộng
lớn. Các dịch vụ này phát triển rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
công nghiệp. Ngoài ra, các dịch vụ như xử lý thông tin, quảng cáo…trước đây
được thực hiện trong nội bộ doanh nghiệp nay dần dần được đưa ký kết thực
hiện với các doanh nghiệp trong khu vực dịch vụ. Do vậy, lĩnh vực dịch vụ
phát triển mạnh.
Đối với các xã, thị trấn trong quá trình chuyển lên phường, quận, đô thị
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
hóa diễn ra rất nhanh bởi đô thị hóa tạo điều kiện cho phát triển sản xuất và
giao lưu hàng hóa, góp phần mở rộng các đô thị trên cơ sở đô thị hóa các
phường, xã ven đô thị.
Những tác động tích cực của đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quận thành lập từ các xã, thị trấn ven nội thành
phát triển kinh tế - xã hội ổn định, theo kịp tiến trình phát triển của Thành phố
và cả nước, với một cơ cấu kinh tế hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển
chung của khu vực kinh tế thành thị.
Chuyển từ các thị trấn, xã ven nội thành quận nội thành là quá trình
chuyển biến toàn diện cả về kinh tế - xã hội từ hình thái này sang hình thái
khác. Sự khác biệt đó được biểu hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng
bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng lấy sản xuất nông nghiệp (trồng trọt,
chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản) là chủ yếu. Ngược lại, đô thị là vùng sinh
sống và làm việc của cộng đồng bao gồm một tập hợp các tầng lớp: công
nhân, trí thức, công chức, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, các nhà doanh
nghiệp…, là vùng phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và là trung tâm
phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị.

dân trí, đẩy mạnh việc xây dựng các cấp chính quyền cơ sở cho tương xứng
với vị trí, vai trò cấp Quận là đặc trưng chung của quá trình chuyển đổi.
Như vậy có thể thấy rằng, quá trình biến chuyển kinh tế - xã hội từ xã,
thị trấn thành phường, quận gắn liền với các đặc điểm của quá trình chuyển
đổi từ xã, thị trấn ven nội thành quận nội thành.
1.2.3. Sự cần thiết phải thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị
hóa
Quá trình mở cửa nền kinh tế hội nhập với khu vực và thế giới đã và
đang có những tác động đáng kể tới nền kinh tế, làm chuyển dịch cơ cấu kinh
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
tế, kéo theo sự thay đổi về cơ cấu lao động của các ngành, các lĩnh vực trong
nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người lao động nước ta. Đặc
biệt, ngày 7/11/2006, nước ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Đây là một sự kiện trọng đại mang tính
lịch sử, mở ra cho nước ta những thời cơ mới, thuận lợi mới, tạo điều kiện
thúc đẩy quá trình CNH, HĐH của đất nước.
Như đã trình bày ở trên, CNH, HĐH tất yếu kéo theo đô thị hóa. Tốc độ
CNH càng nhanh thì trình độ đô thị hóa càng cao. Sự hình thành các vùng
kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung với quy mô lớn, khu kinh tế
mở, các công trình công cộng, các cơ sở hạ tầng…đòi hỏi phải dành một bộ
phận lớn đất đai, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp. Như vậy, cùng với sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo hướng CNH, HĐH, đô thị hóa thì
sự giảm sút một bộ phận khá lớn đất nông nghiệp là một tất yếu khách quan.
Hơn nữa, thực hiện theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng ta là
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp,
tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ, do vậy diện tích đất nông
nghiệp phải thu hẹp để mở rộng các ngành khác. Bởi vậy, thu hồi đất nông
nghiệp chính là để phục vụ cho sự phát triển của các ngành khác.

đáp ứng yêu cầu của phát triển công nghiệp, một phần để đáp ứng các nhu cầu
dịch vụ giải trí cho dân cư nội thành.
Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trở
thành dân cư đôt thị, họ bị mất phần lớn đất canh tác. Với số tiền được Nhà
nước đền bù hoặc tiền bán đất cho các cư dân mới, họ dùng để tạo nghề mới,
tìm việc làm mới … Tuy vậy, lao động trong đô thị đòi hỏi có trình độ chuyên
môn hóa cao hơn và do vậy, giá cả lao động ở đô thị cũng cao hơn so với ở
nông thôn.
Sự phát triển của các đô thị một mặt tạo ra một lượng lớn việc làm cho
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
lao động tại đô thị, đồng thời thu hút và làm giảm đáng kể lượng lao động
nông nhàn ở các vùng nông thôn, kém phát triển, góp phần làm tăng năng suất
lao động tại các vùng này. Chỉ riêng 4 thành phố lớn là Hà Nội, TP Hồ Chí
Mính, Đà Nẵng và Hải Phòng trong năm 2004 đã giải quyết việc làm cho
khoảng 363.000 lao động. Ngoài số lao động làm việc chính thức tại các cơ sở
sản xuất, kinh doanh, còn phải kể đến một lực lượng lớn lao động làm việc
trong các ngành dịch vụ, xây dựng cơ bản… và các khu vực phi chính thức
khác phục vụ cho phát triển các đô thị này.
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ khác thì khi gia tăng quy mô thành phố bằng
các giải pháp mở rộng không gian, hình thành các quận, phường mới sẽ làm
cho một lực lượng đáng kể lao động nông nghiệp bị mất việc làm, gây khó
khăn cho đời sống của họ. Bởi thời gian trung bình để người lao động có việc
làm mới sau khi bị thu hồi đất là 11 tháng đối với nghề sản xuất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp; 10 tháng đối với nghề buôn bán dịch vụ; 6 tháng đối với
nghề chăn nuôi; 4 tháng đối với nghề xây dựng và 8 tháng đối với các hoạt
động dịch vụ khác.
Bên cạnh đó, dòng di chuyển quá lớn của lao động nông thôn ra thành
phố trong khi số lượng việc làm tại các khu đô thị không thể tăng nhanh để có

trong nông nghiệp là 265.709 người.
Đại bộ phận những hộ dân, những người lao động bị thu hồi quyền sử
dụng đất đều là những hộ thuần nông, cuộc sống chủ yếu dựa vào nguồn thu
từ canh tác trên đất nông nghiệp và chăn nuôi quy mô nhỏ. Việc thu hồi đất
đã khiến cho nhiều người nông dân bị mất một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản
xuất dẫn đến mất việc làm, gặp phải khó khăn trong tìm và tạo việc làm mới.
Có thể tìm được việc làm mới nhưng thu nhập thấp, không đảm bảo được đời
sống hoặc việc làm không phù hợp với khả năng và tay nghề. Người nông dân
khi chuyển sang làm việc trong ngành nghề phi nông nghiệp không phải là
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
điều có thể thực hiện được ngay trong một sớm một chiều bởi trình độ hầu
như không có. Ở Hà Nội, khi một số huyện ngoại thành được chuyển thành
quận ngoại thành và diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi càng nhiều thì số
người nông dân trở thành “thị dân thất nghiệp” cũng ngày càng đông đảo.
Biểu 1. Tình hình lao động bị mất việc làm trong nông nghiệp do thu hồi đất
giai đoạn 2001 – 2005
Đơn vị: Người
STT Tỉnh 2001 – 2005
1 Hà Nội 104000
2 Hải Phòng 17600
3 Hà Tây 52838
4 Hải Dương 12000
5 Nam Định 8000
6 Thái Bình 17045
7 Ninh Bình 2500
8 Lào Cai 6875
9 Vĩnh Phúc 8000
10 Bắc Ninh 7500

23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD. PGS. TS. Phạm Văn Khôi
Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP BỊ
THU HỒI ĐẤT Ở QUẬN CẦU GIẤY
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc làm của
quận Cầu Giấy
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Quận Cầu Giấy là một bộ phận hợp thành của Thủ đô Hà Nội. Đây là Quận
mới được thành lập (ngày 03/09/1997), bao gồm 4 thị trấn Nghĩa Tân, Nghĩa Đô,
Mai Dịch, Cầu Giấy và 3 xã Yên Hòa, Trung Hòa, Dịch Vọng của huyện Từ
Liêm cũ. Tổng diện tích đất tự nhiên của Quận là 1.204,5 ha với dân số 127.700
người (theo kết quả tổng điều tra dân số Quận đến ngày 31/12/1999).
Quận nằm ở cửa ngõ phía Tây, một trong những khu phát triển chính của
Thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thành phố chừng 6 km, phía Bắc giáp
quận Tây Hồ, phía Nam giáp quận Đống Đa, phía Đông giáp quận Ba Đình và
phía Tây tiếp giáp thị trấn Cầu Diễn, huyện Từ Liêm.
Nằm trên trục đường giao thông nối sân bay Nội Bài với Hà Nội và trên
trục đường chính nối Hà Nội với chuỗi đô thị vệ tinh Hòa Lạc – Sơn Tây),
Cầu Giấy là đầu mối giao thông tạo điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế, lưu
thông hàng hóa và tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật.
Tiếp giáp với quận Tây Hồ, quận Ba Đình và huyện Từ Liêm – những khu
vực có nhiều tiềm năm du lịch, những lợi thế của quận Cầu Giấy sẽ tạo thành
quần thể du lịch thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.Vì thế, trong tương lai,
nếu được sự quan tâm đầu tư của Trung ương và Thành phố trong quá trình thực
hiện quy hoạch, khai thác các tiềm năng, lợi thế một cách hợp lý thì đây sẽ là một
hướng tạo việc làm, phát triển kinh tế khá quan trọng của Quận.
Sinh viên: Phan Thị Kiều Oanh Lớp: KTNN 45

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status