Học viện chính trị-hành chính quốc gia hồ chí minh Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp
trong quá trình đô thị hóa ở hải dơng Chủ nhiệm đề tài: nguyễn thị thơm
18. Nguyễn T Thu Thuỷ
- Phó phòng Lao động Tiền lương, Sở LĐ - TB
và XH tỉnh Hải Dương
2
BẢNG VIẾT TẮT
CCKT : Cơ cấu kinh tế
CCLĐ : Cơ cấu lao động
CSHT : Cơ sở hạ tầng
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DVVL : Dịch vụ việc làm
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
ĐTH : Đô thị hóa
GQVL : Giải quyết việc làm
HĐKT : Hoạt động kinh tế
HGĐ : Hộ gia đình
KCN, CCN : Khu công nghiệp, cụm công nghiệp
KH - CN : Khoa học - công nghệ
KTTT : Kinh tế thị trườ
ng
KT - XH : Kinh tế - xã hội
LĐ : Lao động
08
1.1.1. Đặc điểm của lao động nông nghiệp 08
1.1.2. Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến việ
c làm của lao động nông nghiệp 16
1.2. Giải quyết việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm
cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa
27
1.2.1. Khái niệm giải quyết việc làm và một số lý thuyết hiện đại về giải quyết
việc làm
27
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình đô thị hóa
33
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp trong quá
trình đô thị hóa của một số địa phương
40
1.3.1. Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc 40
1.3.2. Kinh nghiệm của Bắc Ninh 48
1.3.3. Kinh nghiệm của Hà Nội 53
1.3.4. Bài học rút ra cho Hải Dương
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ
HÓA Ở HẢI DƯƠNG
59
60
2.1. Đô thị hóa ở Hải Dương và đặc điểm của lao độ
ng nông nghiệp tỉnh
Hải Dương trong quá trình đô thị hóa
60
trình đô thị hóa ở Hải Dương đến 2010 và những năm tiếp theo
141
3.2. Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá
trình đô thị hóa
ở Hải Dương đến 2010 và những năm tiếp theo
146
3.2.1. Giải pháp về quy hoạch 146
3.2.2. Giải pháp về mở rộng cầu lao động 148
3.2.3. Giải pháp về nâng cao chất lượng cung lao động 162
3.2.4. Giải pháp về tổ chức thị trường sức lao động 170
3.2.5. Giải pháp về cơ chế, chính sách đối với lao động nông nghiệp bị thu hồi
đất trong quá trình đô thị hóa
175
KẾT LUẬN
182
DANH MỤC TÀI LIỆ
U THAM KHẢO
184
PHỤ LỤC 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
1.1. Tình hình lao động bị mất việc làm trong nông nghiệp do
thu hồi đất giai đoạn 2001 - 2005
71
2.11. Thu nhập bình quân và cơ cấu nguồn thu của lao động
nông nghiệp xã Nguyên Giáp và xã Hà Kỳ, huyện Tứ Kỳ,
tỉnh Hải Dương năm 2005
74
2.12. Thu nhập trung bình của LĐNN trước và sau khi thu hồi đất 75
2.13. Tình hình việc làm theo ngành ở Hải Dương 77
2.14. Việc làm và cơ cấu việc làm theo thành phần kinh tế ở Hải
Dương năm 2005
78
2.15. Cơ cấu việc làm theo khu vực nông thôn - thành thị ở Hải Dương 78
6
2.16. Vị thế việc làm của lao động tỉnh Hải Dương năm 2005 79
2.17. Tỷ trọng LĐNN ở khu vực nông thôn và thành thị tỉnh Hải Dương 80
2.18. So sánh tỷ lệ LĐNN thiếu việc làm của Hải Dương với
các tỉnh trong vùng
80
2.19. So sánh tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực
nông thôn của Hải Dương với bình quân chung ĐBSH và
một số tỉnh khác trong vùng n
ăm 2002
81
2.20. Tỷ lệ thời gian lao động của LĐNN được sử dụng cho
hoạt động trồng trọt năm 2002
81
2.21. Cơ cấu lao LĐNN chia theo số giờ làm việc bình quân
trong tuần của Hải Dương và một số tỉnh khác trong vùng
82
7
2.37. Công việc của LĐNN sau khi bị thu hồi đất 115
2.38. Sự chuyển dịch CCKT và cơ cấu lao động tỉnh Hải Dương 116
2.39. Ý kiến của LĐNN bị thu hồi đất về việc vay vốn từ quỹ
quốc gia GQVL
121
2.40. Phân loại LĐNN bị thu hồi đất theo độ tuổi 124
2.41. Mức độ phù hợp của nghề được đào tạo 125
2.42. Thông tin về thái độ của ng
ười dân trong việc đền bù giá
đất (độ hài lòng)
126
2.43. Kết quả đào tạo nghề của 9 cơ sở dạy nghề Nhà nước ở
Hải Dương từ 2001 - 2005
128
2.44. Cơ cấu sử dụng tiền đền bù của các hộ gia đình có đất bàn
giao ở Hải Dương
134
3.1. Dự báo dân số và nguồn lao động ở Hải Dương đến 2010
và 2015
139
3.2. Diện tích đất sẽ thu hồi
ở Hải Dương từ 2006 - 2010 140
3.3. Dự báo số lao động bị thu hồi đất có nhu cầu GQVL ở Hải
Dương giai đoạn 2006 - 2010
140
3.4. Dự báo số lao động trong các ngành, lĩnh vực của Hải
Dương đến 2010 và 2015
khoảng 50% vào năm 2015.
Việt Nam - một quốc gia đang phát triển, do đó đô thị hóa đang và sẽ
diễn ra rất mạnh mẽ. Sự phát triển mạnh mẽ của đô thị hóa đã tạ
o ra sự chuyển
biến sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu lao
động, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội theo hướng tiến bộ, biến nông thôn
thành thành thị, biến các làng quê với hoạt động nông nghiệp là chủ yếu thành
các đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn) với các hoạt động phi nông nghiệp là chủ
y
ếu. Tuy nhiên, đô thị hóa cũng đặt ra nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi cần phải
giải quyết, đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp khi
họ bị thu hồi đất canh tác, đất ở để Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị,
xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất Theo báo cáo của Bộ NN và
PTNT, giai đoạn 2001 - 2005 cả nướ
c đã có 366.440 ha đất nông nghiệp được
chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó: xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị gần
206.497 ha, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất khoảng 15.383 ha và
xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ 24.173 ha [2, tr 2] . Thực tế cho
thấy, ngay sau khi thu hồi đất, lao động nông nghiệp bị mất hoặc thiếu việc
làm, trong khi các dự án phát triển công nghiệp phải có thời gian mới có thể
thu
hút được lao động, đó là chưa kể đến nhiều dự án ít thu hút lao động tại chỗ,
thậm chí có những "dự án treo" Tất cả những điều đó làm cho việc làm của
lao động nông nghiệp ở những khu vực này trở nên hết sức bức xúc. Theo tính
toán của Bộ NN và PTNT, Bộ LĐ - TB và XH, trong 5 năm qua, việc thu hồi
9
đất đã ảnh hưởng đến đời sống, việc làm của 627.495 hộ gia đình, khoảng 950
ngàn lao động và 2,5 triệu người [10, tr 2].
10
lao động với phát triển kinh tế"; "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế"; "Nông nghiệp
trong quá trình phát triển", v.v
Việc thực hiện đề tài còn là một cách thức bước đầu để đẩy mạnh mối
liên kết trong hoạt động nghiên cứu khoa học giữa Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh với các địa phương theo chủ trương của Giám đốc
Học viện.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho
đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giải quyết
việc làm. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở nước ta thì chưa nhiều, chưa có
hệ thống và chủ yếu là các bài viết có tính chất trao đổi được đăng tải trên các
tạp chí. Có thể nhóm các bài viết đó thành các nhóm sau:
a. Những công trình nghiên cứu về việc làm trong quá trình đô thị hóa
ở phạm vi quốc gia, vùng
- Lê Doãn Khải (2001),
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng đồng bằng bắc bộ, Luận án Tiến
sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Cao Đức, Quá trình đô thị hóa các đô thị lớn ở Việt Nam giai
đoạn 1990 - 2000: thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 4/2003.
- Mỹ Hạnh, Bài toán việc làm cho nông dân trước "cơn lốc"
đô thị hóa,
Tạp chí Lao động và Xã hội, số 224 + 225/2003.
- Tuấn Cường, Bài toán lao động - việc làm tại các thành phố lớn, khu
công nghiệp tập trung, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 215/2003.
- Ngô Anh Ngà, Nông dân các vùng quy hoạch đô thị và khu công
giải phóng mặt bằng ở Vĩnh Phúc, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 224 + 225,
tháng 10/2003.
- Thanh Hải, Việc làm cho nông dân sau giải phóng mặt bằng: nỗi bức
xúc của thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 224 + 225, tháng
10/2003.
- Lê Phạm Ngọc Kỳ, Công tác giải quyết việc làm ở nông thôn Long An:
kết quả và kinh nghiệm, Tạ
p chí Lao động và Xã hội, số 250, tháng 11/2004.
- Lê Xuân Đăng, Vĩnh Phúc giải quyết việc làm, Tạp chí Lao động và
Xã hội, số 273, tháng 10/2005.
12
- Nguyễn Văn Thắng, Vĩnh Phúc đẩy mạnh dạy nghề và giải quyết việc
làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, Tạp chí
Lao động và Xã hội, số 265, tháng 6/2005.
- Vương Văn Sang, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với giải quyết việc
làm ở Hưng Yên: kết quả và những vấn đề đặt ra, Tạ
p chí Lao động và Xã
hội, số 275, tháng 11/2005.
- Đỗ Quang Vui, Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh; thực trạng và những
vấn đề đặt ra, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 277, tháng 12/2005.
- Trịnh Đức Tính, Ninh Bình gắn đào tạo nghề với việc giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn bị mất đất sản xuất, Tạp chí Lao động và Xã hội,
số 255, tháng 1/2005.
- Hồng Minh, Hà Nội giải quyết vi
ệc làm cho lao động khu vực chuyển
đổi mục đích sử dụng đất, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 270, tháng 9/2005.
- Đỗ Thanh Quang, Người lao động Bắc Ninh sau việc chuyển đổi mục
đích sử dụng đất, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 277, tháng 12/2005.
Tạp chí Lao động và Xã hội, số 263, tháng 5/2005.
- Thiện Thuận, Dạy nghề cho nông dân ở Thái Bình, Tạp chí Lao động
và Xã hội, tháng 5/2005.
- Mỹ Hạnh, Tổ chứ
c đoàn với trách nhiệm dạy nghề và giải quyết việc làm
cho thanh niên nông thôn, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 259, tháng 3/2005.
- PGS.TS Nguyễn Tiệp, Thực trạng và giải pháp tạo việc làm cho lao
động thanh niên, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Số 124, tháng 10/2007.
- Nghiêm Trọng Quý, Thực trạng dạy nghề cho lao động khu vực chuyển
đổi mục đích sử dụng đất, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 322, tháng 11/2007.
Như vậy có thể th
ấy cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách toàn diện, có hệ thống từ lý luận đến thực tiễn về chủ đề giải quyết
việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở phạm vi cả
nước nói chung và ở từng địa phương nói riêng.
3. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Mục tiêu
Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình đô thị hóa
ở tỉnh Hải Dương. Trên cơ sở đó đề xuất
14
phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Hải Dương trong thời gian tới.
b. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình đô thị hóa, hay nói cách khác là nghiên cứu tình hình
giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp ở các vùng chuyển đổi mục
đích sử dụng đất nông nghi
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
1.1. LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA
ĐẾN VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
1.1.1. Đặc điểm của lao động nông nghiệp
Lao động nông nghiệp là lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất
kinh doanh nông nghiệp. Lao động nông nghiệp đại đ
a số sống ở khu vực
nông thôn. Hoạt động SXKD của LĐNN được gắn liền với đối tượng cây
trồng, vật nuôi là những cơ thể sống với những đặc điểm rất riêng biệt. Vì thế,
làm cho LĐNN có những đặc điểm rất riêng, không giống với lao động ở các
lĩnh vực kinh tế khác. Có thể chỉ ra một số đặc điểm c
ủa LĐNN như sau (chủ
yếu đi vào đặc điểm của LĐNN nước ta):
1.1.1.1. Cung lao động nông nghiệp mang tính chất tự có
Đây là đặc điểm cơ bản tạo nên sự không ăn khớp giữa cung lao động
nông nghiệp, nông thôn với cầu lao động trong nông nghiệp, nông thôn và cầu
lao động cả nước. Đặc điểm trên xuất phát từ những lý do sau đây:
- Cung lao động nông nghiệp, nông thôn về cơ b
ản là do cung dân số
quyết định. Những hành vi sinh đẻ cung cấp lao động tương lai cho thị trường
sức lao động không thuần tuý là hành vi “sản xuất” hàng hoá theo nhu cầu của
thị trường như những hàng hoá khác.
Các nghiên cứu hiện nay về gia đình cho thấy gia đình nông dân, nông
thôn có 3 chức năng cơ bản:
Thứ nhất, chức năng sinh đẻ để duy trì nòi giống.
. Khả năng nguồn lực
của doanh nghiệp. Khả
năng ít, sản xuất sẽ ít
. Không phụ thuộc thậm chí
không quan tâm đến nhu cầu
thị trường sức lao động.
. Nguồn lực gia đình càng ít,
sinh đẻ càng nhiều.
Nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng
hàng hoá
. Thời gian ngắn và
thuần tuý trong phạm vi
doanh nghiệp
. Công nghệ và thiết bị,
trình độ của người SX
. Phải qua hàng chục năm và
là kết quả của 3 quá trình: đẻ,
nuôi, dạy.
. Gia đình, xã hội, người lao
động
Tính chủ động
trong sản xuất
. Mức độ cao trong chủ
động lựa chọn mặt hàng.
. Chủ động tạo ra cơ
cấu chủng loại theo nhu
cầu thị trường và lựa
chọn nguyên liệu, thiết
bị, công nghệ
nghiệ
p, người lao động tiến hành quá trình sản xuất, thì đồng thời đó cũng là
quá trình tạo ra sản phẩm. Còn trong nông nghiệp thì không phải như vậy. Do
đối tượng sản xuất nông nghiệp gắn liền với cây trồng, vật nuôi nên quá trình
sản xuất nông nghiệp là quá trình gắn kết giữa hoạt động kinh tế của con
người với chu kỳ sống của cây trồng, vật nuôi. Chính điều này làm cho cầu
LĐNN mang sắc thái riêng - có tính th
ời vụ. Lúc thì cầu LĐNN cao (ví dụ
trồng lúa 2, 3 vụ trong năm thì sẽ có 4 - 6 thời điểm cần LĐNN cao - đó là
thời điểm gieo cấy và thu hoạch), lúc lại nhàn rỗi (không phải thời điểm mùa
vụ). Tình trạng thiếu việc làm tạm thời của LĐNN là phổ biến. Do thu nhập
thấp, thời gian nhàn rỗi việc đồng áng lại tương đối dài, nên LĐNN đều muốn
tìm ki
ếm việc làm thêm. Thực tế có người tìm được việc làm thêm, có người
không. Trong kinh tế học hiện đại gọi những người không tìm được việc làm
thêm này là người thất nghiệp tạm thời, tức là thất nghiệp phát sinh do thay
18
đổi các giai đoạn làm việc trong sản xuất nông nghiệp, do tính chất thời vụ
của sản xuất nông nghiệp. Đây là phạm trù dùng để phân biệt với thất nghiệp
cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ.
Trong các nền kinh tế phát triển, sản xuất nông nghiệp được CNH,
HĐH, năng suất lao động rất cao, thời gian làm việc ngoài đồng của nông dân
ít hơn so với nông dân các nước đang phát triể
n, nhưng do phát triển đa canh,
phát triển công nghiệp chế biến nông sản, nên thời gian nhàn rỗi của nông dân
các nước này giảm xuống. Mặt khác, do NSLĐ nông nghiệp cao, thu nhập của
người làm nông cao, thậm chí còn cao hơn những người làm việc trong khu
vực công nghiệp, dịch vụ. Vì thế họ không có nhu cầu tìm kiếm việc làm
ý thức vươn lên, ỷ l
ại vào Nhà nước và cộng đồng, nặng về khai thác tự nhiên.
Kết quả nghiên cứu về xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam cho thấy đang tồn
tại một bộ phận nông dân được Nhà nước và cộng đồng cấp đất nông nghiệp,
cho vay vốn, hướng dẫn làm ăn nhưng không đủ bản lĩnh và ý chí vươn lên.
Kỹ năng phổ biến của lao động nông nghiệp, nông thôn là trồng lương
thự
c - trước hết là trồng lúa. Ở nước ta, thuần nông, thuần trồng trọt diễn ra
nhiều thế kỷ, nên kỹ năng của đa số lao động nông nghiệp, nông thôn là canh
tác trồng trọt. Trong hoàn cảnh đó, đất đai là phương tiện sinh tồn gần như là
duy nhất đối với đa số nông dân Việt Nam. Để tạo cho người nông dân có
việc làm, thu nhập, khỏi lâm vào bần cùng sau giải phóng nông dân khỏi ách
bóc lột củ
a đế quốc, phong kiến, Nhà nước Việt Nam - và nhiều Nhà nước
khác buộc phải thực hiện cải cách, điều chỉnh đất đai, thực hiện yêu cầu
“người cày có ruộng”. Yêu cầu này không chỉ thể hiện sự quan tâm của Nhà
nước đến nông dân về mặt chính trị mà còn về mặt kinh tế. Bởi vì, kỹ năng
duy nhất của người nông dân là làm nông nghiệp thuần trồng trọt. Họ chủ y
ếu
được truyền kinh nghiệm canh tác từ các thế hệ trước. Vì thế, cung cấp cho
nông dân đất đai chính là cung cấp cho họ phương tiện đầu tiên để có việc
làm, thu nhập. Yêu cầu này đã phần nào chi phối việc chia đất đai cho nông
dân sau Chỉ thị 100 (1/1981), Nghị quyết 10 (4/1988) và các bộ Luật đất đai
trong những năm đổi mới. Như vậy, trong chính sách đất đai hiện nay, việc
dồn điền
đổi thửa là việc có thể làm nhanh, còn việc tích tụ đất đai nhiều hơn
cho một số hộ nông dân là việc làm không đơn giản. Bởi vì: (i) Thực chất của
dồn điền đổi thửa chỉ là chuyển đổi vị trí đất đai giữa các hộ nông dân, làm
cho đất đai của một số hộ trở nên ít thửa hơn, ít cánh đồng hơn, mở đường
nghiệp để lao động nông nghiệp nước ta không những có thể tự tạo việc làm
phi nông nghiệp tại nông thôn hoặc đủ năng lực để tham gia vào thị trường
sức lao động ở thành thị hoặc xu
ất khẩu.
21
1.1.1.4. Lao động nông nghiệp, nông thôn hoạt động ở qui mô hộ gia đình
Sự phân công lao động trong gia đình nông dân chưa thật rạch ròi. Hiện
tượng lao động gia đình nông dân vừa làm nông nghiệp vừa làm công nghiệp,
dịch vụ là hiện tượng mang tính phổ biến. Trong các gia đình nông dân, hiện
tượng buổi sáng làm nông nghiệp, buổi chiều làm công việc phi nông nghiệp
hoặc lúc công việc nông nghiệp thiếu - nông nhàn - thì đi làm thuê ở thành
thị, làm thuê cho các chủ trang trại, chủ
làng nghề v.v
Tính chất gia đình của lao động không chỉ thể hiện trong khi thực hiện
quá trình lao động mà còn ở phân phối kết quả, thụ hưởng lợi ích. Ở đây, hình
thành những nguyên tắc gia đình rất linh hoạt trong phân công lao động và
thụ hưởng kết quả. Nếu đưa những nguyên tắc thói quen gia đình của nông
dân vào các hoạt động kinh tế - xã hội khác sẽ không thành công . Tính chất
gia đình của lao động nông nghiệp, nông thôn vừa t
ạo thuận lợi cho sự bền
vững của kinh tế tiểu nông, sự bền vững của gia đình nhưng vừa gây khó
khăn cho sự hoà nhập của lao động nông nghiệp, nông thôn vào thị trường sức
lao động đòi hỏi chuyên môn hoá, sự sòng phẳng trong làm việc và thụ hưởng
ngày càng cao.
Như vậy, khi mất đất nông nghiệp, lao động nông nghiệp nước ta phải
“nhảy 1 bước” quá xa, không chỉ khác nhau về nghề nghiệ
p mà còn khác
nhau về các quan hệ lao động. Bước nhảy này chưa được tạo lập bởi ngành
tạo việc làm của LĐNN, nông dân.
+ Các giải pháp nâng cao chất lượng nông sản, phát triển công nghiệp
chế biến, ứng phó với nông sản thường xuyên thay đổi chưa hữu hiệu. Do đó,
một bộ phận nông dân tổn thấ
t nguồn lực, giảm cơ hội tự tạo việc làm của dân
cư nông thôn.
+ Phân bổ nguồn lực đất đai chưa hợp lý và nhiều thiếu sót trong chính
sách đất đai đã làm giảm nguồn lực và cơ hội tạo việc làm cho dân cư nông
thôn. Ví dụ, điều tra 4 tỉnh ở Tây Nguyên cho thấy, năm 2002, ở 3 tỉnh Tây
Nguyên được điều tra số lao động nông nghiệp khu vực Nhà nước chỉ
chiếm
10 - 13% tổng số lao động nông nghiệp trên địa bàn nhưng được giao sử dụng
60 - 70% quỹ đất đai các loại. Hộ gia đình nông dân chiếm gần 90% lao động
nhưng chỉ được giao 30 - 40% đất đai các loại. Thậm chí, các lâm trường ở
23
Tây nguyên chiếm 4,8% lao động nhưng lại giao quản lý 64,5% đất lâm
nghiệp của vùng [53].
+ Giá cả nhiều loại đầu vào biến động thường xuyên theo xu hướng gia
tăng. Ví dụ, giá phân hoá học năm 2005 tăng gần 2 lần so với năm 2003.
Trong 2 năm 2004 - 2005, giá xăng dầu tăng giá 7 lần, mức tăng giá của lần
cuối so với lần đầu tăng gần 2 lần. Chi phí sắt thép, xăng dầu, phân bón làm
giảm lợ
i nhuận tích luỹ của nông dân. Ví dụ, riêng chi phí xăng dầu tăng đã
làm cho giá xay xát, vận chuyển 1 tấn gạo từ 112 ngàn đồng lên 150 ngàn
đồng [60].
+ Thiên tai, dịch bệnh xảy ra thường xuyên với mật độ và cường độ
ngày càng gia tăng. Ví dụ, năm 2006, thiên tai đã gây thiệt hại cho nền kinh tế
nước ta trên 18 ngàn tỷ đồng. Năm 2007, lũ lụt, bão, úng, lũ quét đã gây thiệt
tương ứng với điều kiện CNH, HĐH và ĐTH [31, tr 80]. Theo quan điểm một
vùng, ĐTH là quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống
theo kiểu đô thị. Theo quan điểm nền kinh tế quốc dân, ĐTH là quá trình biến
đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượ
ng sản xuất, bố trí dân cư những vùng
không phải là đô thị thành đô thị [54, tr 12]. Ngày nay, khi mà ĐTH luôn gắn
liền với CNH đang diễn ra mạnh mẽ và phổ biến trên thế giới thì cách hiểu về
ĐTH cũng có những thay đổi, cách hiểu được nhiều người chấp nhận, ĐTH là
quá trình mang tính quy luật gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ
cấu xã hộ
i từ nông nghiệp - nông dân - nông thôn sang công nghiệp - thị dân -
đô thị với những đặc trưng sau:
Một là, ĐTH không phải là kết quả, mà là một quá trình lâu dài diễn ra
trên một không gian lãnh thổ rộng lớn;
Hai là, tiền đề cơ bản của ĐTH là sự phát triển công nghiệp hay CNH,
HĐH. Trong quá trình ĐTH có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ dựa vào nông
nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệ
p, thương mại và dịch vụ;
Ba là, ĐTH là quá trình hình thành, nâng cấp và mở rộng quy mô đô thị
với cơ sở hạ tầng hiện đại;
Bốn là, các làn sóng di cư nông thôn - đô thị làm tăng nhanh quy mô
dân số đô thị, chuyển từ lối sống phân tán, mật đô dân số thưa thớt sang lối
sống tập trung, mật độ dân số cao. Điều đó dẫn đến sự b
ố trí lại dân cư, thay
đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội.