Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA

ĐOÀN THỊ HẢI

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2005


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA

ĐOÀN THỊ HẢI

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số

: 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay.................................

30

2.1. Thực trạng của quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của nó tới
việc làm cho lao động nông nghiệp ở nước
ta..........................

30

2.2. Thực trạng về việc làm của người lao động nông nghiệp
nước ta hiện nay...................................................................

53

2.3. Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam.....................

64

Chương 3. Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người
lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở nước ta

74

3.1. Định hướng đô thị hóa ở nước ta tới năm 2010...................

74

3.2. Phương hướng giải quyết việc làm cho lao động nông

Số người
trong độ tuổi lao
động

Tình trạng việc làm trước và sau khi thu hồi đất

Trong đó
STT Tên địa bàn
Tổng
số

1

2

Đủ việc làm

Nam:
Trước khi
35 - 60 thu hồi đất
Nữ
tuổi
Nữ: Tổng
%
35 - 55 số
(9/3)
tuổi

3


613

326 1.008

85,35

4 Nam Sách

2.899 1.515

800 2.099

72,40 1.025 35,36 48,83

5 Kim Thành

2.914 1.580

804 1.912

6 Chí Linh

1.596

440 1.196

23.746 12.188 6.552 17.607

14


%
(16/14)
(21/19
Tổng % (11/9) Tổng % Tổng %
Tổng % Tổng %
số (11/3)
số (14/3) số (16/3)
số (19/3) số (21/3)

2 Cẩm Giàng

788

Chưa có việc làm

86,37

527 15,13

685 19,66 129,98

247 20,91 457,41

119 10,08

138 11,69 115,97

542 18,70 1.419 48,95 261,81

258

54

4,57

526 15,10

769 48,18 241,82

74,15 11.669 49,14 66,27 3.762 15,84 8.501 35,80 225,97 2.377 10,01 3.576 15,06 150,44

Nguồn: Số liệu điều tra của tỉnh Hải Dương. [35, tr.16]
45


Bảng 2.11: Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo thành thị, nông thôn, vùng và ngành SXKD chính
(việc chiếm nhiều thời gian nhất trong 12 tháng qua).
Chung
Cả nước

Nông, lâm nghiệp, thủy sản
Nông nghiệp

Lâm nghiệp

Phi nông, lâm nghiệp, thủy sản

Thủy sản

Công nghiệp


1,85

21,98

6,36

20,82

32,92

- Nông thôn

100

66,96

0,44

3,33

9,88

3,71

7,27

8,35

- ĐBS Hồng


5,58

9,44

- Tây Bắc

100

85,60

0,24

0,28

2,60

1,24

2,34

7,69

- Bắc Trung Bộ

100

68,00

0,65


100

77,45

0,78

0,22

5,03

1,64

6,79

8,09

- Đông nam bộ

100

31,50

0,43

2,25

22,72

4,93



NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, có tiềm năng lao động rất lớn
với trên 42 triệu lao động, trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 70%
(trên 30 triệu lao động nông nghiệp). Khả năng tạo việc làm cho lao động nói
chung và đặc biệt là lao động nông thôn rất khó khăn, tình trạng thiếu việc
làm, thất nghiệp có xu hướng gia tăng, điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến tới
sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh của quốc gia, nguyên nhân của
vấn đề này là: Nền kinh tế của đất nước phát triển chậm, khả năng thu hút lao
động và tạo việc làm mới hạn chế; trình độ của độ ngũ người lao động thấp,
không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, thông tin về thị trường, thông
tin về khoa học công nghệ rất yếu, nghèo, thiếu vốn, thiếu công nghệ...
Để phát triển nền kinh tế đòi hỏi đất nước phải chuyển dịch cơ cấu kinh

- Đô thị hoá và quản lý đô thị ở Hà Nội do GS. TS. Nguyễn Đình
Hương (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn
– thực trạng và giải pháp do TS. Chu Tiến Quang (chủ biên), NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam. Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
- Tạo việc làm ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở đô thị, Luận án
Phó tiến sĩ Kinh tế của Trần Thị Lộc, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà
Nội, 1996.
- Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế của Trần Thị Thu, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân, Hà Nội, 2002...
Tuy nhiên, việc nghiên cứu giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình đô thị hoá chưa được các tác giả đề cập và giải quyết
vấn đề một cách có hệ thống. Gần đây, ở một số địa phương đô thị hoá diễn ra

2


mạnh mẽ, vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân mất đất một phần hoặc
suất toàn bộ đất đai do chuyển mục đích sử dụng đất trở nên bức xúc, một số
cơ quan chủ quản ở các địa phương cũng đã bắt đầu nghiên cứu về giải quyết
việc làm cho lao động nông nghiệp, song vấn đề mới dừng lại ở địa bàn các
địa phương, thiếu tính hệ thống.
Do vậy, luận văn đã góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn, đề
xuất các giải pháp trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp
nước ta trong quá trình đô thị hoá, đô thị hoá nông nghiệp, nông thôn. Hy
vọng góp thêm tiếng nói cùng các nhà nghiên cứu, quản lý giải quyết tốt vấn
đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

trưng của kinh tế chính trị - phương pháp trừu tượng hóa. Ngoài ra, còn sử
dụng các phương pháp khác: thống kê, so sánh, điều tra, phân tích, tổng hợp...
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về việc làm của lao động
nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa.
- Đánh giá được thực trạng, định hướng quá trình đô thị hóa ở nước ta
thời gian qua và tác động của nó tới việc làm của người lao động.
- Đánh giá được thực trạng về việc làm của người lao động nông nghiệp
trong quá trình đô thị hóa hiện nay ở nước ta.
- Đề xuất phương hướng biện pháp tạo việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình đô thị hóa hiện nay ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề lý luạn, thực tiễn về việc làm cho lao đông
nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá.
Chương 2: Thực trạng về việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá
trình đô thị hoá ở nước ta hiện nay.

4


Chương 3: Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người
lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở nước ta.

5


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM

gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận nguồn lực có thể huy động được để
tham gia vào quá trình phát triển đất nước.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là bộ phận của dân số trong độ tuổi lao
động theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân
lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng, là tổng thể những người trong
độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ. Về chất
lượng, nguồn nhân lực thể hiện ở sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác
phong, thái độ làm việc của người lao động.
Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là một bộ phận dân số trong
độ tuổi lao động quy định thực tế có tham gia lao động và những người không
có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng
được biểu hiện trên hai mặt: số lượng và chất lượng như nguồn nhân lực. Về
độ tuổi, mỗi quốc gia có quy định giới hạn tối đa và giới hạn tối thiểu khác
nhau: giới hạn tối thiểu ở Braxin: 10 tuổi, Úc: 15 tuổi, Mỹ: 16 tuổi,... phần lớn
các quốc gia quy định độ tuổi này từ 14 hoặc 15 tuổi. Ở Việt Nam quy định
15 tuổi, giới hạn tối đa: các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Thụy Sĩ, Na Uy, Phần
Lan) quy định độ tuổi này là 74 tuổi. Còn các nước đang phát triển: Malaixia,
Ai Cập, Mêhicô,... quy định độ tuổi này là 65 tuổi. Ở Việt Nam độ tuổi này
được quy định: 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ [25, tr. 5].
Trong điều kiện ngày nay (nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền kinh
tế khu vực và thế giới, nền kinh tế tri thức,...) việc không ngừng nâng cao chất
lượng nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Số lượng lao động đông đảo
không còn chiếm ưu thế, nhất là với lao động có chất lượng thấp.
Điểm đáng lưu ý của lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động,
sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đều gắn liền với đối tượng
cây trồng, vật nuôi - là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng biệt,
không thể xóa bỏ, làm cho lao động nông nghiệp mang sắc thái riêng, không
giống với lao động trong một số ngành kinh tế khác. Đặc biệt là tính chất thời

7

8


ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như: trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại
dâm,... Không thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là
hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là
việc làm - chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính
gia đình mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo,... Nhưng nếu người phụ nữ
đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì
hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công.
Điểm đáng lưu ý là tùy theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc và pháp
luật của các quốc gia mà người ta có một số quy định khác nhau về việc làm: Ví
dụ: mại dâm của phụ nữ được coi là việc làm của phụ nữ ở Thái Lan, Philippin
vì được pháp luật bảo hộ và quản lý; nhưng ở Việt Nam hoạt động đó được coi
là hoạt động phi pháp, vi phạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm.
Tuy nhiên, với khái niệm trên, theo tác giả luận văn có điểm còn bất
hợp lý: có những hoạt động có ích cho gia đình, cho xã hội, không vi phạm
pháp luật, nhưng không tạo ra thu nhập "trực tiếp" cho người tham gia hoạt
động - như công việc nội trợ của phụ nữ,... lại không được coi là việc làm.
Nhờ phụ nữ làm công việc nội trợ, đã góp phần làm giảm chi tiêu của gia
đình; tạo điều kiện cho chồng, con yên tâm hoạt động sản xuất, kinh doanh
đồng thời góp phần tăng thêm lượng vốn đầu tư vào sản xuất, phát triển sản
xuất, tăng thu nhập cho cả gia đình. Như vậy, thực chất của vấn đề ở đây là công
việc nội trợ của phụ nữ cũng đã góp phần làm tăng thu nhập của cả gia đình.
Với ý nghĩa đó, tác giả luận văn đồng tình với quan điểm: việc làm là một
dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều
kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng [39, tr. 32].
Trong nền kinh tế thị trường, ở đâu có lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ
tăng cường sử dụng lao động, tăng sản lượng, khối lượng việc làm sẽ tăng lên.
Mặt khác, khi nhu cầu thị trường suy giảm, các doanh nghiệp sẽ phải cắt giảm

nghiên cứu trong vài chục năm trở lại đây.
Thuật ngữ "đô thị" bắt nguồn từ tiếng la tinh: Urbanus - thuộc về đô thị,
Urban - thành thị, đô thị, châu thị,... "Đô thị là một khái niệm cơ bản và được

10


sử dụng khá thống nhất ở các quốc gia, nhằm chỉ những nơi có dân cư đông
đúc, sinh sống bằng các nghề phi nông nghiệp".
Theo G.S.Harold Chestnut trường đại học kỹ thuật Presden (Hoa Kỳ):
"Đô thị là các điểm dân cư ở đó biểu hiện một quá trình kinh tế - xã hội - kỹ
thuật gắn bó mật thiết với nhau. Các hoạt động của đô thị được phản ánh thông
qua các hoạt động sản xuất kinh doanh, sinh sống, đi lại, vui chơi giải trí,... của
dân cư, chúng tồn tại và phát triển theo các quy luật của xã hội".
Theo GS. Đàm Trung Phường:
Đô thị là một đơn vị kinh tế - xã hội phản ánh sự vận động của
bản thân lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó làm cho cấu trúc
của đô thị thường xuyên có sự chuyển hóa; sự chuyển hóa này vừa
mang tính sinh học vừa mang tính cơ học. Đô thị là một cơ thể sống
luôn vận động, phát triển trên cơ sở đan kết tổng hòa cân bằng động của
nhiều ngành trong một đơn vị lãnh thổ và sự tác động tương hỗ của các
hệ thống nội lực, ngoại lực theo nhiều chiều khác nhau [29].
Ở Việt Nam, theo quan niệm của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được thể hiện rõ trong Quyết định số 132 HĐBT ngày 5-5-1990
của Hội đồng Bộ trưởng: Đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau đây:
1. Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của vùng lãnh thổ nhất định.
2. Có quy mô dân số nhỏ nhất là 4.000 người, quy mô dân số tối thiểu
trong nội thị không nhỏ hơn 2.000 người/ km2 (vùng núi có thể thấp hơn).
3. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên trong tổng số lao

quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước - dân số từ 1 triệu trở
lên, có tỉ suất hàng hóa cao, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong
tổng số lao động. Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công
cộng được xây dựng đồng bộ. Mật độ dân cư bình quân 15.000 người/km2 trở
lên.
2. Đô thị loại 2: Là đô thị lớn, trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội, sản xuất
công nghiệp, du lịch - dịch vụ, giao thông, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển của một vùng lãnh thổ. Dân số từ 35 vạn đến dưới 1 triệu. Sản xuất
12


hàng hóa phát triển, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số
lao động - cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công cộng được xây dựng nhiều
mặt tiến tới đồng bộ - Mật độ dân cư bình quân 12.000 người/km2 trở lên.
3. Đô thị loại 3: Là đô thị trung bình lớn, trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hóa - xã hội là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, du
lịch - dịch vụ, có vai trò thúc đẩy phát triển của một tỉnh, hoặc từng lĩnh vực đối
với vùng lãnh thổ. Dân số từ 10 vạn đến dưới 35 vạn (vùng núi có thể thấp hơn nhưng không quá 70% theo quy định) - sản xuất hàng hóa tương đối phát triển,
tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên trong tổng số lao động. Cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt.
Mật độ dân cư bình quân 10.000 người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn).
4. Đô thị loại 4: là đô thị trung bình nhỏ, trung tâm tổng hợp chính trị,
kinh tế, văn hóa - xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một
tỉnh hay một vùng trong tỉnh. Dân cư từ 3 vạn đến dưới 10 vạn (vùng núi có
thể thấp hơn). Là nơi có sản xuất hàng hóa, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ
70% trở lên trong tổng số lao động. Đã và đang đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
kỹ thuật và các công trình công cộng từng phần. Mật độ dân cư 8.000 người/
km2 trở lên (vùng núi có thể thấp hơn).
5. Đô thị loại 5: Là đô thị nhỏ, trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội,

dịch từ các nghề nghiệp nông thôn sang các nghề nghiệp đô thị, và vì thế mà
diễn ra sự chuyển dịch từ các điểm dân cư nông thôn sang các điểm dân cư đô
thị ở các quy mô khác nhau. Đô thị hóa không đơn thuần là vấn đề dân số học,
nó là vấn đề bao trùm về sự phân bố; đô thị hóa có thể được hiểu như là sự
biểu hiện của các mô hình phát triển các điểm dân cư.
Theo giáo sư Đàm Trung Phường, đô thị hóa là quá trình chuyển dịch
lao động từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có
như các hoạt động của ngành nông, lâm, ngư nghiệp, khai thác phân tán trên
các địa bàn rộng sang những hoạt động tập trung hơn như các hoạt động sản
xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ,... cũng có thể nói là chuyển từ hoạt
động nông nghiệp phân tán, sang các hoạt động phi nông nghiệp tập trung
trên một địa bàn thích hợp được gọi là đô thị.
Như vậy, đô thị hóa với các khái niệm đa dạng tùy theo góc độ nghiên
cứu của các tổ chức và các nhà khoa học, tuy nhiên, đều có những nét chung

14


cơ bản phản ánh đặc trưng của đô thị hóa là: quá trình tập trung dân số vào
các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở
phát triển sản xuất và đời sống. Quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp
hóa đất nước, đồng thời cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất,
cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không
gian kiến trúc... biến nông thôn thành thành thị, hay nói cách khác đô thị hóa
là quá trình biến các làng quê với hoạt động nông nghiệp là chủ yếu thành các
đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn) với các hoạt động phi nông nghiệp là chủ
yếu (từ 60% - 90% tùy theo các cấp độ đô thị) xóa bỏ dần thói quen của
những người nông dân, xây dựng phong cách, thói quen, và tư duy, lối sống
của người dân trong các đô thị.
Quá trình đô thị hóa được diễn ra theo hướng:

15

(%/năm)


Trong đó: N là số năm giữa hai kỳ thống kê.
Lịch sử đã chứng minh: [38, tr.26-33]
- Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến việc
hình thành các trung tâm kinh tế, thương mại giao dịch lớn, tập trung.
- Sự phát triển mạnh mẽ của phân công lao động xã hội hình thành các
ngành mới đặc biệt là các ngành phi nông nghiệp, sự lớn mạnh của các ngành
dịch vụ đã đóng góp phần hết sức to lớn vào phát triển kinh tế đất nước - được
coi như ngành công nghiệp không có ống khói.
- Trong thời đại khoa học công nghệ, CNH, HĐH, hội nhập với nền
kinh tế thế giới, tất yếu sẽ hình thành các thành phố, các trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch vui chơi giải trí,...
- Phát triển đô thị đem lại nhiều ưu việt: đô thị hóa là hiện thân của nền
sản xuất lớn, văn minh hiện đại là nơi tập trung mọi yếu tố vật chất và tinh
thần cho sản xuất của xã hội. Do vậy, đây cũng là nơi sản xuất đạt được năng
suất, chất lượng và hiệu quả cao. Đô thị (đặc biệt là các đô thị lớn) tạo nhiều
khả năng cho người lao động lựa chọn ngành nghề, trường học, nơi làm
việc,... Đồng thời đô thị cũng là nơi phát triển nhu cầu mới và tạo điều kiện
tốt nhất để thỏa mãn những nhu cầu ấy, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho mọi thành viên. Có thể nói: phát triển đô thị là tạo động lực
cho nền kinh tế nói chung và với nông nghiệp nói riêng phát triển. Mặc dù phát
triển đô thị cũng có những mặt trái: ô nhiễm môi trường, tiếng ồn, tai nạn ô tô,
bệnh tật,... nhưng những ưu việt của phát triển đô thị là rất lớn không thể phủ
nhận.
Thực hiện quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chính là từng
bước đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn xây dựng nền văn minh công nghiệp

thống vẫn là chủ yếu, do vậy đất đai là yếu tố hết sức cơ bản và cần thiết đối
với sản xuất nông nghiệp và khả năng tạo việc làm cho người lao động nông
nghiệp. Nhiều đất khả năng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp lớn, ít đất
khả năng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp sẽ giảm đi.
Đô thị hóa đã đẩy nhanh quá trình phân công lao động, tạo cơ sở hạ
tầng thuận lợi cho sản xuất phát triển, tuy nhiên với các nước đang phát triển
có mức thu nhập trung bình thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, tay
nghề của người lao động thấp, không đủ khả năng khai thác những thuận lợi
17


của quá trình đô thị hóa tạo ra, để giải quyết công ăn việc làm cho mình. Do
vậy, quá trình đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng nguy cơ thất nghiệp và
thiếu việc làm trong nông nghiệp, nông thôn càng gia tăng.
Trong quy hoạch phát triển đô thị, vấn đề giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp (đặc biệt là những người "mất" đất canh tác) là vấn đề hết
sức cần thiết và cấp bách.
1.1.4.2. Cơ cấu lao động và trình độ của người lao động
Quá trình đô thị hóa là quá trình phát triển các thành phố, các trung tâm
kinh tế, chính trị và xã hội; là quá trình CNH, HĐH đất nước. Biến nông thôn
thành thành thị, phân công lao động được diễn ra nhanh, mạnh cả chiều sâu
lẫn chiều rộng. Tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Việc làm ở
các đô thị rất đa dạng và phong phú, bao gồm: lao động trong sản xuất kinh
doanh nông nghiệp (chiếm tỷ trọng 10-40% lao động trong tổng số); lao động
trong các nhà máy công nghiệp hiện đại; lao động trong các trung tâm kinh tế,
văn hóa, chính trị và xã hội; lao động trong các ngành dịch vụ,... Cơ cấu lao
động và việc làm là đơn đặt hàng cho "cung" lao động.
Ngoài 10-40% lao động trong ngành nông nghiệp và một bộ phận
không lớn trong một số ngành dịch vụ có trình độ văn hóa, khoa học công
nghệ chưa cao, còn lại phần lớn lao động ở các đô thị là lao động được đào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status