TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:
Thực trạng và một số biện pháp giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn tại huyện Khánh Vĩnh – tỉnh Khánh Hòa
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
Lý do chọn đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NÔNG
THÔN 5
1.1. Một số khái niệm và đặc điểm liên quan 5
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về việc làm và thất nghiệp ở nông thôn 5
1.1.1.1. Việc làm 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN TẠI HUYỆN KHÁNH
VĨNH 15
2.1. Tổng quan về đơn vị thực tập 15
2.1.1. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Khánh Vĩnh 15
2.1.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Phòng LĐ – TB&XH huyện Khánh Vĩnh 15
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN KHÁNH VĨNH – TỈNH KHÁNH HÒA 56
3.1. Cơ sở và đề xuất các biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Khánh Vĩnh
56
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
Kết luận 63
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Thời kỳ hiện nay, thời kỳ hội nhập thời kỳ đất nước đang tiến lên sự nghiệp hóa Công
có việc làm chủ yếu là ở nông thôn. Vì vậy vấn đề giải quyết việc làm cho lao động các vùng
nông thôn nói riêng và lao động của toàn huyện nói chung đang là vấn đề cấp thiết đặt ra cho
chính quyền huyện Khánh vĩnh.
Từ thực trạng trên em tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Thực trạng và một số
biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Khánh Vĩnh – tỉnh Khánh
Hòa”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động và giải quyết việc làm cho lao động ở
huyện Khánh Vĩnh và đề xuất biện pháp nhằm sử dụng nguồn lao động một cách hiệu quả.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động và việc làm tại nông thôn.
3
Nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
ở huyện Khánh Vĩnh và đề xuất biện pháp nhằm sử dụng nguồn lao động ở nông thôn tại
huyện Khánh Vĩnh một cách hiệu quả.
3. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng lao động nông thôn tại huyện
Khánh Vĩnh.
Nghiên cứu sự phát triển các ngành nghề kinh tê ở nông thôn và nguồn lao động nông
thôn Tại huyện Khánh Vĩnh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện bằng phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm, trao đổi, phân
tích, phong vấn, quan sát…
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng lao động và việc giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh.
5.2. Phạm vi không gian
Nghiên cứu tài liệu tại huyện Khánh Vĩnh.
5.3. Phạm vi thời gian
Nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động nông thôn tại huyện Khánh Vĩnh giai đoạn
dài hạn, người nội trợ hoặc nghỉ hưu không nằm trong lực lượng lao động.
1.1.1.3. Đặc điểm của việc làm ở nông thôn
Ở nông thôn các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp (công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ) thường bắt nguồn từ kinh tế hộ gia đình. Các thành viên trong hộ
gia đình có thể tự chuyển đổi, thay thế để thực hiện công viêc của nhau. Vì thế mà việc chú
trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế khác nhau của kinh tế hộ gia đình là một trong
những biện pháp tạo việc làm hiệu quả.
Khả năng thu hút lao động trong các hoạt động trồng chọt, chăn nuôi với các cây trồng
vật nuôi khac nhau sẽ khác nhau, đồng thời kéo theo thu nhập lúc đó cũng có sự khác nhau rõ
rệt, vì thế mà việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thu hút nhiều lao động
cũng là biện pháp tạo thêm việc làm ngay bên trong sản xuất nông nghiệp.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là một hoạt động phi nông nghiệp với một số
nghề thủ công mỹ nghệ được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong từng hộ gia đình, dòng
họ, làng, xã dần dần hình thành những làng nghề truyền thống tạo ra những sản phẩm hàng hóa
6
tiêu dùng dộc đáo vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị văn hóa nghệ thuật đặc trưng cho từng
cộng đồng, vùng miền trên đất nước.
Việc sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có: Đất đai, cơ sở hạ
tầng (giao thông, thủy lợi, các hoạt dộng cung ứng giống, phân bón, phòng trừ sâu bệnh…).
Hoạt động dịc vụ nông thôn bao gồm các hoạt động đầu vào cho hoạt động sản xuất nông
nghiệp – lâm nghiệp – ngư nghiệp và các mặt hàng nhu yếu phẩm cho đời sống dân cư nông
thôn, là khu thu hút đáng kể lao động nông thôn và tạo ra thu nhập cao cho lao động.
Ở nông thôn, có một lớn công việc không định trước được thời gian như: Trông nhà,
trông con, cháu, nội trợ, làm vườn… có tác dụng hỗ trợ tích cực trong việc tăng thêm thu nhập
cho gia đình. Thực chất đây cũng là việc làm có khả năng tạo thu nhập và lợi ích đáng kể cho
người lao động.
Tóm lại, sản xuất nông nghiệp là lình vực tạo việc làm truyền thống và thu hút nhiều lao
động của nông dân tại các vùng nông thôn, nhưng diện tích đất đai canh tác giảm đã hạn chế
khả năng giải quyết việc làm tỏng nông thôn. Hiện nay, những việc làm tỏng nông thôn chủ
yếu là những công việc đơn giản, thủ công, ít đòi hỏi tay nghề cao với tư liệu sản xuất chủ yếu
nguồn lao động nông thôn cũng tương đồng với đặc điểm của lao động trong sản xuất nông nghiệp.
Đặc điểm của lao động nông thôn:
Thứ nhất: Là mang tính chất thời vụ cao và không thể xóa bỏ được tính chất này. Sản xuất
nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh học và điều kiện tự nhiên
của từng vùng (Khí hạu, đất đai…). Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động
không đồng đều. Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trử
nên phức tạp hơn.
Thứ hai: Lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có thích ứng lớn. Do
đó việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lao động có ý nghĩa rất quan trọng và phức tạp, đòi
hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý lao động tốt để tăng cường lực lượng lao động cho sản
xuất nông nghiệp.
Thứ ba: Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp. Sản xuất nông
nghiệp có nhiều việc gồm các khâu với các tính chất khác nhau. Hơn nũa mức động áp dụng
máy móc thiết bị vào sản xuất cong thấp vì thế mà sản xuất nông nghiệp chỉ đòi hỏi về sức
khỏel, sự lành nghề và kinh nghiệm. Mỗi lao động có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau
8
nên lao động nông thôn ít chuyên sâu hơn lao động trong các ngành công nghiệp và một số
ngành khác. Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào
tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệp và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công
cụ lao động cũng thô sơ mang tính tự chế cao. Lực lượng chuyên sâu, lành nghề, lao động chất
xám không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động thấp, khó
khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất.
Nghiên cứu và tìm hiểu đầy đủ các tính chất của lao động nông thôn từ đó có thể tìm ra
những biện pháp sử dụng tốt nhất nguồn lao động trong nông nghiệp nói riêng và nông thôn
nói chung.
1.1.3. Khái niệm của cơ cấu kinh tế nông thôn
1.1.3.1. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế (CCKT) là một phạm trù kinh tế đặc biệt, gắn liền với quá trình hình
thành và phát triển của nền kinh tế trong giới hạn một địa phương, một quốc gia hay một khu
vực. Nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiều thành phần, nhiều nhân tố có mối
nông thôn. CCKTNT là một bộ phận hợp thành, không thể tách rời CCKT quốc dân. Nó đóng
vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước kém phát
triển. Kinh tế nông thôn bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ được tiến hành
trên địa bàn nông thôn.
Xác lập CCKTNT chính là giải quyết mối quan hệ giữa những bộ phận cấu thành trong
tổng thể kinh tế nông thôn dưới tác động của lực lượng sản xuất, giữa tự nhiên và con người,
đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị trong điều kiện và
hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
CCKTNT cũng được xem xét trên các mặt và các mối quan hệ của chúng như: Cơ cấu
các ngành kinh tế nông thôn, cơ cấu các vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế nông
thôn.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
CCKTNT vừa có những đặc trưng chung của CCKT vừa có đặc trưng riêng của vùng
nông thôn với những đặc điểm mang tính đặc thù. Những đặc trưng riêng của CCKTNT được
biểu hiện như sau:
Do đặc điểm của kinh tế nông thôn nên CCKTNT bị chi phối mạnh mẽ bởi cấu trúc
của kinh tế nông thôn. Điều đó biểu hiện ở chỗ, trong CCKTNT, nông nghiệp, thường chiếm tỷ
10
trọng lớn trong cơ cấu ngành và chúng chỉ có thể chuyển biến khi CCKTNT biến đổi theo
hướng có tính quy luật “giảm tương đối và tuyệt đối số người lao động hoạt động trong khu
vực nông thôn với tư cách là lao động tất yếu” lao động này ngày càng thu hẹp để tăng lao
động thặng dự.
CCKTNT hình thành và biến đổi gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền nông
nghiệp sản xuất hàng hóa. Từ thời kỳ kinh tế sinh tồn chuyển sang thời kỳ du canh, du mục, tự
cấp tự túc, nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn này đồng nhất với nền kinh tế nông nghiệp mà
cơ cấu của nó là hai ngành trồng tỉa lương thực và chăn thả đại gia súc gắn liền với hai bộ phận
trồng trọt và chăn nuôi. Trong bối cảnh này, kinh tế nông thôn đồng nghĩa với kinh tế nông
nghiệp. Chỉ khi chuyển sang thời kỳ nông nghiệp sản xuất hàng hoá, CCKTNT mới được hình
thành và vận động theo hướng đa dạng, có hiệu quả, sự phân công lao động chi tiết, tỉ mỉ hơn,
từ đó những loại cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao được phát triển và mở rộng, mở
nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu xác định. Đó là sự chuyển dịch theo những
phương hướng và mục tiêu nhất định chuyển dịch CCKT nông thôn được xem xét trên các
phương diện: Chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, và cơ cấu thành phần kinh tế…
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông thôn là sự thay đổi mối quan hệ tương quan của
mỗi ngành so với tổng thể các ngnàh trong nông thôn. Sự thay đổi này do 2 yếu tố là số lượng
các tiểu ngành thay đổi và mối tương quan tốc độ phát triển giữa các ngành có sự thay đổi hoặc
thay đổi đồng thời cả 2 yếu tố đó.
Chuyển dịch CCKT theo vùng nông thôn là sự chuyển dịch của các ngành kinh tế xét
theo từng vùng. Về thực chất, cũng là sự chuyển dịch của ngành, hình thành sản xuất chuyên
môn hoá, nhưng được xét ở phạm vi hẹp hơn theo từng vùng lãnh thổ.
Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế là sự thay đổi tỷ lệ về sản xuất kinh doanh
của các thành phần kinh tế trong nông thôn. Cơ sở của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
thành phần là sự tồn tại khách quan, vai trò, vị trí của từng thành phần kinh tế trong kinh tế
nông thôn và sự vận động khách quan của nó trong nền kinh tế. Đối với cơ cấu thành phần
kinh tế, bên cạnh sự vận động khách quan thì sự định hướng về mặt chính trị - xã hội theo các
cơ sở khách quan có sự tác động rất lớn đến sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế trong
nền kinh tế nói chung, trong nông thôn nói riêng.
1.2.2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
12
Chuyển dịch CCKTNT là xu hướng vận động có tính khách quan, dưới sự tác động của
các nhân tố. Trên thực tế, cùng với quá tình hình thành và phát triển phong phú, đa dạng các
ngành kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, thì cơ cấu giữa các ngành cũng ngày càng phức
tạp và luôn biến đổi theo nhu cầu của xã hội, theo đà phát triển của thị trường và theo khả năng
của sản xuất để khai thác các nguồn lực vừa để đáp ứng nhu cầu thị trường vừa nâng cao hiệu
quả sản xuất. Quá trình chuyển dịch của CCKTNT bao gồm những xu hướng cơ bản sau:
Chuyển dịch CCKT nông nhiệp, nông thôn sang sản xuất hàng hoá. Trong nền nông
nghiệp độc canh, ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn. Sự mất cân đối giữa trồng trọt và chăn
nuôi bắt nguồn từ tính chất của sản xuất và khả năng giải quyết các nhu cầu về lương thực
trong điều kiện trình độ công nghệ và năng suất lao động thấp. Từ đó mọi yếu tố về nguồn lực
tự nhiên và lao động đều phải tập trung vào sản xuất trồng trọt. Sự biến đổi của khoa học và
Là một trong các nhân tố chủ yếu tạo những điều kiện tiền đề để chuyển dịch CCKT nói
chung và CCKTNT nói riêng. Sự phát triển của khoa học và năng suất lao động, hiệu quả sản
xuất và thay đổi cả phương thức lao động, tạo khả năng đổi mới những nguyên tắc và công
nghệ sản xuất trong các ngành kinh tế. Trong nông nghiệp, nông thôn, khoa học kỹ thuật đã có
những tác động mạnh mẽ về cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, cách mạng về sinh học. Từ
đó hàng loạt giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao và hiệu quả kinh tế lớn đợc đưa vào sản
xuất. Nhu cầu của xã hội về nông sản, trước hết là lương thực đã đáp ứng. Nhờ đó nông nghiệp
có thể rút bớt chuyển sang sản xuất các ngành trồng trọt với giá trị sử dụng và giá trị kinh tế
cao như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và cây sinh vật cảnh. Sự phát triển của
khoa học - công nghệ đã tạo những điều kiện tiền đề cho sự chuyển dịch CCKT, trong đó có
CCKTNT.
1.2.3.2. Phân công kinh tế theo chuyên môn hóa
Đây là đòn bẩy tăng năng suất lao động, thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ.
CCKTNT là hệ quả trực tiếp của sự phân công lao động xã hội trong nông thôn, nhiều ngành
nghề hình thành, tính chất chuyên môn hoá càng cao, xoá dần tư tưởng tự cấp tự túc, tiến lên
sản xuất hàng hoá. Từ đó, người nông dân phải suy nghĩ, nghiên cứu từng loại giống cây trồng
vật nuôi, kỹ thuật canh tác, lợi dụng các điều kiện thuận lợi và nó tránh sự khắc nghiệt, bất lợi
của tự nhiên.
1.2.3.3. Cơ chế thị trường
14
Tác động của cơ chế thị trường và sự mở rộng thị trường CCKTNT hình thành và biến
đổi gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Lượng dân cư lớn ở
nông thôn đã tạo ra thị trường sôi động với các hàng hoá có giá trị kinh tế cao. Thu nhập của
nhân dân tăng lên tạo sức mua lớn thì thị trường nông thôn là cơ sở để các khu vực công
nghiệp và dịch vụ tiếp tục phát triển và hướng vào xu thế hiện đại hoá ngành nông nghiệp. Sản
xuất hàng hoá phát triển kéo theo sự phát triển của cơ sở hạ tầng, trong đó phải kể đến là hệ
thống giao thông, thông tin liên lạc và điện. Sự phát triển của thị trường tạo điều kiện tiêu thụ
nông sản phẩm với tốc độ nhanh, khuyến khích phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến
nông sản, , khuyến khích nông dân sản xuất các loại sản phẩm phù hợp.
1.2.3.4. Nhà nước trong việc tạo việc làm
theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và quy định của pháp luật.
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài
khoản riêng;
Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch
dài hạn, năm năm và hàng năm; đề án, chương trình trong lĩnh vực lao động, người có công và
xã hội; cải cách hành chính, xã hội hóa thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước được giao.
Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện dự thảo các văn bản về lĩnh vực lao động,
người có công và xã hội thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án chương
trình về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trên địa bàn huyện sau khi được phê duyệt;
thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực lao động, người có công và xã
hội được giao.
Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý Nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh
tế tư nhân; hướng dẫn, hướng dẫn kiểm tra hoạt động của các hội và tổ chức phi Chính phủ
hoạt động trên địa bàn thuộc lĩnh vực lao động, người có công xã hội theo quy định của pháp
luật.
16
Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật đối với các cơ sở bảo trợ
xã hội, dạy nghề, giới thiệu việc làm, cơ sở giáo dục lao động xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em trên
địa bàn huyện theo phân cấp, ủy quyền.
Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quản lý nghĩa trang liệt sỹ, đài tưởng niệm, các công
trình ghi công liệt sỹ.
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội.
Phối hợp với cá ngành, đoàn thể xây dựng phong trào toàn dân chăm sóc, giúp đỡ người
có công và các đối tượng chính sách xã hội.
Tổ chức kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách về lao động, người có công và xã
hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, chống lãng phí trong hoạt
động, người có công và xã hội theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban nhân dân
cấp huyện.
nghèo.
Biên chế hành chính của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội do Uỷ ban nhân dân
cấp huyện quyết định trong tổng biên chế hành chính của huyện được Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh giao.
SƠ ĐỒ CÁN BỘ CÔNG CHỨC
PHÒNG LAO ĐỘNG – TB&XH HUYỆN KHÁNH VĨNH
18
Trưởng phòng
Lê Bình
2.1.1.3. Đội ngũ cán bộ, công chức và người lao động tại Phòng Lao động – TB&XH
Tính đến thời điểm 01/8/2010 toàn bộ Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội có tất
cả có 11 cán bộ công chức và người lao động.
Phó Trưởng phòng
Văn Tấn Việt
Cán bộ
Hàng Bảo Long
Cán bộ
Nguyễn Thị Thu
Cán bộ
Bùi T. Minh Hiển
Cán bộ
Văn Kỳ nam
19
Kế toán
Phạm Thị Bình
Mẹ, dì
Đinh Thị Tưởng
Mẹ, dì
Nguyễn Thị Thiện
Bảo vệ
chí
2,67 6 năm
07 Văn Kỳ Nam 1985 Cán bộ
Trung cấp
Tin học
1,86 3 năm
08 Phan Viết Châu 1950 Giám đốc 12/12 2,06 8 năm
09 Đinh Thị Tưởng 1964 Mẹ dì 9/12 1,86 5 năm
10 Nguyễn Thị Thiện 1960 Mẹ dì 9/12 1,86 6 năm
11 NguyễnViết Cảnh 1966 Bảo vệ 9/12 1,86 3 năm
Trưởng phòng: Lê Bình chỉ đạo chung và phụ trách mảng tệ nạn xã hội, Nhà tình
thương.
Phó trưởng phòng: Văn Tấn Việt chỉ đạo công tác chuyên môn mảng Chính sách, người
có công, Xoá đói giảm nghèo, dạy nghề.
Phạm Thị Bình: phụ trách công tác Kế toán
20
Hàng Bảo Long: phụ trách công tác Dạy nghề
Nguyễn Thị Thu: phụ trách công tác Xoá đói giảm nghèo, tệ nạn xã hội
Bùi Thị Minh Hiển: phụ trách công tác Bảo vệ chăm sóc trẻ em, Bảo trợ xã hội, thi đua
khen thưởng, thủ quỹ.
Văn Kỳ Nam: phụ trách công tác Văn thư, báo cáo, tổng hợp
Phan Viết Châu: Giám đốc Nhà tình thương chỉ đạo chung
Đinh Thị Tưởng: Mẹ, dì nấu ăn, chăm sóc các cháu
Nguyễn Thị Thiện: Mẹ, dì nấu ăn, chăm sóc các cháu
Nguyễn Văn Cảnh: Bảo vệ Nhà tình thương
Giới: Nam 06; nữ 05
Tuổi đời: Từ 27 đến 57
Tuổi nghề: Từ 3 năm trở lên đến 20 năm
Trình độ chuyên môn: 02 đại học; 03 trung cấp ; 02 Cao đẳng
Nhận xét
+ Tủ hồ sơ 07 cái.
+ 07 bàn làm việc.
Như vậy, với số liệu và trang thiết bị, điều kiện nêu cụ thể trên cũng đã tạo điều thuận
lợi cho đội ngũ Cán bộ, Công chức, người lao động tại Phòng LĐ – TB&XH làm việc và phục
vụ công tác tốt.
2.1.1.5. Các chính sách chế độ đãi ngộ CB CC, người lao động ở Phòng LĐ – TB&XH
huyện Khánh Vĩnh
Thực hiện chế độ nghỉ sinh, nghỉ bệnh, nghỉ dưỡng….Theo đúng quy định về chế độ
bảo hiểm xã hội và Bộ Luật lao động quy định.
Thực hiện đúng chế độ nghỉ phép hàng năm cho CB CC, người lao động của Phòng.
Phòng tạo mọi điều kiện cho CB CC, người lao động đi học các lớp nhằm nâng cao
trình độ nghiệp vụ, chuyên môn cũng như các lớp ngoại ngữ, tin học để phục vụ công tác tốt
hơn.
Thực hiện tốt chế độ bảo vệ tài sản của công.
CBCC và người lao động được trả lương và các chế độ khác theo quy định của Nhà
nước.
22
Ngoài lương CBCC còn được trả phụ cấp làm việc ngoài giờ.
Ưu tiên và tạo điều kiện cho con em CB,CC vào làm việc trong ngành nếu được đào tạo
phù hợp với ngành Lao động – TB&XH.
2.1.1.6. Các cơ quan đơn vị tài trợ, trong quá trình thực hiện An sinh xã hội và Công tác
xã hội
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội là một cơ quan trực thuộc của Nhà nước
được cấp trên giao chỉ tiêu và phân bổ ngân sách theo từng năm nên không có cơ quan đơn vị
nào tài trợ.
2.1.1.7. Những thuận lợi và khó khăn
a. Thuận lợi
Phòng Lao động - TBXH có con dấu và sử dụng tài khoản riêng nên thường chủ
động rút các khoản tiền ở kho bạc Nhà nước về để chi trả cho các đối tượng đúng thời
gia quy định.
+ Phía nam giáp huyện Khánh sơn, tỉnh Khánh Hòa.
+ Phía tây giáp tỉnh Đăklăk và tỉnh Lâm Đồng.
Khánh Vĩnh huyện có địa hình hiểm trở nên đã trở thành căn cứ địa quan trọng trong
thời kỳ kháng chiến chông Pháp và Mỹ. Là căn cứ địa cách mạng của dân quân Khánh Hòa với
các địa danh hào hùng như sân bay dã chiến Hòn Xã, Hòn Nhạn, Son Mít, Hòn Dù, buôn Gia
Lê, Hòn Bà và căn cứ lịch sử Hòn Dữ. Ngày nay, tuy hệ thống giao thông chưa thật sự thuận
tiện cho việc giao thương với các vùng lân cận, song huyện giữ một vai trò khá quan trọng đó
là cửa ngõ giao thương với các tỉnh như Đắklăk, Lâm Đồng.
Huyện Khánh Vĩnh có địa hình đa dạng và phức tạp, đặc thù của vùng chuyển tiếp giữa
trung du và miền núi, với ¾ diện tích đất tự nhiên là rừng núi. Địa hình này đã tạo cho núi
sông của Khánh Vĩnh rất hùng vĩ với các kỳ quan thiên nhiên phát triển du lịch sinh thái, khai
thác thủy điện.
b. Khí hậu và thủy văn
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa tập trụng từ
tháng 9 dến tháng 12 hàng năm, mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8 hàng năm. Nhiệt độ trung
bình trong năm từ 25
o
C, nhiệt độ cao nhất là 35
o
C, nhiệt độ thấp nhất là 22
o
C. Độ ẩm trung
bình hàng năm là 80%. Lượng mưa hàng năm 1.600 mm – 2.000 mm.
24
Khánh Vĩnh là một trong hai huyện miền nũi của tỉnh Khánh Hòa có một mạng lưới
thủy văn đa dạng, hệ thống sông ngòi dày đặc và phân bố không đồng đều trên địa bàn, với 1
con sông lớn là sông Cái chảy từ địa phận 6 xã của huyện. Hệ thống sông ngòi có mức chảy ổn
định nhưng mùa mưa, nước tại các con sông suối dâng cao đã tạo không ít khó khăn cho các
hoạt động kinh tế của huyện, hệ thống công trình cầu cống chưa đảm bảo nên vẫn xảy ra hiện
trạng các vùng bị chia cắt trong mùa mưa hàng năm.
7992,13
1186,00
-
25