Một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại thị xã sông công tỉnh thái nguyên - Pdf 13



i
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined.
Mục lục i
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3. Đối tượng nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 3
4.1. Phạm vi về không gian 3
4.2. Phạm vi về thời gian 3
4.3. Phạm vi về nội dung 3
Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở lý luận về việc làm, lao động và khu công nghiệp 4
1.1.1. Cơ sở lý luận về việc làm 4
1.1.1.1. Một số khái niệm về việc làm 4
1.1.1.2. Khái niệm về thất nghiệp 5
1.1.2. Cơ sở lý luận về lao động 8
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm lao động nông thôn 8
1.1.2.2. Đặc điểm của thị trường lao động nông thôn 10
1.1.2.3. Vai trò của việc giải quyết việc làm cho người lao động 13
1.2. Cơ sở thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 14
1.2.1. Kinh nghiệm giải quyết việc làm của một số nước trên thế giới 14
1.2.1.1. Trung Quốc 14


2.1.2.4. Tình hình phát triển kinh tế của thị xã 41 iii
2.1.3. Nhận xét chung 43
2.1.3.1. Những thuận lợi và cơ hội để phát triển 43
2.1.3.2. Những khó khăn, cơ hội, thách thức 44
2.2. Thực trạng về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa
bàn khu công nghiệp Sông Công tỉnh Thái Nguyên 45
2.2.1. Thực trạng sử dụng lao động trên địa bàn thị xã 45
2.2.1.1. Tình hình sử dụng lao động trên địa bàn thị xã 45
2.2.2. Tình hình giải quyết việc làm trong các ngành kinh tế 55
2.2.2.1. Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn qua hoạt động
đào tạo nghề và xuất khẩu lao động 59
2.2.2.2. Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn qua chương
trình quốc gia về giải quyết việc làm 60
2.2.2.3. Các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng tạo việc làm cho
lao động nông thôn 61
2.3. Đánh giá kết quả sử dụng lao động, giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng 62
2.3.1. Đánh giá kết quả sử dụng lao động và giải quyết việc làm 62
2.3.1.1. Đánh giá kết quả sử dụng lao động nông thôn ở các hộ
điều tra 62
2.3.1.2. Đánh giá kết quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 63
2.3.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sử dụng lao động
và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 64
2.3.2.1. Quy mô sản xuất của ngành nông nghiệp 64
2.3.2.2. Quy mô sản xuất ngành nghề thương mại - dịch vụ ở thị xã 69
2.3.2.3. Quy mô sản xuất ngành công nghiệp, xây dựng tại thị xã 70
2.3.2.4. Sự phát triển của các doanh nghiệp trên điạ bàn thị xã 70

1. Kết luận 93
2. Kiến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ
CN : Công nghiệp
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá
CNXD : Công nghiệp xây dựng
DV : Dịch vụ
ĐKKD : Đăng ký kinh doanh
HTX : Hợp tác xã
HĐND : Hội đồng nhân dân
KCN : Khu công nghiệp
KH&CN : Khoa học và công nghệ
LĐTB&XH : Lao động thương binh và xã hội
NN : Nông nghiệp
PTCS : Phổ thông cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TMVD : Thương mại dịch vụ
TP : Thành phố
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
TW : Trung ương
UBND : Ủy ban nhân dân
XD : Xây dựng
SX : Sản xuất


Bảng 2.15: Quy mô và sản phẩm chủ yếu của ngành chăn nuôi 68
Bảng 2.16: Hoạt động thương mại nhà hàng khách sạn và dịch vụ 69
Bảng 2.17: Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp trong thị xã 71
Bảng 2.18: Tình hình lao động trong các hộ điều tra 76 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự gia tăng dân số như hiện nay, lao động và việc làm trở thành
vấn đề bức xúc không của riêng quốc gia nào.
Việt Nam có khoảng 80% dân số và gần 70% lao động sống và làm việc
ở nông thôn. Trên địa bàn nông thôn cả nước có khoảng 7 - 8 triệu lao động
dư thừa, không có việc làm thường xuyên, trong đó trên 50% có việc làm từ 3
- 4 tháng/năm. Hàng năm nguồn lao động của cả nước vẫn tăng từ 3,4 - 3,7%,
trong đó nguồn lao động nông thôn có xu hướng tăng nhanh. Song song với
sự tăng lên của lao động nông thôn, quỹ đất nông nghiệp có xu hướng giảm
do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nên bình quân diện tích đất nông
nghiệp trên đầu người ngày càng giảm. Đất chật người động, lao động thừa,
việc làm thiếu là tất yếu. Thực trạng này đang là một trong những lực cản
chính đối với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, nâng cao dân
trí là nguyên nhân sâu xa phát sinh các vấn đề tiêu cực và tệ nạn xã hội. Có
thể nói, lao động và việc làm có quan hệ đa dạng, đa phương với mọi mặt
trong cộng đồng dân cư và trong toàn xã hội.
Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng chuyển
dần lao động nông nghiệp sang ngành nghề dịch vụ và phi nông nghiệp đã có
từ lâu nhưng do nhiều nguyên nhân nên quá trình chuyển dịch lao động nông
thôn sang ngành nghề phi nông nghiệp diễn ra còn rất chậm và không rõ nét.
Vì vậy, nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động và giải quyết việc làm
ở nông thôn để tìm ra những phương hướng và giải pháp hữu hiện sử dụng

2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm
cho lao động nông thôn trong quá trình phát triển khu công nghiệp.
- Thực trạng về việc làm của lao động nông thôn trong quá trình phát
triển khu công nghiệp tại thị xã Sông Công.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn trên địa bàn thị xã Sông Công trong điều kiện đô thị hóa và phát triển
khu công nghiệp. 3
3. Đối tƣợng nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng lao
động nông thôn và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại khu công
nghiệp Sông Công.
- Đối tượng trực tiếp của nghiên cứu là nguồn lao động nông thôn, sự
phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế ở nông thôn và các đơn vị tổ chức kinh
tế có tác động đến giải quyết việc làm ở nông thôn tại thị xã Sông Công.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phạm vi về thời gian
Để phục vụ nghiên cứu đề tài, tác giả tiến hành thu thập số liệu từ năm
2005 đến năm 2009 và số liệu điều tra năm 2008-2010.
4.3. Phạm vi về nội dung
Xung quanh vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn còn
nhiều vấn đề cần tiếp cận nghiên cứu. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian
và cả trình độ nên tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu tác động của quá trình
phát triển khu công nghiệp đến việc làm của lao động nông thôn, thực trạng
sử dụng lao động từ đó đưa ra các giải pháp giải quyết việc làm cho lao

trong cùng một hộ gia đình.
Việc làm bao gồm ba dạng: Thứ nhất là việc làm nhằm nhận tiền công,
tiền lương dưới dạng tiền hoặc hiện vật, thứ hai là những công việc nhằm thu
lại lợi nhuận, thứ ba là những công việc cho hộ gia đình nhưng không được
trả công.
Tuy nhiên việc làm là vấn đề rộng, đa dạng và phong phú người ta có thể
căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau và kết hợp giữa các tiêu thức để tính
hiệu quả toàn diện về xã hội, kinh tế để đánh giá phân loại chính xác việc làm,
như việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý, việc làm tự do. 5
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và
nhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tùy
theo cách tiếp cận mà người ta có những quan niệm khác nhau về việc làm.
Theo qua điểm của Robeet J. Gordan thì “Ai có công ăn việc làm đều là
những người hữu nghiệp, ai không có công ăn việc làm đều là những người
thất nghiệp, ai không đáp ứng được thị trường lao động đều không nằm trong
lực lượng lao động” [4].
Trong từ điển kinh tế khoa học xã hội xuất bản tại Paris năm 1996 khái
niệm về việc làm được nêu ra như sau: “Việc làm là công việc mà người lao
động tiến hành nhằm có thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật” [6].
Ở Việt Nam, trong Bộ luật Lao động được Quốc hội khóa IX thông qua
ngày 23/6/1994 đã khẳng định “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
1.1.1.2. Khái niệm về thất nghiệp
Không có việc làm - thất nghiệp đang trở thành vấn đề nóng bỏng gây
sức ép kinh tế xã hội cho mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Trong quá trình
chuyển đổi sang nề kinh tế thị trường đặc biệt là đang trong quá trình CNH-
HĐH nền kinh tế đất nước, thì nền công nghiệp phát triển càng cao, khoa học

thị trường lao động. Quy mô thất nghiệp gắn với khoảng thời gian thất nghiệp
trung bình, khoảng thời gian thất nghiệp trung bình là độ dài bình quân thời
gian thất nghiệp của toàn bộ số người thất nghiệp trong cùng một thời kỳ. Nếu
khoảng thời gian thất nghiệp càng rút ngắn thì cường độ của dòng vận chuyển
thất nghiệp tăng lên, thị trường lao động biến động mạnh, việc tìm kiếm sắp
xếp việc trở lên khó khăn.
Khi nghiên cứu thất nghiệp chúng ta phải tìm hiểu nguồn gốc của thất
nghiệp, thực trạng thất nghiệp, từ đó tìm ra hướng giải quyết, có thể chia thất
nghiệp ra làm 4 loại:
- Thất nghiệp tạm thời: xảy ra khi có một số người lao động đang trong
thời kỳ tìm kiếm việc làm hoặc nơi làm việc tốt hơn. 7
- Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các loại
lao động, giữa các ngành nghề trong khu vực.
- Thất nghiệp do thiếu cầu: xảy ra khi các mức cầu chung về lao động
giảm xuống, nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu.
- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường là loại thất nghiệp theo lý thuyết
cổ điển. Nó sảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các thị trường và
cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động.
Tóm lại: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ
phận riêng biệt của thị trường lao động, thất nghiệp thiếu cầu xảy ra khi nền
kinh tế đi xuống, toàn bộ thị trường lao động bị mất cân bằng (đường cầu lao
động dịch chuyển sang trái) còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển xảy ra do
yếu tố chính trị - xã hội [6].
Khái niệm thất nghiệp tự nhiên là thất nghiệp dựa trên cơ sở xem xét sự
cân bằng của thị trường lao động. Nó gồm hai loại, thất nghiệp tự nguyện và
thất nghiệp không tự nguyện.
- Thất nghiệp tự nguyện: là những lao động không quan tâm đến một số

nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động.
Nguồn lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế
tham gia lao động (đang có việc làm) và những người không có việc làm
nhưng đang tích cực tìm việc làm.
Nói đến nguồn lao động, đặc biệt là nguồn lao động trong nông nghiệp thông
thường xét đến hai khía cạnh đó là số lượng lao động và chất lượng lao động.
* Số lượng lao động:
Bộ luật Lao động năm 1994 có ghi: Số lượng lao động là toàn bộ những
người nằm trong độ tuổi quy định (nam từ 15-60 tuổi, nữ từ 15-55 tuổi) có
khả năng tham gia lao động [2]. Tuy nhiên, do đặc điểm của sản xuất nông 9
nghiệp, số lượng lao động không hoàn toàn phụ thuộc và độ tuổi quy định
nhưng có khả năng lao động, những người trên và dưới độ tuổi quy định
nhưng có khả năng lao động thi vẫn được coi như một bộ phận của người lao
động. Việc tăng số lượng người lao động trực tiếp sản xuất có tầm quan trọng
đặc biệt trong việc tạo ra sản phẩm [3].
Số lượng những người lao động phải gắn liền với số ngày công lao động,
nhất là số ngày và số giờ lao động thực tế, số giờ làm việc hữu ích của người
lao động.
* Chất lượng lao động
Chất lượng lao động chính là sức lao động của bản thân người lao động,
chất lượng sức lao động thể hiện ở sức khỏe, trình độ làng nghề, trình độ văn
hóa, nhận thức hiểu biết khoa học kỹ thuật và trình độ kinh tế tổ chức [7].
Số lượng và chất lượng nguồn lao động luôn biến đổi, yếu tố này làm
thay đổi nguồn lao động gồm: Sự tăng giảm tự nhiên của dân số, hàng năm có
một số người đến tuổi lao động tham gia lao động, một số khác hết tuổi lao
động rút khỏi lao động nông nghiệp; Do lao động nông nghiệp chuyển sang
các ngành kinh tế quốc dân khác, chủ yếu là sang ngành công nghiệp.

các ngành khác. Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ
thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu bằng kinh nghiệm, tổ chức lao động
cũng rất giản đơn, với công cụ thủ công lạc hậu. Lực lượng lao động lành
nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bổ không đều, vì vậy hiệu suất
lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật và công nghệ mới [4].
1.1.2.2. Đặc điểm của thị trường lao động nông thôn
a. Sự hình thành thị trường và cung lao động nông thôn
Trong thực tế, thị trường lao động nông thôn đã có từ rất lâu nhưng kém
phát triển. Hình thức trao đổi sức lao động diễn ra tự phát theo quan hệ truyền
thống trong cộng đồng và thiếu một cơ chế điều tiết thống nhất, không được
phát chế hóa. Vì vậy, giá trị công lao động thường được đánh giá theo thỏa 11
thuận dân sự, trực tiếp, việc thanh toán kết hợp cả giá trị và hiện vật. Quan hệ
thuê mướn dựa trên mối quan hệ thân quen là chủ yếu, vừa kết hợp làm thuê
chuyên nghiệp, vừa theo thời vụ. Lao động thuê công, cơ bắp là chính. Một số
nơi do chưa phát triển được ngành nghề dẫn đến dư thừa lao động, nhất là vào
thời vụ nông nhàn, người lao động phải đi làm thuê ở vùng khác, xã khác
hoặc ra đô thị tìm kiếm việc làm. Do đó, thị trường lao động trong nông thôn
có tính tự phát cao.
Trong tương lai, khi sản xuất càng phát triển, sự phân công lao động và
chuyên môn hóa, hợp tác hóa càng cao thì vai trò của thị trường la động ở
nông thôn càng được khẳng định rõ rệt. Thị trường lao động phát triển sẽ tạo
điều kiện cho người lao động ở nông thôn có thể tiếp cận với nhu cầu thuê lao
động, thúc đẩy lao động nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật, do đó, cơ hội
việc làm và thu nhập cao họ sẽ cao hơn. Nói theo ngôn ngữ kinh tế: thị trường
lao động ở nông thôn sẽ giúp cho cầu lao động (việc làm) gặp được cung lao
động (lao động) điều này không chỉ giải quyết được vấn đề việc làm cho lao
động mà còn góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội

lao động cũng chịu sự tác động của hệ thống quy luật kinh tế như quy luật giá
trị, giá cả, cạnh tranh, độc quyền. Các luật này tác động và chi phối mối quan
hệ cung lao động và cầu lao động của thị trường.
Lao động nông thôn (lao động phổ thông) thường đối mặt với thị trường
có nhiều người mua và nhiều người bán nên thị trường lao động nông thôn có
biểu hiện của thị trường cạnh tranh.
Do trình độ lao động ở nông thôn còn thấp và tính chất mùa vụ của sản
xuất thị trường lao động nông thôn mang tính tự phát cao và không chịu sự
điều tiết của các quan hệ pháp lý. Điều này hoàn toàn phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế ở nông thôn trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên đây cũng là
một khó khăn gây nên khó khăn cho công tác quản lý lao động nông thôn và
vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân. 13
1.1.2.3. Vai trò của việc giải quyết việc làm cho người lao động
Giải quyết việc làm cho lao động có ý nghĩa rất quan trọng đến phát triển
và ổn định nền kinh tế. Đối với các nước đang phát triển thì yêu cầu về giải
quyết việc làm cho người lao động là rất cần thiết. Sự phát triển của nền kinh
tế phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực và nguồn vốn trong đó sử dụng
hợp lý nguồn lao động quyết định rất lớn đến ổn định kinh tế chính trị - xã hội
của một đất nước.
Việc khai thác sử dụng hợp lý nguồn lao động là một trong những điều
kiện cần để phát triển đất nước. Nguồn nhân lực là một nguồn quan trọng, là
yếu tố cơ bản để phát triển. Mọi chủ trương, chính sách vĩ mô nếu có sai
phạm người lao động rất có thể trở thành một gánh nặng, thậm chí có thể gây
trở ngại, tổn thất cho nền kinh tế. Nếu chúng ta sử dụng hợp lý nguồn lao
động sẽ làm cho người lao động có thu nhập tăng lên. Làm cho sức mua tăng
lên từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trong tổng thể nền kinh tế khi sản
lượng ngày càng tăng sẽ thúc đẩy tốc độ và quy mô của nền kinh tế phát triển.

tổng giá trị sản lượng 1.162 tỷ NDT chiếm ¼ GDP của cả nước. Nhờ phát
triển công nghiệp nông thôn mà tỷ trọng lao động nông nghiệp đã giảm từ
70% năm 1990 mỗi năm các xí nghiệp Hưng Trấn của Trung Quốc thu hút
khoảng 12 triệu lao động dư thừa từ nông nghiệp. Từ thực tiễn phát triển công
nghiệp nông thôn, giải quyết việc làm ở nông thôn Trung Quốc có thể rút ra
bài học kinh nghiệm:
Trung Quốc đã thự hiện chính sách đa dạng hóa và chuyên môn hóa sản
xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, khuyến khích nông
dân đầu tư dài hạn phát triển sản xuất nông nghiệp và mở mang các hoạt động
phi nông nghiệp. Đây là nhân tố qua trọng nhất tạo nên tốc độ tăng trưởng
kinh tế thu hút lao động và các hoạt động phi nông nghiệp khác ở nông thôn. 15
Nhà nước tăng thu mua nông sản một cách hợp lý giảm giá giữa hàng
nông nghiệp và hàng công nghiệp, khuyến khích phát triển sản xuất, đa dạng
hóa theo hướng sản xuất những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phù hợp với
yêu cầu thị trường, điều đó tác động đến thu nhập trong khu vực nông thôn.
Tạo một môi trường thuận lợi để công nghiệp phát triển vào giai đoạn
đầu của quá trình CNH-HĐH nông thôn, nhà nước thực hiện bảo hộ sản xuất
hàng hóa trong nước, hạn chế ưu đãi đối với các doanh nghiệp công nhà nước,
qua đó tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp nông thôn.
Thiết lập một hệ thống cung cấp tài chính có hiệu quả cho doanh nghiệp
nông thôn, giảm chi phí giao dịch để huy động vốn cho doanh nghiệp nông
thôn. Duy trì và mở rộng mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp nông thôn
Như vậy, Trung Quốc đã thành công trong giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn, bằng việc mở hàng loạt các xí nghiệp Hưng Trấn sử dụng
lao động nông thôn, đồng thời kết hợp với các chính sách vĩ mô của nhà
nước. Đây là một trong những kinh nghiệm quý báu có thể áp dụng được ở

động nông thôn từ 78 nghìn người năm 1930 lên 248 nghìn lao động năm
1966. Vào đầu những năm 1950, do đất đai bị hạn chế cộng với số lượng lớn
dân cư chảy từ Trung Quốc sang dẫn đến nguy cơ thất nghiệp lớn ở nông
thôn, nhưng nhờ công nghiệp nông thôn phi tập trung phát triển mà từ những
năm nền kinh tế có thể duy trì ở mức gần như toàn dụng lao động. Lao động
nông nghiệp từ 40% những năm 1950 đã trút xuống còn 16,2% vào năm 1989
và chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp. Việc tăng trưởng công nghiệp tập
trung đã làm giảm nhẹ sức ép đối với đất nông nghiệp mà không cần phải
chuyển gánh nặng đó cho khu vực thành thị. Nông thôn đã có thể đi về hàng
ngày đến các nhà máy đặt ở các vùng lân cận. Từ thực tế đó Đài Loan có thể
rút ra một số bài học về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá
trình CNH-HĐH. 17
Nông nghiệp được ưu tiên phát triển làm cơ sở để phát triển công nghiệp
nông thôn mà trước hết là công nghiệp chế biến nông sản. Lao động dư thừa
trong nông nghiệp được chuyển sang các ngành nghề công nghiệp nhẹ nông
thôn. Năm 1953 chính quyền Đài Loan đã đưa ra nội dung hỗ trợ như:
- Bãi bỏ việc đổi lúa lấy phân bón.
- Bãi bỏ các khoản phụ đối với ruộng đất.
- Giảm lãi suất tín dụng nông nghiệp.
- Nâng cấp giao thông nông thôn.
- Cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn.
- Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật cho nông nghiệp.
- Khuyến khích lập khu công nghiệp chuyên ngành.
- Tăng cường cho công tác nghiên cứu, thí nghiệm phục vụ sản xuất.
Chú trọng phát triển doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ và vừa, lấy
công nghệ sử dụng nhiều lao động là chính. Năm 1971 quy mô trung bình một
doanh nghiệp là dưới 15 lao động.

chế. Tình trạng thiếu việc làm hay còn gọi là thất nghiệp bộ phận, bán thất
nghiệp là đặc trưng của lao động nông thôn. Khu vực nông thôn chiếm 76%
lực lượng lao động cả nước, trong đó 30% lao động thiếu việc làm, phổ biến
là thiếu mang tính thời vụ. Thiếu việc làm chủ yếu thể hiện ở thời gian sử
dụng lao động của hộ gia đình nông dân khá thấp. Phần lớn lao động nông
thôn mới chỉ sử dụng hết khoảng 81,87% thời gian lao động trong năm. Đặc
biệt vùng Tây Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, nông dân sử dụng thời gian lao động
ít hơn hẳn so với các vùng khác. Sử dụng thời gian nhiều nhất là vùng Đông
Nam Bộ, thời gian sử dụng lên đến trên 84%. Thiếu đất canh tác ở mức độ
nào đó, đồng nghĩa với thiếu việc làm của lao động nông thôn, đặc biệt là lao
động nông nghiệp.

19
Bảng 1.1: Thời gian làm việc của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông
thôn theo vùng
(ĐVT: %)
STT
Chỉ tiêu
Năm 2008
Năm 2009
Năn 2010

- Cả nước
80,85
81,47
81,87


Tây Nguyên
82,7
83,12
83,54
7
Đông Nam Bộ
83,46
84,26
84,89
8
Đồng bằng Sông Cửu Long
81,7
82,24
82,49
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Đến năm 2008, khu vực nông thôn vẫn còn khoảng trên 8,2 triệu lao
động thường xuyên thiếu việc làm, chiếm khoảng 28,19% tổng số lao động
hoạt động kinh tế nông thôn. Số lao động nữ thiếu việc làm chiếm khoảng
26,3% lao động nữ nông thôn. Vùng có tỷ lệ thiếu việc làm cao thuộc đồng
bằng Sông Hồng và trung du Bắc bộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status